Ấn bản điện tử liên quan
Quay lạiPháp tu, trạng thái và kết quả
Phật pháp không có gì khó, chỉ có nhiếp phục tâm, an trú tâm và xả tâm, ly dục ly ác pháp. Cứ như thế tu tập mãi, càng tu tập thì năng lực càng xuất hiện dồi dào, năng lực càng xuất hiện thì tâm định tỉnh, tâm định tỉnh càng dài thì tâm nhu nhuyễn, tâm nhu nhuyễn thì tâm dễ sử dụng. Khi tâm định tỉnh, nhu nhuyễn, dễ sử dụng thì con đã ly dục ly ác pháp xong.
Tu hành theo Phật giáo phải có một nghị lực dũng mãnh, phải có một tri kiến hiểu biết các pháp thế gian là vô thường, là khổ đau, không có pháp nào là ta, là của ta, là bản ngã của ta, các pháp do nhân quả mà có, do duyên hợp mà thành. Vì thế chúng ta phải bỏ, có gì mà phải tranh chấp hơn thua. Nhờ có quán xét tâm con mới xả được. Nhớ giữ gìn 5 giới, sống đời đạo đức, tha thứ và yêu thương mọi người, thì tâm con mới được thanh thản, an lạc và vô sự.
Vô sự về tâm có nghĩa là tâm không phóng dật, không nghĩ ngợi, suy tư một điều gì. Tâm không làm một việc gì khác có nghĩa là không nghe băng, không đọc kinh sách, không xem tivi, không ngửi mùi thơm, không nếm vị, không xúc chạm và không khởi niệm ác, ấy là tâm thanh thản, cho nên khi đi, đứng, nằm, ngồi đều thanh thản. Thanh thản là một niệm thiện vô lậu, niệm thiện vô lậu là niệm bất động của tâm.
Nếu không áp dụng đạo đức nhân bản – nhân quả vào cuộc sống của loài người thì loài người không còn có sự công bằng và công lý nữa và vì vậy cuộc sống của loài người sẽ khổ đau không cùng tận, thế gian này là địa ngục trần gian. Cho nên, mỗi người phải có tầm nhìn xa hiểu rộng để dẹp bỏ những ảo tưởng của thế giới siêu hình mới mong có ngày trái đất này là Cực Lạc, Thiên Đàng, v.v..
Làm từ thiện tại sao lại gặp họa?
Luật nhân quả rất công bằng, nếu người bố thí vì lòng thương yêu và người nhận của bố thí đều sống hiền lương thì hai bên đều hưởng được phước báu; còn ngược lại người bố thí không vì lòng thương yêu mà vì công việc làm ăn hay vì cầu danh làm từ thiện, và người nhận của bố thí là người làm ác thì người bố thí và người nhận thí đều gặp tai họa. Người bố thí vì lòng thương yêu người lâm nạn, nên đem tiền của bố thí cho người nhận thí, nhưng người nhận thí ăn ở không hiền lành, nên người bố thí không được phước báu mà không có tai nạn xảy ra.
Nếu người đời biết dùng hương giải thoát mà dâng cúng cho người thì đâu có sự tranh danh đoạt lợi, thì đâu có sự tranh giành của cải, tài sản, giết hại lẫn nhau hoặc tranh tụng thưa kiện anh em cùng máu mủ, cùng dòng họ. Nếu người đời biết dùng tâm hương giải thoát dâng lên cúng Phật, cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thì xã hội đâu có nạn trộm cướp, gian tham và thế giới đâu có nạn chiến tranh tàn phá, giết chóc khốc hại.
Lớp Chánh Kiến – Buổi 16: Tri kiến giải thoát (nam)
Đức Phật dạy về tri kiến giải thoát qua năm cây hương: “Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương”, thì Giải thoát tri kiến hương là quan trọng nhất. Giải thoát là sống bình thường, nhưng không sự việc nào tác động được vào tâm của mình là nhờ ý thức triển khai tri kiến thấu suốt các pháp như thật để tâm không còn đau khổ, tức là chánh kiến, chứ không phải ở trong định là giải thoát.
Từ trường vô lậu của Phật đang phủ trùm khắp thế giới mà không tái sinh luân hồi chỗ nào cả, vì không có đối tượng tương ưng, không có đối tượng tương ưng nên chấm dứt tái sinh luân hồi. Vậy nghiệp thiện vô lậu là cái gì? Nghiệp thiện vô lậu là trạng thái tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự, đó là chân lý của Phật giáo, người tu hành đạt đến chỗ này là chứng đạo quả A La Hán.
Nguồn gốc của vũ trụ là 12 nhân duyên, chứ không thể một nhân duyên mà thành nguồn gốc của vũ trụ được. Nếu 12 nhân duyên này không có thì vũ trụ này không có. Vũ trụ này không có thì con người và vạn vật không có. Con người và vạn vật có thì vũ trụ này có. Con người và vạn vật có đều do 12 nhân duyên. Vì thế, gốc vũ trụ là 12 nhân duyên như trên đã xác định.
Sự giải thoát của Đạo Phật rất tự nhiên
Phật pháp là đạo đức nhân bản – nhân quả của loài người nên nó rất tự nhiên trong thiên nhiên như vậy thì các con hãy để tự nhiên mà chỉnh sửa từng tâm niệm ác của các con để nó trở thành từng tâm niệm thiện. Chỉnh sửa không có nghĩa là ức chế, bắt ép tâm của các con phải làm như thế này, phải làm như thế kia, mà các con chỉ cần hiểu nó thiện hay ác, có làm khổ mình, khổ người không? Nếu biết nó là ác pháp làm khổ mình khổ người, thì các con tác ý: “Đây là tâm thiếu đạo đức làm người hãy đi! đi!”. Nghe tác ý như vậy nó liền chấm dứt. Vậy sự tu hành đâu phải khó khăn.
Nghiệp giải thoát và sức tỉnh thức
Chúng ta thấy mình có thân này, thân nọ, thân kia đủ thứ, nhưng chỉ có một luật nhân quả của nó mà thôi. Nghĩa là chúng ta làm ác thì nó sẽ tăng thêm cái khổ; còn làm thiện thì nó giảm xuống, nó làm cho chúng ta hạnh phúc, an vui. Cho nên, chỉ có thiện và ác mà thôi. Muốn thoát ra khỏi nhân quả thì chúng ta phải sống toàn thiện. Sống toàn thiện thì không còn ác nữa, mới gọi là Niết Bàn. Nếu còn một chút xíu ác đi nữa, cũng không thể vào Niết Bàn được.
Kinh sách Thầy viết ra là để chấn chỉnh và loại bỏ những cái sai trong Phật giáo, làm tốt lại tinh thần dân tộc Việt Nam, không còn lạc hậu, mê tín, xây dựng lại nền đạo đức nhân bản – nhân quả làm người. Vì thế, nó là kinh sách quốc gia chứ không phải của riêng Thầy nữa. Vì bộ sách lợi ích thiết thực cho dân tộc và mọi người trên hành tinh, nên cần phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng của các anh, chị, em lãnh đạo đất nước.