Ngày đăng  

22/10/2026, 09:10

NỘI DUNG MÔ TẢ

Một cái cây còn đang sống, nhưng cái hạt của nó vẫn có thể lên thành cây khác và tiếp tục cho ra những trái khác. Đó là nhân quả sanh, chứ đâu phải con người chết rồi mới sanh. Cho nên, một người làm ác thì sinh ra biết bao nhiêu người làm ác. Một người làm thiện thì sinh ra biết bao nhiêu người làm thiện. Do xét qua nhân quả và chứng minh một cách cụ thể, chúng ta mới thấy rằng: một người ăn trộm kia, biết đâu chừng chính cái tâm tham của mình lại tạo ra người ăn trộm đó.
Trưởng lão Thích Thông Lạc

Quý bạn đọc vui lòng chọn định dạng pdf hoặc epub, rồi nhấn nút “Đọc” ở trên để đọc toàn bộ nội dung tư liệu, hoặc xem trực tiếp trích đoạn như sau:

ĐƯỜNG ĐI NHÂN QUẢ CON NGƯỜI

“…Chúng ta nhớ rằng bài nhân quả thảo mộc là bài chứng minh cụ thể để nói về nhân quả. Nhưng đến bài đường đi nhân quả của con người thì chúng ta khái niệm cho mọi người biết rằng nhân quả của con người dựa vào Thập Thiện và Thập Ác mà chúng ta vẽ ra đường đi của nhân quả.

Bởi vì thân hành, khẩu hành và ý hành là đường đi của nhân quả con người. Nhân được tạo ra từ đó, rồi quả sẽ xảy đến làm cho thân tâm chúng ta đau khổ.

Vì vậy, chúng ta nên dựa vào mười điều lành mà Phật đã dạy, tức là Thập Thiện và Thập Ác. Dựa vào đó, chúng ta sẽ thấy được đường đi của nhân quả con người. Sau đó, chúng ta lần lượt viết bài.

Các con chú ý kỹ, khi viết bài về nhân quả con người thì phải viết rõ cái nhân, một hành động, cái quả và áp dụng vào đời sống con người, chứ không phải viết nhân quả suông như bài nhân quả thảo mộc. Chúng ta phải biết áp dụng vào đời sống bằng sự hiểu biết của mình.

Sự áp dụng đó cụ thể nhất là chúng ta đưa ra những ví dụ trong cuộc đời, những sự kiện mà chúng ta đã thấy xảy ra. Thí dụ, một người ăn trộm, ăn cắp, khi bị người khác đánh đập thì phải trả cái quả như thế nào? Đồng thời, hậu quả của sự kiện đó sẽ ra sao và chuyển biến để áp dụng vào đời sống.

Rồi chúng ta tiếp tục nói đến những từ trường của người ăn trộm, ăn cắp này sẽ sinh ra làm những con người ăn trộm, ăn cắp như thế nào. Chúng ta nói từ nhân quả cho đến cái duyên hợp, rồi đến trùng trùng duyên khởi của nhân quả đó, để thấy được nỗi khổ của thế gian.

Tại sao? Bởi vì con người và muôn vật sinh ra từ nhân quả, chứ không phải có một linh hồn tái sanh.

Bây giờ, chúng ta triển khai thì thấy càng lúc càng rõ ràng hơn. Chúng ta nhận xét được một hành động làm sẽ tạo ra điều gì.

Thí dụ, nói về thân hành, một người dùng tay móc túi, lấy của người khác. Đó là hành động tham lam, trộm cắp, là hành động xấu ác, làm cho người mất của đau khổ.

Phải nói rõ ràng rằng khi có hành động như vậy thì nó đem đến nỗi khổ cho người bị mất của. Và khi mình bị người ta bắt thì phải trả quả, như bị người ta đánh đập hoặc bị bỏ tù.

Nhưng như vậy chưa hết đâu. Khi mình bị bỏ tù thì vợ con ở nhà cũng phải chịu cảnh nheo nhóc, cực khổ. Mình phải nói hết những cái quả do hành động đó gây ra.

Khi đó, từ trường của cái quả mình bị đánh, bị đập, bị bắt và bị nhốt luôn phóng xuất ra tương ưng với những tâm tham lam, trộm cắp. Từ đó, những gia đình tham lam, trộm cắp lại sanh ra những đứa con tiếp tục.

Nhưng không ngờ rằng đó là nhân quả chúng ta sanh ra, chứ không phải chúng ta sanh ra. Cho nên, từ nhân quả thảo mộc chứng minh rằng, khi chúng đang sống thì nhân quả đã tái sanh, chứ không phải đợi đến lúc chết mới tái sanh.

Từ xưa đến giờ, người ta nghĩ rằng khi chúng ta chết rồi mới tái sanh. Nhưng chúng ta có thấy rõ nhân quả thảo mộc không?

Một cái cây còn đang sống, nhưng cái hạt của nó vẫn có thể lên thành cây khác và tiếp tục cho ra những trái khác. Đó là nhân quả sanh, chứ đâu phải con người chết rồi mới sanh. Các con hiểu điều đó. Nhân quả tái sanh mà.

Đức Phật nói con người là thừa tự của nhân quả: “Con người sinh ra từ nhân quả, sống trong nhân quả, chết trở về với nhân quả”. Có đúng không mấy con?

Cho nên, một người làm ác thì sinh ra biết bao nhiêu người làm ác. Một người làm thiện thì sinh ra biết bao nhiêu người làm thiện.

Do xét qua nhân quả và chứng minh một cách cụ thể, chúng ta mới thấy rằng: một người ăn trộm kia, biết đâu chừng chính cái tâm tham của mình lại tạo ra người ăn trộm đó.

Nếu có đôi mắt Tam Minh thì người ta sẽ thấy rõ ràng: chính cái hành động ác của tôi hôm qua, mà bữa nay nó sinh ra một đứa bé, rồi đứa bé đó trở thành người ăn trộm, ăn cắp.

Cho nên, ngay bây giờ chúng ta làm một điều thiện thì chúng ta có thể chặn đứng bao nhiêu đứa bé xấu, ác sinh ra.

Nhân quả trùng trùng duyên khởi, nhưng nó đâu phải sinh ra rồi là hoàn toàn trọn vẹn hết đâu. Nếu nó trọn vẹn hết thì quả đất này làm sao có chỗ ở? Làm sao sống được? Cho nên, nó phải bị diệt. Có khi vừa sinh ra, vừa nứt mầm thì nó đã bị chết, bị diệt.

Bằng chứng là hiện giờ, kế hoạch hóa gia đình, người ta nạo, phá thai. Đó là những nhân diệt của nó. Chưa sinh ra mà nó đã bị diệt rồi, ngay trong cái mầm trứng nước của nó.

Đó là hiện tượng mà chúng ta thấy nhân quả nó như vậy, chứ đâu phải nó luôn luôn sinh ra rồi tồn tại trọn vẹn.

Thí dụ, chúng ta thấy cây tràm ở đây: nó ra bông, ra trái, rồi ra hạt. Những cái hạt là nhân của nó rớt xuống, nếu vào ngay chỗ ẩm ướt thì nó có thể lên thành cây. Còn nếu nó rớt vào đống rác hay nơi cao ráo thì cái hạt bị khô, bị hư đi, nó chết ngay liền. Đó là sự sinh diệt của nó. Mà sự sinh diệt đó diễn ra trùng trùng.

Khi cây tràm này rớt xuống hàng trăm ngàn cái hạt, nhưng khi lên được thành cây thì được mấy cây. Phải không mấy con?

Cho nên, một hành động ác của chúng ta, chúng ta phải biết rằng sự sinh diệt của nó ghê gớm lắm.

Bài học về nhân quả con người xác định con đường tu tập vô lậu để chúng ta triển khai sự hiểu biết như thật của Phật pháp mà cố gắng thực hiện sự giải thoát.

Cho nên, khi nói về một hành động trộm cắp, sát sanh, giết hại và ăn thịt chúng sanh, chúng ta phải nói rõ cái quả sẽ thọ như thế nào. Thí dụ, Thầy giết một con gà, ăn thịt con gà đó thì cái quả sẽ như thế nào? Rồi từ cái quả đó sinh ra bao nhiêu người khác hoặc bao nhiêu con gà để tiếp tục bị người khác giết hại. Chúng ta phải nói rõ như vậy rồi áp dụng vào đời sống.

Cái phần áp dụng rất quan trọng. Chúng ta phải đưa ra những sự kiện có thật xảy ra trong xã hội, những người làm điều đó.

Thí dụ, những người bắt ếch thường bẻ giò ếch. Khi làm gà, người ta cũng thường bẻ chân, lật cổ, lật cánh hoặc bẻ hai cái giò của nó. Từ những hình ảnh đó, chúng ta có thể nói đến những trường hợp người bị xe đụng gãy chân, gãy tay hoặc cụt tay, cụt chân. Tất cả những hành động đó làm sao chạy khỏi cái quả?

Việc áp dụng rất thực tế, cụ thể, rõ ràng, làm cho mọi người nhìn qua nhân quả mà không còn làm ác nữa. Quan trọng hơn, khi viết được bài đó, thì chính mình được nhắc nhở rất sâu sắc, để không còn làm ác nữa.

Thí dụ, mấy con thấy người ta mắng chửi mình, mình nổi giận, mắng chửi lại rồi đánh người, thì những quả ác nào sẽ sinh ra, những chuyện gì sẽ xảy ra? Khi đọc và suy ngẫm như vậy, chúng ta thấy ngao ngán quá. Khi một người chửi mình, chúng ta biết thương, chứ không ghét họ.

Cho nên, chúng ta không bao giờ nói nặng, phỉ báng hay chửi mắng một người nào. Nói nặng, phỉ báng hay chửi mắng một người thì từ trường của chúng ta sẽ sinh ra những người ác. Đồng thời, cái quả mà chúng ta đang thọ chính là sự tức giận, mà tức giận là khổ đau.

Vì vậy, khi viết về nhân quả, chúng ta phải hiểu rõ những điều này và diễn tả cho cụ thể. Thí dụ, nói về ăn cắp, ăn trộm thì phải nói cái nhân, cái quả, sự chuyển đổi của nhân quả đó, rồi áp dụng vào đời sống.

Chúng ta nhớ lại những sự việc đã xảy ra trong cuộc đời, hoặc đọc trên báo chí, thấy một sự kiện, một tin tức nào đó thì suy ngẫm xem nhân quả gì đã đưa đến sự việc ấy. Sau đó, chúng ta ghi lại để làm một ví dụ thực tế áp dụng vào đời sống.

Nhờ có áp dụng vào đời sống như vậy, cho nên tri kiến của chúng ta ngày càng sáng suốt, xả đi những sự giận hờn, phiền não, không còn làm điều ác nữa.

Ngay từ đầu, khi vào bài học này, chúng ta phải nhớ kỹ: chúng ta vẽ ra được đường đi của nhân quả qua thân hành, khẩu hành, ý hành và thập thiện, thập ác.

Thân có ba điều ác, ý có ba điều ác, khẩu có bốn điều ác, cộng lại là thập ác. Còn nói về điều thiện thì thân có ba điều thiện, ý có ba điều thiện, khẩu có bốn điều thiện, cộng lại là thập thiện.

Dựa vào thập thiện, thập ác mà chúng ta triển khai đường đi nhân quả của con người.

Các con nhớ rõ những ý Thầy đã gợi để cố gắng thực hiện cho đúng. Mỗi bài là một bài học triển khai đầu óc của chúng ta về nhân quả để có cái nhìn đúng đắn, chánh kiến, không còn sai lệch nữa.

Một giá trị rất lớn là chúng ta hiểu biết được như thật thì sẽ giải thoát, còn hiểu biết không thật thì không giải thoát.

Từ lớp căn bản, chúng ta phải triển khai tri kiến, đó chính là Định Vô Lậu.

Các con thấy, Đức Phật dạy Định Niệm Hơi Thở, Định Chánh Niệm Tĩnh Giác, nhưng không gọi là “vô lậu”. Còn Định Vô Lậu chính là tri kiến giải thoát, như Thầy đã nói với các con.

Giới hương, Định hương, dữ Huệ hương, chữ “dữ” có nghĩa là “và”. Giới, Định, Tuệ không quan trọng đâu, mà tri kiến hương mới quan trọng. Nghĩa là Đức Phật dạy chúng ta sống một đời sống bình thường bằng sự hiểu biết để đạt được vô lậu. Nếu không triển khai căn bản này thì các con khó đạt được vô lậu.

Đâu phải ngồi thiền, nhập định như cây gốc, ngồi cứng ngắc đó mà gọi là giải thoát. Giải thoát là một con người sống bình thường mà tâm bất động. Cho nên nó là Tứ Niệm Xứ, chứ không phải ở trong thiền định gì cả.

Nhưng nếu không có tri kiến thì các con không chịu nổi khi ác pháp bên ngoài tác động quá lớn. Cho nên bài học căn bản là Chánh Tri Kiến, mà căn bản nhất là Định Vô Lậu.

Trong Tứ Chánh Cần có bốn loại định. Trong đó, cái tên Định Vô Lậu, theo Thầy, nói đến sự chứng quả A-la-hán. Bởi vì A-la-hán là cách dịch âm từ tiếng Phạn, còn nghĩa của A-la-hán là vô lậu. Cho nên, thiền định mang tên Định Vô Lậu thực sự là pháp giúp chúng ta giải thoát hoàn toàn, không còn đau khổ.

Thế mà mình không học, lại tu để trở thành cây đá hay sao các con? Các con tu Chánh Niệm Tĩnh Giác mà chỉ nhiếp tâm cho yên tịnh, không suy nghĩ gì, thì các con sẽ đi lầm vào con đường của Đại Thừa mất rồi.

Ở đây, Đức Phật dạy chúng ta triển khai tri kiến, tức là Thiền Quán, chứ không phải Thiền Chỉ. Chúng ta chấp vào Thiền Chỉ rồi cho rằng có thể triển khai trí tuệ Tam Minh thì chắc gì chúng ta có được?

Giới luật tức là trí tuệ. Các con nghe bài kinh Đức Phật nói: “Tri kiến ở đâu, giới luật ở đó; giới luật làm thanh tịnh tri kiến, tri kiến làm thanh tịnh giới luật”. Bài kinh quá rõ ràng, cụ thể. Như vậy, tri kiến của chúng ta rất cần thiết cho giới luật, mà giới luật cũng rất cần thiết cho tri kiến. Hai cái này không thể tách rời.

Đạo Phật rất thực tế, dạy chúng ta sống đạo đức không làm khổ mình khổ người. Chỉ cần như vậy là đủ. Chúng ta không cần chạy theo thiền định. Muốn thiền định thì chúng ta chỉ nhập chơi.

Các con thấy trong Bát Chánh Đạo, lớp Chánh định chỉ có một lớp duy nhất. Cho nên, chúng ta lầm tưởng rằng cứ ở trong thất tu là đúng. Chúng ta cũng lầm tưởng rằng thức suốt đêm là tu. Không phải đâu.

Các con biết, Thầy đã đưa vào một chương trình giáo dục đào tạo. Thầy viết những căn bản là để các con hiểu rõ con đường tu tập của chúng ta.

Ở đây, con đường chúng ta không phải tu Thiền Chỉ, mà là tu Thiền Quán. Còn Chánh Niệm Tĩnh Giác không phải là con đường để đi vào thiền định. Chánh Niệm Tĩnh Giác là để phá hôn trầm, thùy miên, tức là phá vô minh lậu mà thôi.

Không phải cứ ngồi bất động là có thể phá được tham, sân, si, mà chỉ là ức chế tâm.

Đã nói Phật giáo là chương trình giáo dục đào tạo Bát Chánh Đạo. May mắn là chúng ta có được một lớp học như thế này để học tập, đó là một điều rất quý.

Nếu không khéo, chúng ta hiểu sai lệch, chỉ tu tập cho hết niệm để đi vào thiền định, thì coi chừng đó là thiền định sai.

Bởi vì tri kiến không được triển khai thì Định Vô Lậu không có. Định Vô Lậu không có thì lậu hoặc không bao giờ hết. Lậu hoặc không hết thì tham, sân, si không hết. Tham, sân, si không hết thì mình tu tập gì cũng bị ức chế. Mà tu ức chế thì mình sẽ đi lạc đường”.
…

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Xem thêm

Lớp Chánh Kiến – Buổi 18: Thiện xảo tu tập (nam)

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Cho nên, trong cuộc đấu tranh với giặc sinh tử, chúng ta phải thấy rằng Đức Phật đã dạy cho chúng ta những phương pháp tu tập, nhưng Đức Phật thường nhắc thiện xảo để đối trị với tâm tham, sân, si của mình.

Lớp Chánh Kiến – Buổi 17: Chánh Niệm Tĩnh Giác (nam)

Trưởng lão Thích Thông Lạc

Nếu chỉ sử dụng phương pháp Chánh Niệm Tĩnh Giác để thắng được hôn trầm, thùy miên, thì chúng ta sẽ lọt vào trong tưởng. Tại sao? Tại vì pháp tri kiến giải thoát là Định Vô Lậu sẽ dẹp được dục lậu và hữu lậu. Nếu chúng ta không sử dụng như vậy thì tâm chúng ta chưa ly dục, ly ác pháp. Tâm chưa ly dục, ly ác pháp, mà chúng ta ức chế để phá hôn trầm, tức là phá vô minh lậu, thì chúng ta sẽ rơi vào trong tưởng.
0
Tổng 0 lượt bình luận
Chưa có bình luận

VIẾT BÌNH LUẬN

THÔNG TIN BỔ SUNG

  • Tác giả

    Trưởng lão Thích Thông Lạc

  • Đối tượng

    Tu sinh Lớp Chánh Kiến

  • Chuyển ngữ bởi

    Thư viện Thầy Thông Lạc

  • Xuất bản tại

    Thư viện Thầy Thông Lạc

  • Thời gian

    21/11/2005

  • Khổ giấy

    13x20,5 cm

  • Số trang

    150

  • Thể loại

    Giáo án

  • Dữ liệu

    File pdf, epub

  • Ngôn ngữ

    Tiếng Việt

  • Phù hợp cho

    Máy tính, máy tính bảng, smartphone