Chuyên mục góc tu sinh

Tìm kiếm

Nhận tin bài qua email

Thứ hai, 15 Tháng 12 2014 07:00

Nhân quả ái ngữ thuộc về tà ngữ - Nguyên Thanh

Được viết bởi

Giáo lý nhân quả, nhân bản đem lại cho chúng ta một niềm phấn khởi mạnh mẽ vô cùng, đó là tự kiến tạo lấy đời mình trong bao nhiêu kiếp luân hồi khổ đau. Mỗi chúng ta là tay thợ xây dựng lấy địa vị của mình mà không hay. Do sự mê mờ ấy, chúng ta đã làm hại đời chúng ta bằng cách buông xuôi tay, trao giữ niềm tin vào những đấng thiêng liêng tưởng tượng hay rên xiết, khóc than trách móc định mệnh khắc nghiệt đã trói buộc đời mình. Giờ đây, chúng ta đã biết chính mỗi chúng ta đã tự tay trói buộc chúng ta trong cảnh sinh tử luân hồi. Chúng ta đã tự trói chúng ta thì cũng chỉ có chúng ta là có thể cởi mở cho chúng ta mà thôi. 

Xem toàn bộ bài làm:

- Mở bằng trình duyệt

- Xem trực tiếp như sau:

1. Tài liệu dạng pdf

Xem bằng trình đọc google

2. Tài liệu dạng html (unicode)

Xem các bài làm cùng tác giả Nguyên Thanh:

Đặc tướng nhân quả thảo mộc - Nguyên Thanh

Sự chuyển đổi hợp tan của loài thảo mộc đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về nhân quả. Nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn hữu, không có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần, thoát ra ngoài luật nhân quả.Khi chúng ta đã biết rõ luật nhân quả, nhưng nếu chúng ta không đem nó ra ứng dụng trong đời sống của mình thì sự hiểu biết ấy trở thành vô ích.

 

Đường đi nhân quả con người - Nguyên Thanh

1-      Thế nào là đường đi nhân quả của con người?

Có ba nơi, đó là thân hành, khẩu hành, ý hành là ba nơi xuất phát đường đi nhân quả của con người.

a.        Thân hành:

Chúng ta làm điều ác đem đến sự khổ đau cho người, cho mình, đó là đường đi của thân hành.

b.        Khẩu hành:

Là lời nói, nói ra người ta buồn khổ, nói ra mình khổ, đó là đường đi của khẩu hành.

c.        Ý hành:

Một ý nghĩ trong đầu làm mình buồn phiền đó là suy nghĩ ác ; suy nghĩ làm cho mình mình vui, đó là ý nghĩ thiện, đó là đường đi của ý hành.

 

Nhân quả thân hành con người - Nguyên Thanh

Con người đi vào đời với thân nghiệp, nên chỉ thường hay bệnh tật hoặc tai nạn này, tai nạn kia, cho nên thường mang cái tâm tư đau khổ, luôn luôn giận hờn, thương ghét, sợ hãi... Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau quán xét lại nó, tức là suy nghĩ về thân tâm hoàn cảnh và tất cả mọi sự, mọi vật đang hiện hữu chung quang chúng ta, để cho những tri kiến sắc bén đó làm thay đổi nhân quả thân hành của mỗi chúng ta. I-   NHÂN QUẢ THÂN HÀNH LÀ GÌ? Nhân quả thân hành là những hành động của thân chúng ta đã tạo ra nhân thiện, nhân ác, gặt lấy những quả khổ hay quả vui trong kiếp sống hiện tại, quá khứ và tương lai.

 

Nhân quả khẩu hành con người - Nguyên Thanh

Mỗi cá nhân đều tin rằng mình là chủ nhân của cuộc sống của mình, mỗi cá nhân đều thấy mình có trách nhiệm đầy đủ về hành vi của mình, lời nói và ý nghĩ hàng ngày, hàng giờ, phút của mình. Mọi người đều tin sống thiện là sống hạnh phúc ngay trong hiện tại và cả sau này và sống ác là sống đau khổ và bất hạnh ngay trong hiện tại và cả về sau nữa. Do đó, mà không ai bảo ai, mọi người đều lo làm thiện như: Thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, không những không làm hại ai mà còn sẵn sàng giúp người. Giúp người là giúp mình, hại người là hại mình. Đó là bài học thiết thực và đơn giản của nền đạo đức nhân bản - nhân quả, không làm khổ mình, khổ người. 

 

Nhân quả ái ngữ thuộc về tà ngữ - Nguyên Thanh

Giáo lý nhân quả, nhân bản đem lại cho chúng ta một niềm phấn khởi mạnh mẽ vô cùng, đó là tự kiến tạo lấy đời mình trong bao nhiêu kiếp luân hồi khổ đau. Mỗi chúng ta là tay thợ xây dựng lấy địa vị của mình mà không hay. Do sự mê mờ ấy, chúng ta đã làm hại đời chúng ta bằng cách buông xuôi tay, trao giữ niềm tin vào những đấng thiêng liêng tưởng tượng hay rên xiết, khóc than trách móc định mệnh khắc nghiệt đã trói buộc đời mình. Giờ đây, chúng ta đã biết chính mỗi chúng ta đã tự tay trói buộc chúng ta trong cảnh sinh tử luân hồi. Chúng ta đã tự trói chúng ta thì cũng chỉ có chúng ta là có thể cởi mở cho chúng ta mà thôi. 

 

Nhân quả ý hành con người - Nguyên Thanh

Thiện hay ác không dễ dàng đến với chúng ta nếu không do sự tích lũy dần trong cuộc sống. Một cuộc sống chứa đầy ác, ấy là do thái độ xem thường của con người đối với các điều ác nhỏ nhặt được tích lũy lâu ngày trong cuộc sống. Tương tự, nếu chúng ta chứa đầy thiện ấy là do chúng ta biết trân trọng các điều thiện, dù rất nhỏ, được nuôi dưỡng lâu dần trong nếp sống làm lành. Vậy muốn thoát khỏi bệnh tật của thân và sự khổ đau của tinh thần thì phải hiểu biết đường đi nhân quả của ý hành con người. Có sự hiểu biết đúng đắn thì chúng ta buông xả được 3 hành vi ác của tham lam, sân hận, si mê. Nếu ý hành ác này dần dần buông xuống thì ý hành thiện sẽ dần dần hiện lên thì ngay đó có giải thoát 

 

Quán thân vô thường - Nguyên Thanh

Chúng ta đã là chúng sanh thì ít nhiều đều có tham vọng, lòng tham vọng ấy bám víu chặt chẽ vào sự vật mà chúng ta đã cấu tạo, nắm bắt được. Chúng ta chỉ buông thả chúng ra sau khi trút hơi thở cuối cùng. Chúng ta đã bất lực, không còn đủ sức để nắm giữ chúng nữa, nên đành buông xuôi tay để chúng tuôn đi, chứ nếu còn hơi sức, chúng ta vẫn còn muốn nắm lại và giam giữ một cách tuyệt vọng những gì đã nắm được. Suốt đời, chúng ta vẫn lập đi lặp lại mãi cái cử chỉ nắm bắt, giữ gìn ấy. Và suốt đời biết bao nhiêu lần, chúng ta đã đau khổ, thất vọng, vì mọi sự vật ở đời không bao giờ chiều theo ý muốn của chúng ta mà chịu ở yên một chỗ.  Mỗi sự vật đều luôn biến chuyển, đổi thay, nay đây mai đó như một dòng sông, như một đám mây, như vó ngựa. Nói theo danh từ nhà Phật, thì sự biến chuyển đổi thay ấy gọi là luật vô thường.

 

Các pháp vô thường - (Nguyên Thanh)

Các pháp đều do các nhân duyên mà sinh và do có các duyên mà diệt. Chỉ các nhân duyên đến hay đi, nào có mặt sự sinh diệt của các ngã tướng ấy. Thực pháp thì cũng vô sinh vì nó vô ngã tướng. Nếu hiểu rõ hết thảy các pháp đều là vô thường thì liền ngay đó sẽ thấy cái bất động tâm của chính mình, do biết cái bất động tâm nên không còn sự giận hờn, ích kỷ, nhỏ mọn, tranh hơn tranh thua nữa, phải không các bạn ?! Do liễu ngộ các pháp vô thường mà chúng ta lìa xa hết tham, sân, si, mạn, nghi, lìa xa mọi nhân khổ đau, tự thân được hạnh phúc, giải thoát ngay trong hiện tại. Do liễu ngộ các pháp vô thường màphát khởi tâm đại từ bi, thương người, thương mình, có thái độ vô chấp, dễ dàng thể hiện sự đoàn kết, thống nhất các dị biệt (sự sai khác).

 

Quán thân bất tịnh - (Nguyên Thanh)

Một khi pháp quán này đã thuần thục, thì chúng ta thấy một cách tường tận như ở trước mặt thân mình và tất cả mọi người đều bất tịnh, không có gì đáng quí chuộng, ham muốn. Do đó có thể đối trị được bệnh tham sắc là một căn bệnh rất trầm trọng và nguy hiểm của con người trên bước đường tu hành. Nhưng quán thân bất tịnh là để trừ lòng tham sắc dục chứ không phải để ghê tởm thân mình, đến nỗi đi huỷ bỏ mạng sống như 60 vị Tỳ kheo trong thời Phật tại thế, sau khi quán thân bất tịnh thuần thục rồi thấy ghê tởm mình và người chung quanh đến nỗi thuê người giết đi. Đấy là một điều mà đức Phật ngăn cấm. Đừng khinh trong túi đất dơ không có ngọc, chớ cho rằng trong bể nước mặn không có vàng, trở nên tưởng rằng trong thân bất tịnh này không có Phật mà đi tìm Phật ở đâu xa.

 

Quán thực phẩm bất tịnh - (Nguyên Thanh)

Như bây giờ ta Quán thức ăn bất tịnh về một quả đu đủ. Khi bổ trái đu đủ ra thì rất thơm ngon, từng thớ thịt vàng thơm ngon mát nhìn thôi cũng đã thấy thích ăn rồi, nhưng để quả đu đủ một hoặc hai, ba,bốn ngày sau. Chúng ta thấy trái đu đủ bắt đầu nổi men trắng lên lấm thấm những hạt mốc đen bầm tím xung quanh trái đu đủ, mùi chua và mùi thối bốc lên trên những thớ thịt thơm ngon mát ấy, bây giờ nó không còn thơm ngon nữa, mà thay vào đó là sự thối rữa, đụng đâu rệu đó bể nứt ra. Vi khuẩn và giòi đục nát trái đu đủ, trái đu đủ được trở thành phân bón cho cây đu đủ khác nhờ phân bón này nên cây tốt tươi, ra hoa kết trái cho những quả ngon ngọt và như vậy, sự lưu chuyển sanh diệt của cây đu đủ đi từ dạng này đến dạng khác...

Thông tin bổ sung

  • Khổ trang: 13 x 20.5 cm
  • Số trang: 38
  • Ngày: 08/12/2005
  • Chương trình đào tạo: Lớp Chánh Kiến
  • Lời phê của Thầy: Ái ngữ chánh kiến thì phải có ái ngữ tà kiến. Vì thế bài này xác định hai vế rất rõ ràng, để xác định đâu là chánh ngữ và đâu là tà ngữ.
  • Nguồn dữ liệu: Tu sinh
  • Đặc tả tài liệu: định dạng pdf, có đánh dấu chỉ mục (bookmark)
  • Mã lưu trữ: BLA-025040
  • Tên tệp lưu trữ: (BLA-025040)-NhanQuaAiNguThuocVeTaNgu-NguyenThanh.pdf
  • Năm hiệu đính / biên tập lại: 2014
Sửa đổi lần cuối Thứ hai, 18 Tháng 12 2017 16:57
BBT

Đánh giá tổng thể (0)

0 trên 5 stars

Để lại ý kiến của bạn

Góp ý kiến như là khách

0
Ý kiến của bạn phải chịu kiểm duyệt của quản trị viên.
terms and condition.
  • Không có ý kiến nào