Nghiệp giải thoát và sức tỉnh thức
NỘI DUNG MÔ TẢ
Chúng ta thấy mình có thân này, thân nọ, thân kia đủ thứ, nhưng chỉ có một luật nhân quả của nó mà thôi. Nghĩa là chúng ta làm ác thì nó sẽ tăng thêm cái khổ; còn làm thiện thì nó giảm xuống, nó làm cho chúng ta hạnh phúc, an vui. Cho nên, chỉ có thiện và ác mà thôi. Muốn thoát ra khỏi nhân quả thì chúng ta phải sống toàn thiện. Sống toàn thiện thì không còn ác nữa, mới gọi là Niết Bàn. Nếu còn một chút xíu ác đi nữa, cũng không thể vào Niết Bàn được.
Chơn Như, ngày 4 tháng 2 năm 2003
NGHIỆP GIẢI THOÁT VÀ SỨC TỈNH THỨC
HÓA SANH VÀ NGHIỆP KHÔNG THAM, SÂN, SI
…Nếu bị lạnh quá trứng có thể bị ung. Trong ống nghiệm người ta cũng phải giữ nhiệt độ thích hợp thì những gen đó mới phát triển được; chứ không khéo thì nó bị hoại diệt. Đó là cách thức mà bây giờ khoa học đã tiến triển, chứng minh cho chúng ta thấy rõ ràng, cụ thể vấn đề thai sanh và noãn sanh.
Vậy, các con hiểu “hóa sanh” mà Đức Phật nói đến như thế nào?
Hóa sanh không có nghĩa là như con sâu biến thành con bướm. Ở đây, hóa sanh là do một người có đầy đủ năng lực, gọi là Bảy Giác Chi – bảy trạng thái giác ngộ (Bồ đề). Trong đó, Trạch Pháp Giác Chi là năng lực hướng tâm cuối cùng. Khi họ hướng tâm đến điều gì, thì năng lực này có thể làm được điều đó, tức là họ muốn là nó làm được.
Vì vậy, người hóa sanh phải là người có năng lực hướng tâm. Khi muốn hóa sanh, họ hướng tâm vào không gian, nơi có đầy đủ các gen, rồi dùng năng lực tâm để hợp các gen này lại trong môi trường có độ ẩm như trong ống nghiệm, hội đủ các duyên thì nó sanh ra một con người hoàn chỉnh, cũng y như con người của chúng ta.
Tuy nhiên, người có năng lực ấy phải là người toàn thiện, đã ly dục, ly ác pháp một cách hoàn toàn thì mới có thể thực hiện được. Vì vậy, khi chúng ta tu tập ly dục, ly ác pháp thì Bảy Giác Chi sẽ xuất hiện; chứ không phải tu tập Bảy Pháp Giác Chi.
Nhưng đầu tiên là Trạch Pháp Giác Chi, chúng ta nương vào đó mà tác ý, niệm câu đó ra.
Khi chúng ta tu đúng trên Tứ Niệm Xứ, Bảy Giác Chi xuất hiện, thì Tinh Tấn Giác Chi xuất hiện trước, chứ không phải Trạch Pháp Giác Chi. Trạch Pháp Giác Chi là pháp hướng tâm cuối cùng, cái năng lực cuối cùng của nó gọi là Dục Như Ý Túc.
Bởi vì trong Tứ Như Ý Túc có Dục Như Ý Túc, ý chúng ta muốn cái gì thì nó làm cái đó, gọi là Trạch Pháp Giác Chi. Tự nó trạch ra bằng năng lực của nó.
Trong sự hóa sanh, phải có năng lực đó thì con người mới hợp được các gen với các duyên có đầy đủ trong không gian của chúng ta.
Trái lại, các nhà khoa học hiện nay không lấy từ trong không gian các gen này được (họ có thể lấy được, nhưng bây giờ chưa tới giai đoạn đó). Họ lấy tinh trùng của người nam và noãn châu của người nữ đưa vào ống nghiệm hình thành phôi để từ đó tạo thành một con người. Trong quá trình này, họ thiết lập các điều kiện nhiệt độ, môi trường tương tự như trong bào thai, để phôi có thể phát triển.
Đối với việc hóa sanh, người ta giữ nhiệt độ bằng năng lực của tâm, nên nó rất đặc biệt và tuyệt vời, gọi là hóa sanh.
Do đó, từ xưa đến giờ người ta không hiểu Đức Phật nói hóa sanh là như thế nào.
Đây không phải là biến hóa, mà là hợp các gen để trở thành một con người. Con người đó là con người toàn thiện, bởi vì người sanh ra họ là một vị A La Hán, một người vô lậu, tâm đã ly dục, ly ác pháp hoàn toàn, tức là toàn thiện. Cho nên, họ hợp duyên lại với tinh thần toàn thiện thì con người đó sẽ không thể sống với chúng ta được.
Nghĩa là con người hóa sanh ra thì không thể sống với chúng ta được là tại vì con người chúng ta quá ác, đàn áp người ta hoài. Còn người toàn thiện bao giờ họ cũng nhẫn nhịn, lùi bước, không bao giờ chửi mắng lại chúng ta.
Cũng như bây giờ, ví dụ như Thầy tu hành tới mức độ này, các con chửi Thầy, Thầy không giận, phải không? Các con thấy chùa Thầy vậy, rồi lấn chiếm luôn thì Thầy cũng bỏ mà đi, cho nên Thầy bơ vơ sống không được. Và món ăn của Thầy vừa dọn lên, các con nhảy vào lấy mất, thì Thầy cũng nhịn mà không đòi hỏi, không có giành trở lại.
Đó là người toàn thiện, người ta nhẫn nhục, tùy thuận tất cả mọi việc, người ta an vui. Vì vậy, người toàn thiện thì sống với con người chúng ta không được.
Như hồi nãy Thầy có nói, nếu có thế giới của chư Thiên và chư Phật, mà con người chúng ta lên đó thì không sống với họ được, là tại vì chúng ta tham lam quá thì chúng ta sẽ ăn hiếp họ. Cho nên, những người đó cũng không muốn chúng ta lên đâu.
Bởi vì tâm của chúng ta chưa chuẩn bị cho mình những cái tốt thì làm sao mà lên đó được. Chúng ta phải ngăn ác, diệt ác, sanh thiện, tăng trưởng thiện để sống toàn thiện thì dù không muốn, họ cũng rước chúng ta về trên đó.
Đó là đặt vấn đề có cõi giới đó, nhưng sự thật là không có. Ngay trạng thái tâm thanh thản, an lạc, vô sự là Niết Bàn, là trạng thái giải thoát, đó là từ trường thiện. Người không tu thì chúng ta có nghiệp lực thiện ác tái sanh luân hồi, chứ không phải linh hồn; còn người tu thì chúng ta có cái nghiệp không tham, sân, si.
Hằng ngày Thầy tác ý: “Tâm như cục đất, không tham, sân, si”, không ngờ nó trở thành cái nghiệp lực không tham, sân, si. Đến cuối cùng Thầy còn có được cái lực này, bởi vì một người tu chết rồi thì thân ngũ uẩn này không còn một vật gì nữa, mà chỉ còn cái nghiệp, cái lực của câu tác ý: “Tâm không tham, sân, si”.
Tác ý tới mức mà tham, sân, si không còn, thì cái lệnh này là cái lực không tham, sân, si, gọi là nghiệp không tham, sân, si.
Nghiệp tham, sân, si thì luôn luôn tái sanh luân hồi; còn nghiệp không tham, sân, si thì vĩnh viễn chấm dứt tái sanh luân hồi, bởi vì nó không còn tham, sân, si nữa.
Có người hỏi rằng: người tu còn cái gì? Bởi vì người tu thân ngũ uẩn cũng hoại diệt, còn người không tu cũng hoại diệt, vậy tu để làm gì?
Rõ ràng, người không tu thì còn cái nghiệp tham, sân, si đi tái sanh luân hồi; còn người tu thì còn cái nghiệp không tham, sân, si.
Vì vậy, Đức Phật đưa ra ví dụ: một cái cây khi mới mọc lên chỉ có vỏ và giác, chưa có lõi. Nhưng theo thời gian, khi cây lớn lên, dần dần mới hình thành phần lõi bên trong. Con người chúng ta cũng vậy: nếu không tu tập thì giống như cây non, không bao giờ có lõi; nhờ tu tập thì mới có lõi.
Do đó, khi có người hỏi tu tập rồi sẽ trở thành gì, Đức Phật đã ví như một cái cây: khi bỏ đi phần vỏ, phần giác, thì còn lại phần lõi. Nhưng cái lõi đó không phải đã có từ cây mới mọc lên đâu.
Nếu nói rằng con người ai cũng có Phật tánh thì điều này không đúng, vì tâm chúng ta do tham, sân, si mà bất tịnh, ô nhiễm, chứ nó đâu có sẵn thanh tịnh.
Khi một đứa bé mới sanh ra, Khổng Tử cho rằng: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Ông ta nói sai. Tại sao sai? – Tại vì đứa bé sanh ra đã có tham, sân, si nhiều lắm.
Một đứa bé thì ai dạy nó sân, thế mà khi khát sữa thì nó đòi, nó làm dữ lắm, đó có phải là sân không? Chúng ta thấy rõ rằng là nó đâu có thiện, nó đang ở trong ác pháp chứ.
Như vậy, mặc dù Khổng Tử được xem là một vị Thánh, nhưng có cái nói đúng, có cái nói sai, chứ không phải là đúng hết.
Còn Đức Phật đã xác định rất đúng, cái nhân tham, sân, si của chúng ta tái sanh. Cho nên, khi đứa bé vừa sanh ra đã hiện tướng tham, sân, si rồi. Nó khóc thét, rõ ràng là nó đang tức giận, bởi vì nó phải chui qua một cái ngõ quá chật hẹp, nên nó phải tức giận, phải khóc chứ.
Nếu nó không khóc thì người ta phải móc miệng cho nó khóc. Tại sao vậy?
Tại vì nếu không làm cho nó đau thì nó không khóc; còn làm cho nó đau thì nó khóc. Vì vậy, người ta phải tìm mọi cách để làm cho nó sống lại với cái nghiệp của nó, chứ không khéo thì nó phải chết.
Nếu sanh ra một đứa trẻ mà nó không khóc là đứa trẻ này sắp chết. Do vậy mà chúng ta thấy rằng phải tạo cho nó sống lại với nhân quả của nó.
BỐN GIAI ĐOẠN TỈNH THỨC
Lúc nãy, Chơn Giác có hỏi Thầy: “Tại sao người tu theo Đạo Phật khi vào bào thai thì biết, còn người không tu thì không biết?”.
Bởi vì ngay từ chỗ “hành”: “vô minh sanh hành”, “hành sanh thức”. Cái thức này do huân cái nghiệp như thế nào mà ngay đó biết liền?
Trong Đạo Phật có bốn giai đoạn tập tỉnh thức.
˗ Giai đoạn thứ nhất:
Khi còn mang thân này, chúng ta đã tập tỉnh thức. Mỗi hành động chúng ta tập tỉnh thức nó thải ra cái nghiệp. Hàng ngày, chúng ta tập, ví dụ: “Tôi đi, tôi biết tôi đi”, hoặc: “Tôi thở, tôi biết tôi thở ra, thở vào”, thì sức tỉnh thức này sẽ thải ra theo cái nghiệp của chúng ta.
Cho nên, khi còn nghiệp luân hồi, tức là nghiệp tham, sân, si của chúng ta vẫn còn chứ chưa phải hết, nhưng chúng ta có sức tỉnh thức. Cái sức tỉnh thức đó cũng tiếp tục với những từ trường tham, sân, si của chúng ta mà thải ra.
Khi vào bào thai mà vẫn biết là do đứa bé này đã tập tỉnh thức ở một mức độ nào đó rồi. Do sự huân tập tỉnh thức, nên khi từ trường nghiệp của nó vừa tiếp duyên với bào thai của mẹ và hành vô minh của người cha, thì cái sức tỉnh thức biết rõ nó vừa bỏ thân cũ và đang tiếp nhận vào gia đình nào rồi. Nếu mất cái biết ở đây, thì nó sẽ không còn biết nữa.
Khi một người đang nằm trên giường bệnh sắp chết, thì nó sẽ thực hiện qua cái gì để biết? Nó thực hiện qua giấc mộng.
Có người sắp chết nằm mộng, thấy ác mộng, họ sợ hãi, la hét, rồi mới chết, đó là cận tử nghiệp.
Có người sắp chết họ mê muội hoàn toàn, nhưng không ngờ cái mê muội là giấc mộng của họ. Họ thấy như thế nào?
Khi nằm mộng thì cái tưởng hoạt động, họ thấy họ đi vào nhà đó, nằm trong bụng mẹ. Trong khi đó cái thức vẫn còn đang sống trên thân của họ, nhưng khi mà họ nhập vào thai là họ mất cái biết, mất cái biết là họ chết.
Tại vì thông qua cái biết của tưởng trong giấc mộng, họ thấy từ trường của họ đi vào trong nhà này.
Bởi vì họ còn sống thì cái tưởng của họ còn hoạt động. Cho nên, cái tưởng thấy những từ trường nghiệp thải ra khi còn sống như là chính nó.
Khi vào bụng mẹ mà nó không còn biết nữa, là ở bên đây thân cũ đã chết rồi. Đây không phải là có linh hồn vào bụng mẹ, mà do cái thức của người còn sống đang ở trong giấc mộng.
Do tưởng uẩn hoạt động tạo thành giấc mộng, cho nên ở trong giấc mộng nó thấy đi vào gia đình đó, rồi chui vào bụng mẹ, tới đó là nó mất, không còn biết nữa. Vì lúc này nó trở thành bào thai, chuyển qua thức mới, nên không còn biết nữa.
Nghĩa là nó tu có tỉnh thức trong khi còn sống, còn khi nó vào thân khác thì nó không còn biết nữa. Vì lúc này là cái thức mới, chứ không phải là thức cũ nữa. Còn thức cũ là cái tưởng của nó. Cái tưởng hoạt động trong giấc mộng, nó thấy như là nó đi vào bào thai. Các con hiểu chỗ này chưa?
Cái chỗ này cần phải hiểu khéo léo, thiện xảo. Khi một người bệnh sắp chết, thì cái biết thực hiện qua giấc mộng, gọi là cận tử nghiệp.
Trong giấc mộng nó thấy đi vào bụng mẹ, cũng như nó thấy người ta đuổi nó sợ quá, chạy trốn trong đám rừng. Không ngờ rằng nó vào bào thai của con kiến và sanh ra thành một con kiến; còn đám rừng trong giấc mộng chính là đám cỏ, trong đám cỏ có một bầy kiến. Khi cái thân này bỏ, thì nó trở thành bào thai của con kiến.
Thầy trả lời để cho các con biết về giai đoạn tỉnh thức đầu tiên là cái biết khi nhập vào bào thai.
Lúc bấy giờ cái gì biết tôi vào bào thai?
Không phải là cái biết của ý thức, mà là cái biết thực hiện qua giấc mộng do tưởng thức thấy nó đi vào bụng của người đàn bà nào đó.
Đức Phật diễn tả điều này mà hầu hết mọi người không hiểu, chỉ có người nhập định mới thấy được điều này rất rõ.
Cái biết của tưởng thức hoạt động thấy được trong giấc mộng khi người đó sắp sửa chết, chứ chưa chết. Còn khi nó vào bào thai thì người đó chết, người đó chết thì cái tưởng cũng ngưng hoạt động, nó bị hoại diệt luôn. Lúc này nó chuyển qua cái thân khác rồi, do đó nó không còn biết nữa.
˗ Giai đoạn tỉnh thức thứ hai:
Bây giờ người còn sống như chúng ta tu tới giai đoạn tỉnh thức thứ hai.
Ở trong giấc mộng thì nó biết nó vào bào thai, và khi vào bào thai rồi nó vẫn còn biết. Cái biết này là thức mới, chứ không phải là thức cũ, vì thân ngũ uẩn trước đã chết, thì cái biết cũng hoàn toàn biến mất.
Khi ở trong bụng mẹ mà vẫn còn biết, thì đó là cái biết của thức mới, do sức tỉnh thức mà chúng ta tu, nên khi chuyển sang thân mới vẫn còn biết. Còn sức tỉnh thức ở giai đoạn một thì chúng ta chỉ biết khi vào bào thai mà thôi.
Lúc nãy Chơn Giác hỏi, con còn nhớ không? Khi vào bào thai thì mình còn biết, sau khi vào bụng mẹ thì hết biết, vì nó chuyển qua tưởng thức mới trong thai nhi. Tuy cái thức còn nằm đó, nhưng nó không còn biết nữa.
Bởi vì “vô minh sinh hành”, “hành sinh thức”, nên tạo thành cái thức mới này. Nhưng cái thức mới này do công phu chúng ta tu tập tỉnh thức thải ra từ trường trong không gian, nó sanh làm đứa bé, thì cái sức tỉnh thức này chỉ đủ biết lúc nó vào thai mẹ thôi, chứ không hơn được nữa.
Bây giờ chúng ta tu tới giai đoạn tỉnh thức thứ hai, khi vào trong bụng mẹ vẫn còn biết. Cho đến khi sắp sửa sinh ra, do đau đớn quá, nên sức tỉnh thức bị mất, không còn biết nữa.
Cũng như bây giờ chúng ta khỏe mạnh thì còn tỉnh táo, nhưng khi đau đớn quá thì chúng ta mất đi sự tỉnh táo, không còn biết nữa, có đúng không?
Vì vậy, khi đứa bé sắp sửa được sinh ra, thì nó không còn biết, nhưng khi nằm ở trong bụng mẹ thì nó biết rất rõ.
˗ Giai đoạn tỉnh thức thứ ba:
Bây giờ chúng ta tu đến giai đoạn tỉnh thức thứ ba. Lúc bà mẹ sinh ra nó đau đớn lắm, lúc bấy giờ mình cũng biết đau đớn, biết mọi diễn biến rất rõ ràng. Vai và đầu sinh ra mình cũng biết vai và đầu, nhưng khi lọt lòng là quên hết, không còn nhớ hồi đó mình là ai, ở đâu…
˗ Giai đoạn tỉnh thức thứ tư:
Đến giai đoạn tỉnh thức thứ tư, khi sinh ra chúng ta vẫn còn nhớ lại hồi trước mình ở làng nào, xã nào, con của ai, tên gì, ở xứ nào… một cách rõ ràng.
Có nhiều đứa bé sinh ra biết nhà, biết làng, biết xã của nó đời trước, đó là do sức tỉnh thức ở giai đoạn thứ tư.
Trong kinh điển Đức Phật dạy chúng ta có bốn giai đoạn tập tỉnh thức. Vì vậy, có nhiều đứa bé sanh ra đã biết cha mẹ của nó đời trước là ai, ở đâu, điều này thật kỳ lạ, nhưng thực chất là do sức tỉnh thức của nó. Những vị Lạt Ma hầu hết là tu tập sức tỉnh thức này.
Cho nên, có nhiều vị Lạt Ma khi sinh ra vẫn nhớ được đời trước của mình. Các con đã từng nghe hoặc đọc những sách nói về Tây Tạng rồi, những điều này cũng phù hợp với những gì giáo lý Phật giáo đã xác định.
Nhưng tỉnh thức chưa phải là giải thoát. Vì vậy, nhiều vị Lạt Ma có thần thông nhưng mà chưa giải thoát.
Do Mật Tông luyện thần thông tưởng, nên có những điều đặc biệt, nhưng cái đặc biệt đó chưa giải quyết được vấn đề sanh tử luân hồi.
Vậy nên, có bốn giai đoạn tỉnh thức, chứ không phải một giai đoạn đâu.
Mình tập pháp gì, tỉnh thức đến mức độ nào. Thầy nói, ngay phương pháp đi kinh hành, chúng ta cũng tập từng giai đoạn tỉnh thức của nó.
Ví dụ, đi kinh hành như thế này: “Tôi đi tôi biết tôi đi”, các con biết bước chân đi một cách tổng quát. Nhưng trong hành động bước chân đó còn có nhiều hành động chi tiết hơn thì chúng ta chưa biết, nên sự tỉnh thức đó chưa phải là giai đoạn ba hay bốn.
Khi tu tập pháp Thân Hành Niệm, Đức Phật dạy tu trong từng hành động. Ví dụ, đây là chân trái, đây là chân phải. Thầy bảo: “Chân trái bước”, thì Thầy chú ý trên cái chân trái bước. Khi nói: “Nhón gót lên”, thì chân trái nhón gót lên, rồi “Đưa chân tới”… có nhiều hành động ở trong này, mà nếu mình chỉ biết bước đi không, thì đó là giai đoạn tỉnh thức thứ nhất.
Bây giờ, để đạt đến giai đoạn tỉnh thức thứ hai, thứ ba, thì phải tu tập sâu hơn như thế này:
Để thật sự tỉnh thức thì khi tác ý: “Chân trái bước”, sẽ có nhiều hành động như: nhón gót lên, đưa chân lên, đưa chân tới, để chân xuống, hạ gót xuống. Còn các con chỉ biết tổng quát bước chân đi, thì sức tỉnh thức chưa đầy đủ.
Nếu sức tỉnh thức không đủ mà muốn sinh ra biết được nhiều đời nhiều kiếp thì không thể được.
Vậy sức tỉnh thức đó tu để làm gì?
Các con biết, mỗi hành động của chúng ta đều thải ra từ trường lưu lại trong không gian. Khi nó tương ưng thì mới đi tái sanh, chứ đâu phải linh hồn chúng ta tái sanh.
Ví dụ, bây giờ các con học giỏi ngoại ngữ, giỏi toán… thì khả năng đó không mất đi. Những từ trường học giỏi của các con sẽ thải ra không gian. Cho nên, nếu đời này các con học dốt mà biết cố gắng học, thì đời sau các con thông minh là do các con đã huân tập rồi.
Hành động các con học trở thành từ trường của các con, chứ làm sao mất được. Từ trường này cũng theo nghiệp các con tái sanh.
Hành động tập tỉnh thức cũng vậy. Dù chuyển qua một thân mới, một thức mới, thì sức tỉnh thức vẫn còn, chứ không mất. Dù trải qua ngàn lần tái sanh, cái thức mới của các con vẫn mang theo sức tỉnh thức này.
Cho nên, trong sự tu tập theo Đạo Phật, cần phải hiểu thật rõ. Chỉ những người nhập được các định mới có thể quan sát được tất cả những sự kiện diễn ra.
Ngồi đây mà người ta dùng Thiên Nhãn Minh, tức là trí tuệ Tam Minh, quan sát được vũ trụ. Vũ trụ vô cùng, vô tận, mà người ta thấy như chỉ trong lòng bàn tay.
Các con thấy, người ta tu hành rất vất vả, cực khổ, sống một mình, ăn ngày một bữa, không phải sống như người ngoài đời. Công lao tu tập của họ được đền đáp bằng cách người ta tu đến mức độ mà có thể ngồi quan sát vũ trụ, biết được tất cả các hành tinh trong không gian này như thế nào. Đâu phải người tu chỉ biết mỗi việc tu.
Khi tu được rồi, người ta quan sát rất kỹ, thấy con người có đủ phước duyên như thế nào, biết được từng duyên phước của chúng sanh nữa. Bởi vậy, việc tu hành cực khổ mà không có uổng phí, nó hạnh phúc vô cùng. Người ta biết được còn bao nhiêu người còn quá vô minh không hiểu được.
Cho nên, Thầy khuyên các con bỏ hết đi mà tu, rồi sẽ thấy được sự tuyệt vời. Chứ đừng tu danh, tu lợi, tu ăn, tu uống, thì ngàn đời các con không làm gì được đâu, cũng như người thế tục, đau khổ vẫn hoàn đau khổ, không bao giờ hết đâu. Phải cố gắng nỗ lực tu như vậy!
Vì Chơn Giác hỏi, Thầy mới giải thích để các con hiểu rằng trong kinh, Đức Phật đã dạy có bốn giai đoạn tỉnh thức.
Và đối với người tu sĩ thực hành thiền định, họ đang ở mức độ tỉnh thức nào, hay rơi vào trạng thái ức chế, hoặc đạt đến loại định nào… tất cả đều có thể xác định một cách rất rõ ràng.
Người tu xong rồi người ta biết rõ từng cấp độ tu tập, chỗ nào đúng, chỗ nào sai. Còn tu chưa tới thì mình không biết cái định này là định gì, tu như thế nào.
Người tu xong ở trên cao người ta nhìn xuống dưới thấp, thấy rõ ràng ngoại đạo chưa giải thoát được gì, và tu cái đó sẽ đưa đến chỗ nào người ta biết liền. Còn mình chưa tới thì ngơ ngác không hiểu. Do đó, đọc lại kinh sách mình không giải nghĩa nổi những danh từ mà Đức Phật đã dạy.
Như lúc đầu mới vào đây, Thầy đã nhắc cho các con biết những danh từ “ức chế” và “chế ngự” để chúng ta tu tập chế ngự tâm mình, chứ không được ức chế tâm.
Thầy nói rõ điều này giúp các con hiểu đúng nghĩa lý để thông suốt được con đường tu tập mà thực hành cho đúng, không bị sai.
Hôm nay, do Chơn Giác hỏi, Thầy đã giải thích cho các con rất rõ về vấn đề tỉnh thức. Tại sao lại có những hiện tượng như vậy, và vì sao người ta cho rằng có linh hồn đi vào. Đây là sự hiểu sai, không rõ, nên nói theo cái tưởng của mình mà thôi.
Các nhà Đại Thừa họ xây dựng cái thần thức. Cái thần thức đó phải 49 ngày mới đi đầu thai, cho nên phải tụng niệm, cúng bái, cầu siêu cho linh hồn.
Thực sự ra đây là việc ảo. Bởi vì nhân quả luôn luôn tiếp diễn, không có thời gian gián đoạn. Tức là bỏ thân này có thân khác để tiếp tục cái nhân quả đó. Nếu mà có linh hồn thì trong 49 ngày nhân quả nó ở đâu? Vì nhân quả không bao giờ có kẽ hở.
Cho nên, nếu nhìn thấu suốt nhân quả, thì con người chúng ta từ khi sanh ra cho đến khi nhiều đời nhiều kiếp vẫn ở trong một nhân quả, chứ không phải hai nhân quả.
Chúng ta thấy mình có thân này, thân nọ, thân kia đủ thứ, nhưng chỉ có một luật nhân quả của nó mà thôi. Nghĩa là chúng ta làm ác thì nó sẽ tăng thêm cái khổ; còn làm thiện thì nó giảm xuống, nó làm cho chúng ta hạnh phúc, an vui.
Tóm lại là chỉ có thiện và ác thôi, chứ không có gì.
Chúng ta muốn thoát ra khỏi nhân quả thì phải sống toàn thiện. Sống toàn thiện thì không còn ác nữa, mới gọi là Niết Bàn. Nếu còn một chút xíu ác đi nữa, cũng không thể vào Niết Bàn được.
Chúng ta ly dục chưa sạch, còn một chút xíu, thì Bảy Giác Chi không xuất hiện, cho nên không nhập định được. Người tu thiền mà không thực hiện được Bảy Giác Chi thì đó là thiền ức chế tâm chứ không bao giờ có thiền định được.
Bởi vì Bảy Giác Chi là bảy năng lực bồ đề, tức là bảy năng lực giải thoát, giúp chúng ta làm chủ được thân tâm. Đây không phải là pháp Bảy Giác Chi, mà là năng lực Bảy Giác Chi. Các con có hiểu không?
Vậy từ pháp nào sinh ra Bảy Giác Chi? – Từ pháp tu Tứ Niệm Xứ mà sinh ra Bảy Giác Chi.
Tại vì trên Tứ Niệm Xứ khắc phục tham ưu. Khi bốn chỗ thân, thọ, tâm pháp không còn tham ưu, không còn đau khổ, không còn ác pháp nữa, thì Bảy Giác Chi mới xuất hiện, tức là tâm đã ly dục, ly ác pháp hoàn toàn.
Các con đã rõ con đường tu tập của Đạo Phật chứ? Từ Tứ Niệm Xứ thì Bảy Năng Lực Giác Chi này mới xuất hiện. Chúng ta có pháp tu Bảy Giác Chi, nhưng không phải pháp tu Bảy Giác Chi đó để thực hiện Bảy Năng Lực Giác Chi, mà pháp tu Bảy Giác Chi đó chỉ thực hiện trên Tứ Niệm Xứ mà thôi.
Về Trạch Pháp Giác Chi, tác ý ra một câu gì đó. Bây giờ tâm Thầy đang tham, đang sân hoặc đang đau nhức, thuộc về ác pháp, thì phải chọn câu tác ý cho phù hợp, đó chính là Trạch Pháp Giác Chi lựa chọn ra câu tác ý.
Ví dụ như tay của Thầy đau, thì Thầy nói: “Thọ là vô thường, cái tay này không còn đau nữa”, đó là Thầy trạch ra câu tác ý cho đúng.
Nếu Thầy đau tay mà tác ý sang cái đầu thì có đúng không? – Không đúng! Vì vậy, phải tác ý ngay nơi cái tay đau, rồi mới dùng pháp Định Niệm Hơi Thở của Phật để an trú tâm cho nó hết đau.
Lúc này, Thầy tác ý: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Khi ấy, tâm chúng ta nương vào hơi thở mà tác ý an tịnh để làm cho thân của chúng ta an, thì không còn đau nữa.
Sau thời gian 1 giờ, chúng ta xả ra, thì cái mụn nhọt này sẽ tan đi, không còn sưng, không còn ban đỏ, không còn làm mủ nữa. Rõ ràng là nó có sức đề kháng khi tâm chúng ta an trú trong sự an ổn.
Còn nếu tâm chúng ta chú ý vào chỗ đau thì nó không hết đâu.
Phương pháp của Phật rất rõ ràng như vậy. Pháp Tứ Niệm Xứ trên thân quán thân để khắc phục tham ưu. Khắc phục được hoàn toàn tham ưu thì Bảy Giác Chi mới xuất hiện. Nếu còn một chút tham ưu thì Bảy Năng Lực Giác Chi không xuất hiện đâu.
Còn phương pháp Bảy Giác Chi mà chúng ta trạch ra hồi nãy gọi là Trạch Pháp Giác Chi. Chúng ta cần phải hiểu pháp Trạch Pháp Giác Chi và Năng Lực Bảy Giác Chi.
Pháp Bảy Giác Chi tu tập trên Tứ Niệm Xứ, nhưng mà năng lực của Bảy Giác Chi xuất hiện ở trên Tứ Niệm Xứ, chứ không phải ở trong pháp Bảy Giác Chi.
Vậy các con đã hiểu pháp Bảy Giác Chi và năng lực của Bảy Giác Chi rồi chứ?
Người tu Thân Hành Niệm, mọi bước đi đều kỹ lưỡng thì Tinh Tấn Giác Chi xuất hiện, có lực đẩy nơi chân họ. Họ nhấc chân lên thì nó đẩy lên, để chân xuống thì nó hút xuống, đưa chân tới thì nó đưa tới…
Rồi tới Khinh An Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Niệm Giác Chi, Định Giác Chi, cho đến Xả Giác Chi, hoàn toàn xả sạch hết, tâm ly dục ly ác pháp rồi thì Trạch Pháp Giác Chi mới xuất hiện. Lúc bấy giờ chúng ta hướng tâm tới đâu thì nó làm đến đó. Nếu muốn nhập định mà không có Trạch Pháp Giác Chi thì không thể nào nhập được. Bởi vì diệt tầm tứ thì ý thức của chúng ta phải ngưng, sáu căn ngưng hoạt động.
Chúng ta dùng Trạch Pháp Giác Chi, một trong Bảy Giác Chi, để hướng tâm tịnh chỉ tầm tứ hoặc diệt tầm tứ thì ngay đó sáu căn của chúng ta ngưng hoạt động liền tức khắc. Nó diệt liền, cho nên chúng ta mới vào được Nhị Thiền, chứ không phải ai muốn vào cũng được.
Như vậy, chúng ta phải tu tập sung mãn Tứ Niệm Xứ, xuất hiện Bảy Giác Chi, rồi mới nhập được Nhị Thiền. Bởi vì phải có đủ Bảy Năng Lực Giác Chi thì mới nhập định được; còn không đủ năng lực đó thì không thể nhập được.
Cho nên, chúng ta phải tu làm sao để có Bảy Năng Lực Giác Chi. Giác chi có nghĩa là Bồ đề, mà Bồ đề là giải thoát. Bảy năng lực giải thoát đâu phải thường. Nếu là bảy pháp thì chúng ta tu có năng lực gì đâu mà gọi là Bồ đề. Nhiều khi chúng ta tác ý không đúng cách nó cũng không hết đau, thì làm sao mà gọi là Bồ đề. Chúng ta đau nhức hoài mà nói là tôi Trạch Pháp Giác Chi ra là nó hết, thì như vậy là sai, đâu có đúng. Có phải không?
Các con cần hiểu chỗ Thầy muốn nói: Bồ đề là phải giải thoát hoàn toàn, nó làm cho chúng ta không còn đau khổ nữa, mới gọi là Bảy Giác Chi, Bảy Bồ Đề, hay Thất Bồ Đề. Phải hiểu như vậy mới đúng. Cho nên, chúng ta phải tu đúng cách, chứ còn tu không đúng cách thì không đạt được.
THÔNG TIN TÁC GIẢ
BÌNH LUẬN
VIẾT BÌNH LUẬN
THÔNG TIN BỔ SUNG
-
Tác giả
Trưởng lão Thích Thông Lạc
-
Đối tượng
Thích Chơn Giác
-
Chuyển ngữ bởi
Thư viện Thầy Thông Lạc
-
Xuất bản tại
Thư viện Thầy Thông Lạc
-
Thời gian
4/2/2003
-
Khổ giấy
13x20,5 cm
-
Số trang
28
-
Thể loại
Chép lời Thầy
-
Dữ liệu
File pdf, epub
-
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
-
Phù hợp cho
Máy tính, máy tính bảng, smartphone
Ban biên tập
“Chúng ta thấy mình có thân này, thân nọ, thân kia đủ thứ, nhưng chỉ có một luật nhân quả của nó mà thôi. Nghĩa là chúng ta làm ác thì nó sẽ tăng thêm cái khổ; còn làm thiện thì nó giảm xuống, nó làm cho chúng ta hạnh phúc, an vui.
Tóm lại là chỉ có thiện và ác thôi, chứ không có gì.
Chúng ta muốn thoát ra khỏi nhân quả thì phải sống toàn thiện. Sống toàn thiện thì không còn ác nữa, mới gọi là Niết Bàn. Nếu còn một chút xíu ác đi nữa, cũng không thể vào Niết Bàn được.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Đến giai đoạn tỉnh thức thứ tư, khi sinh ra chúng ta vẫn còn nhớ lại hồi trước mình ở làng nào, xã nào, con của ai, tên gì, ở xứ nào… một cách rõ ràng.
Có nhiều đứa bé sinh ra biết nhà, biết làng, biết xã của nó đời trước, đó là do sức tỉnh thức ở giai đoạn thứ tư.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Bây giờ chúng ta tu đến giai đoạn tỉnh thức thứ ba. Lúc bà mẹ sinh ra nó đau đớn lắm, lúc bấy giờ mình cũng biết đau đớn, biết mọi diễn biến rất rõ ràng. Vai và đầu sinh ra mình cũng biết vai và đầu, nhưng khi lọt lòng là quên hết, không còn nhớ hồi đó mình là ai, ở đâu…” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Bây giờ người còn sống như chúng ta tu tới giai đoạn tỉnh thức thứ hai.
Ở trong giấc mộng thì nó biết nó vào bào thai, và khi vào bào thai rồi nó vẫn còn biết. Cái biết này là thức mới, chứ không phải là thức cũ, vì thân ngũ uẩn trước đã chết, thì cái biết cũng hoàn toàn biến mất.
Khi ở trong bụng mẹ mà vẫn còn biết, thì đó là cái biết của thức mới, do sức tỉnh thức mà chúng ta tu, nên khi chuyển sang thân mới vẫn còn biết. Còn sức tỉnh thức ở giai đoạn một thì chúng ta chỉ biết khi vào bào thai mà thôi.
Lúc nãy Chơn Giác hỏi, con còn nhớ không? Khi vào bào thai thì mình còn biết, sau khi vào bụng mẹ thì hết biết, vì nó chuyển qua tưởng thức mới trong thai nhi. Tuy cái thức còn nằm đó, nhưng nó không còn biết nữa.
Bởi vì “vô minh sinh hành”, “hành sinh thức”, nên tạo thành cái thức mới này. Nhưng cái thức mới này do công phu chúng ta tu tập tỉnh thức thải ra từ trường trong không gian, nó sanh làm đứa bé, thì cái sức tỉnh thức này chỉ đủ biết lúc nó vào thai mẹ thôi, chứ không hơn được nữa.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Có người sắp chết họ mê muội hoàn toàn, nhưng không ngờ cái mê muội là giấc mộng của họ. Họ thấy như thế nào?
Khi nằm mộng thì cái tưởng hoạt động, họ thấy họ đi vào nhà đó, nằm trong bụng mẹ. Trong khi đó cái thức vẫn còn đang sống trên thân của họ, nhưng khi mà họ nhập vào thai là họ mất cái biết, mất cái biết là họ chết.
Tại vì thông qua cái biết của tưởng trong giấc mộng, họ thấy từ trường của họ đi vào trong nhà này.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Khi còn mang thân này, chúng ta đã tập tỉnh thức. Mỗi hành động chúng ta tập tỉnh thức nó thải ra cái nghiệp. Hàng ngày, chúng ta tập, ví dụ: “Tôi đi, tôi biết tôi đi”, hoặc: “Tôi thở, tôi biết tôi thở ra, thở vào”, thì sức tỉnh thức này sẽ thải ra theo cái nghiệp của chúng ta.
Cho nên, khi còn nghiệp luân hồi, tức là nghiệp tham, sân, si của chúng ta vẫn còn chứ chưa phải hết, nhưng chúng ta có sức tỉnh thức. Cái sức tỉnh thức đó cũng tiếp tục với những từ trường tham, sân, si của chúng ta mà thải ra.
Khi vào bào thai mà vẫn biết là do đứa bé này đã tập tỉnh thức ở một mức độ nào đó rồi. Do sự huân tập tỉnh thức, nên khi từ trường nghiệp của nó vừa tiếp duyên với bào thai của mẹ và hành vô minh của người cha, thì cái sức tỉnh thức biết rõ nó vừa bỏ thân cũ và đang tiếp nhận vào gia đình nào rồi. Nếu mất cái biết ở đây, thì nó sẽ không còn biết nữa.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Có người hỏi rằng: người tu còn cái gì? Bởi vì người tu thân ngũ uẩn cũng hoại diệt, còn người không tu cũng hoại diệt, vậy tu để làm gì?
Rõ ràng, người không tu thì còn cái nghiệp tham, sân, si đi tái sanh luân hồi; còn người tu thì còn cái nghiệp không tham, sân, si.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Tác ý tới mức mà tham, sân, si không còn, thì cái lệnh này là cái lực không tham, sân, si, gọi là nghiệp không tham, sân, si.
Nghiệp tham, sân, si thì luôn luôn tái sanh luân hồi; còn nghiệp không tham, sân, si thì vĩnh viễn chấm dứt tái sanh luân hồi, bởi vì nó không còn tham, sân, si nữa.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Do đó, từ xưa đến giờ người ta không hiểu Đức Phật nói hóa sanh là như thế nào.
Đây không phải là biến hóa, mà là hợp các gen để trở thành một con người. Con người đó là con người toàn thiện, bởi vì người sanh ra họ là một vị A La Hán, một người vô lậu, tâm đã ly dục, ly ác pháp hoàn toàn, tức là toàn thiện. Cho nên, họ hợp duyên lại với tinh thần toàn thiện thì con người đó sẽ không thể sống với chúng ta được.” (Trưởng lão Thích Thông Lạc)
Ban biên tập
“Hóa sanh không có nghĩa là như con sâu biến thành con bướm. Ở đây, hóa sanh là do một người có đầy đủ năng lực, gọi là Bảy Giác Chi – bảy trạng thái giác ngộ (Bồ đề). Trong đó, Trạch Pháp Giác Chi là năng lực hướng tâm cuối cùng. Khi họ hướng tâm đến điều gì, thì năng lực này có thể làm được điều đó, tức là họ muốn là nó làm được.
Vì vậy, người hóa sanh phải là người có năng lực hướng tâm. Khi muốn hóa sanh, họ hướng tâm vào không gian, nơi có đầy đủ các gen, rồi dùng năng lực tâm để hợp các gen này lại trong môi trường có độ ẩm như trong ống nghiệm, hội đủ các duyên thì nó sanh ra một con người hoàn chỉnh, cũng y như con người của chúng ta.” (Hóa sanh)