MỤC LỤC

I-   KHÁI NIỆM VỀ THÂN VÔ THƯỜNG   1

II-  DUYÊN HỢP CỦA THÂN VÔ THƯỜNG.. 1

III- ĐẶC TƯỚNG CỦA THÂN VÔ THƯỜNG.. 1

1-    Thân vô thường lúc c̣n trẻ. 1

2-    Thân vô thường khi về già. 1

3-    Thân bệnh vô thường. 1

4-    Thân vô thường khi chết, cũng là duyên tan hoại 1

IV- KẾT LUẬN.. 1

 

 

QUÁN THÂN VÔ THƯỜNG

Bài làm của tu sinh  Diệu Vân

LỜI PHÊ CỦA THẦY

      Bài làm “Thân vô thường” đầy đủ sự vô thường, hăy áp dụng vào đường tu tập để xả tâm con à! Đời sống con người tất cả đều vô thường, có ǵ mà không buông xả phải không con?

BÀI LÀM

---o0o---

I-   KHÁI NIỆM VỀ THÂN VÔ THƯỜNG

Đạo Phật thường nói về vô thường. Vậy vô thường là ǵ?

Vô là không, thường là diễn biến luôn luôn như nhau, lúc nào cũng như lúc nào. Vô thường là sự diễn tiến không lúc nào cũng luôn như nhau, khi vầy khi khác, luôn biến chuyển, thay đổi. Do đó, vô thường nh́n kỹ ra là một phần phát triển sâu của nhân quả, từ duyên hợp cho đến duyên tan.

Ví dụ: Nhà Phật cũng đưa ra câu chuyện “Bốn bà vợ” để minh họa rơ thân vô thường:

“Có một ông phú nông có 4 bà vợ cùng sống trong một gia đ́nh ḥa thuận. Mỗi bà vợ ông có một cách đối xử khác nhau. Bà vợ đầu th́ ông rất trọng dụng, đi đâu cũng cho đi theo. Bà vợ hai th́ ông cưng ch́u, đ̣i ǵ cũng cho; bà vợ thứ ba th́ ông rất quư và giữ ǵn, nâng niu, lúc nào cũng hỏi ư kiến, lúc nào cũng cần bà tư vấn, cũng sát cánh bên ông; c̣n bà vợ thứ tư, th́ ông dành hết thời gian cho ba bà trước nên thường quên và bỏ bê, hơi lơ là với bà tư, nên ông cũng không có cảm t́nh mặn nồng, thương mến như ba bà trên, có cũng được, không cũng chẳng sao.

Sau một cơn lâm trọng bệnh, biết ḿnh sắp chết không qua khỏi, nhưng ông muốn biết t́nh cảm các bà lâu nay đối với ông sự thật như thế nào, nên ông gọi bà vợ đầu đến và nói: “Nay ta biết ḿnh sẽ đi xa, mà ta th́ không thể ĺa bà, nên ta muốn biết bà đối với ta như thế nào, bà có thể đi với ta qua thế giới bên kia không?”

Bà vợ đầu đáp: “Tuy tôi rất thương ông, tôi cũng đă sống trọn t́nh, trọn nghĩa với ông, ông ra đi th́ ông biết việc ông, nhưng tôi c̣n nhiều việc phải quán xuyến nên không thể đi cùng ông, vậy ông đi đường ông, tôi phải tiếp tục đi đường tôi”.

Ông nghe qua trong ḷng thất vọng vô cùng. Gọi bà hai đến và cũng hỏi như vậy, th́ bà hai trả lời:

-      Tôi không đối xử tệ với ông khi c̣n sống, ông đ̣i ǵ là tôi đáp ứng ngay, tôi không thấy ân hận ǵ về t́nh cảm của ḿnh, nên khi ông ra đi tôi rất tiếc thương ông mà tiễn đưa ông đến nghĩa trang, và có lẽ tôi sẽ khóc rất nhiều khi nhớ về ông, nhưng tôi không thể ra đi cùng ông như ông muốn.

Ông cũng an ủi, ấm ḷng một chút khi nghe nói vậy và gọi bà ba đến cũng hỏi tương tự th́ bà khóc bù lu, bù loa và nói:

-      Tôi đâu có bỏ ông, sao ông bỏ tôi, ông đi rồi tôi biết nương nhờ ai đây, ông biết là tôi “liễu yếu đào tơ”, không thể sống một ḿnh mà, nếu ông mà bỏ tôi th́ tôi sẽ cưới người khác, chớ không tôi sống không nổi.

Quá thất vọng trước thái độ và câu trả lời của bà vợ thứ ba, ông cho gọi bà tư và nói:

-      Tôi biết là tôi không thương bà nhiều như các bà vợ trước, nhưng các bà ấy làm tôi thất vọng quá. Dẫu sao cũng là vợ chồng nên tôi cũng báo cho bà biết là tôi sắp ra đi, nhưng tôi cũng không hy vọng là bà sẽ đi theo tôi, v́ tôi đâu có chăm sóc bà chu đáo. Những người tôi hy vọng đều làm tôi thất vọng, nên tôi không đ̣i hỏi ở bà điều ǵ hết, chỉ báo cho bà biết là bà có thể tự do làm ǵ bà thích sau khi tôi ra đi để chuộc lại lỗi lầm mà tôi đối xử chưa công bằng với bà như các bà vợ trước.

Bà tư nghe xong từ tốn nói: “Tuy ông không thương tôi, nhưng từ khi làm vợ ông th́ tôi đă an phận chung thủy rồi, nên ông đi đâu th́ tôi đi theo đó, chớ tôi đâu c̣n ai khác mà nương nhờ”.

Ông quá cảm động, an ḷng nhắm mắt ra đi, bà vợ tư cũng chết theo sau đó”.

Nhà Phật ví bà vợ đầu như thân con người: Khi c̣n sống th́ trọng dụng, trang hoàng, khi chết th́ hết. C̣n bà vợ hai th́ ví như gia đ́nh, ḍng họ, bạn bè... khi sống th́ cưng ch́u; khi chết th́ họ t́nh nghĩa lắm chỉ nhỏ vài giọt nước mắt và đưa ra tới nghĩa trang rồi thôi. C̣n bà vợ ba th́ được coi như tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, vật chất... khi sống th́ giữ ǵn nâng niu, khi chết th́ chạy sang tay người khác liền lập tức. Chỉ có bà tư là được ví như nghiệp của ḿnh, là nhân quả thiện - ác mà ḿnh tạo tác, nó sẽ theo ḿnh suốt khi c̣n sống cho đến chết, nó phóng xuất ra từ trường thiện - ác tương ưng ngay khi c̣n sống.

Nh́n lại ông chồng và bốn bà vợ, với những sự việc vô thường, chẳng có ǵ là chắc chắn, ngay cả cái thân con thấy ngán ngẫm quá, con càng cố gắng tu hơn. Nhưng mỗi khi ngồi nhắc tâm: “Thân này là vô thường, khổ, vô ngă, không nên chấp nó là ta, là của ta, bản ngă của ta, ta hăy buông xuống hết”, nhắc th́ nhắc vậy chớ thân chóng mặt một tí là con sợ thiếu máu rồi, có buông được đâu. V́ sao vậy?

T́m hiểu nguyên nhân con biết là do con chưa thấu đáo quán xét thân vô thường, con c̣n hiểu cạn cợt quá, có bao giờ nghiêm chỉnh xét thấu cái thân vô thường này đâu, th́ làm sao có đủ lực mạnh để điều khiển cái thân vô thường, nên khi nhắc tâm cho nó mà nó cứ trơ trơ như đá, như “nước đổ đầu vịt”, như giọt nước trên lá sen vậy, có ăn thua ǵ đâu! Hiểu nguyên nhân rồi th́ phải chuyển đổi nhân quả mới là người tu, nên con quyết một lần quán chiếu thân vô thường cho tận nguồn cơn, thông qua bốn giai đoạn biểu hiện của thân là sanh - lăo - bệnh - tử, để khi nhắc tâm, tác ư có hiệu lực hơn, không c̣n mờ mịt, mà rơ rệt.

II-  DUYÊN HỢP CỦA THÂN VÔ THƯỜNG

Quán chiếu sự sanh ra thân con người th́ phần hữu h́nh là hợp duyên đầy đủ của tinh cha và huyết mẹ mà tượng h́nh nên. Biểu hiện là sự thèm chua của người mẹ khi cấn bầu (theo nhân quả thảo mộc th́ vị chua là ác pháp nhưng bà mẹ vẫn nhăn mặt nếm, tất cả v́ đứa con, nên chưa sanh mà bà mẹ đă phải chịu khổ tiếp xúc ác pháp giùm con rồi). Rồi mẹ lại lên kư, nặng nề, da sần, nổi mụn, thịt banh nứt ra, các tế bào giăn nở, mở rộng khoang bụng, tử cung cho đứa con phát triển tượng h́nh, nằm co ro, chật hẹp, ngậm cuống nhau mà sống. Người mẹ th́ bên ngoài tính t́nh cũng đổi khác như: Lo lắng hơn, trách nhiệm hơn, sắm sửa, sắp đặt gọn ghẽ, chuẩn bị cho đứa con ra đời, áo quần th́ cứ nới rộng từng tháng...

Từ những tháng đầu cho đến tháng thứ 6 th́ người mẹ lo lắng không biết con trai hay con gái, ngày đêm tẩm bổ và có biểu hiện đầy t́nh yêu thương, bảo vệ, chăm sóc, vuốt ve, vỗ về... xuất hiện nơi người mẹ. Từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 9 thai nhi tiếp nhận từ trường tương ưng thiện - ác do nhân quả nhân bản của ḿnh để h́nh thành bộ năo và hoàn chỉnh những bộ phận c̣n lại của cơ thể cho đầy đủ một con người. Lúc này thai nhi đă biết nghe và cảm nhận thông qua người mẹ, và do đó người mẹ có thể tṛ chuyện với thai nhi, và cũng có thể nghe nhạc êm dịu hoặc nhỏ nhẹ nhắn nhủ, khuyên lơn, tâm sự với thai nhi. Thai nhi sẽ đạp mạnh, mọi nhu cầu của thai nhi như đói, khát, vươn ḿnh, cựa quậy đều có tương ưng biến chuyển tạo nên sự thay đổi bất thường, khi vầy, khi khác, biểu hiện bên ngoài của bà mẹ. Thai nhi thoải mái, ở yên th́ mẹ khỏe, thai nhi không yên chật chội cựa quậy, đạp phá bên trong th́ người mẹ đau đớn bên ngoài. Có khi v́ thai nhi mà người mẹ phải ḅ, lết, đi không nổi v́ nó đau dữ dội.

Đó là cái khổ của cái thân vô thường, 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ, thai nhi bị tù túng g̣ bó cũng khổ, đến ngày sanh đẻ th́ như một cực h́nh cho cả hai mẹ con: Mẹ th́ gào thét, cắn răng, thở hổn hển muốn đứt hơi, để rặn đứa con ra, c̣n đứa con th́ bị đẩy, bị ép, bị nắn, bị lôi, bị kéo ra một chặng đường eo hẹp để thoát ra ngoài giống như chui qua địa đạo Củ Chi hay vượt qua Vạn Lư Trường Thành vậy. Người ta nói: “Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà vượt cạn mồ côi một ḿnh”, kỳ công sinh đẻ của đàn bà là một cuộc vượt cạn “đơn thân độc mă”, độc trú, độc hành. Không ai chịu được giùm cái đau của cả 2 mẹ con. Con phải chịu cái đau riêng của con, mẹ phải chịu cái đau riêng của mẹ. Kỳ tích của 2 mẹ con được đánh dấu bằng nụ cười hạnh phúc của người mẹ khi nh́n thấy mặt đứa con của ḿnh, và tiếng khóc ré lên của đứa bé khi được thức tỉnh bằng cái vỗ nhẹ vào mông.

Con rất cảm thông những ai đă từng làm mẹ, dù con không có cảm giác của người sanh đẻ. Nhưng sau một đêm tối lạnh lẽo, con bị lạc, cả đêm đi bộ trên đường phố nơi đồi núi, con cũng có một cảm giác tương tự thế và khi về nhà được th́ tự nhiên con có một niềm thương cảm, trân quư đối với các bà mẹ. Cảm giác của con lúc đó là:

“Đêm nay tôi đi bộ thật hạnh phúc

Lần đầu tiên đi trong đêm dài

Con cứ bước trong ư thức tột cùng

Một ḿnh con phải vượt qua băo bùng”.

Người mẹ cũng vậy, đau đớn đó nhưng lại hạnh phúc khi đứa con ra đời và ư thức được ḿnh đă là một người mẹ, và đă hoàn thành trách nhiệm sanh đẻ “mẹ tṛn, con vuông” với biết bao cố gắng của bản thân 2 mẹ con và sự trợ giúp của y bác sĩ đỡ đẻ và thuốc men, bệnh viện, người thân, bạn bè.

Có một chuyện vui khoa học viễn tưởng về 2 đứa bé song sinh trong bụng mẹ khi sắp ra đời, chúng tṛ chuyện lần cuối. Người em gái hỏi anh: “Anh ra trước anh sẽ làm ǵ?”, đứa con trai trả lời: “Anh sẽ là thợ điện”.

Em gái hỏi: “Sao lại là thợ điện?”, người anh trả lời: “Chớ em không thấy sao, ở đây tối om hà, 2 anh em ḿnh không thấy đường nên đụng, đạp lung tung, dây nhợ tùm lum, rối beng, để anh ra trước thắp sáng, mắc dây nhợ đàng hoàng cho em ra sau dễ dàng, không vướng víu, đụng chạm, th́ mẹ không phải đau mỗi khi chúng ta đạp nhau nữa”.

Rồi người anh hỏi lại em: “C̣n em?”, người em nói: “Em sẽ là công nhân vệ sinh, là người quét rác, dọn dẹp làm sạch, đẹp con đường”.

Người anh hỏi: “Tại sao?”, người em đáp: “Như anh biết đó, chín tháng trời chúng ta xả rác dơ bẩn, bốc mùi khiến mẹ nhăn mặt, cau có, cằn nhằn, mà chỉ có hai anh em ḿnh ở, nên ḿnh biết là nhơ nhớp không chịu nổi mùi khó chịu, phải chùi rửa thường xuyên mới sạch nổi, em không làm chuyện đó th́ ai làm, góp sức với anh cho mẹ bớt khổ”. Rồi 2 anh em cùng cười, ngoéo tay nhau như thế!

Bà mẹ năy giờ để tay lên bụng lắng nghe những đứa con chuyện tṛ mà buồn, vui lẫn lộn. Bà buồn v́ đứa con trai không làm kỹ sư tin học như bà mơ ước cho hợp thời, c̣n đứa con gái không làm bác sĩ như bà muốn. Nhưng ngẫm lại bà lại thấy vui, vui v́ 2 đứa con ḿnh rất có hiếu, đều chân thành không muốn mẹ đau khổ nên đă nghĩ hết khả năng của ḿnh để làm cho mẹ bớt đau, bớt khổ hơn… Chuyện vui thư giăn tinh thần này đă kết thúc phần sanh của thân người. V́ con chỉ biết có tới đó, nên con sẽ không nói những ǵ ḿnh chưa hiểu biết tới, hoặc chưa có kinh nghiệm kẻo mang khẩu nghiệp.

III- ĐẶC TƯỚNG CỦA THÂN VÔ THƯỜNG

1-       Thân vô thường lúc c̣n trẻ

Quán chiếu về cái thân vô thường của con người th́ ta thấy đứa trẻ nam, nữ sau khi sanh ra, lớn lên từng giờ, từng phút, từng giây, từng sát na. Mỗi giai đoạn phát triển đều có sự chuyển biến riêng biệt.

-      Về phần thân th́ tứ chi ngày một dài, to ra, mọc tóc, mọc răng, mọc mụn, móng tay, móng chân luôn mọc dài phải cắt, tóc cũng phải cắt. Mỗi sát na lớn lên đều phải có quá tŕnh đào thải tế bào chết, dư thừa như vậy th́ mới có chỗ cho tế bào mới h́nh thành. Rồi từ uống sữa, ăn bột, ăn cháo đến ăn cơm. Rồi từ lật, ḅ, đứng, đi, chạy nhảy... tất cả đều phải bắt chước, tập tành, học hỏi và tôi luyện trong sự khó khăn bước đầu, sau đó mới thuần thục, nhuần nhuyễn được.

-      Rồi đi học nhà trẻ, mẫu giáo, cấp một, cấp hai, cấp ba, đại học rồi ra trường làm việc, mỗi tháng có lương, rồi hết tuổi làm việc th́ về hưu. Ai không đi học th́ ra đời cũng kiếm có một cái nghề để làm việc lúc trẻ và già th́ không làm nổi nữa.

-       Tất cả đều phục vụ cho 3 việc: ăn, ngủ, mặc, nhưng mỗi thời điểm lớn lên đều khác nhau: Như cái ăn lúc nhỏ phải có người đút; lúc lớn th́ ngồi bàn ngay ngắn, gắp đũa, ăn muỗng, dùng nĩa tự ḿnh; c̣n cái ăn lúc già th́ run tay, gắp trượt lên, trượt xuống, lúc được, lúc không, nhai th́ nuốt trọng v́ răng rụng, răng giả.

-       Cái mặc cũng vậy, hồi bé tí má mặc cho cái nào cũng không thắc mắc, lớn một chút th́ đ̣i hỏi phải đẹp, c̣n khi đi làm th́ tự sắm sửa theo sở thích, c̣n về già th́ ăn mặc xềnh xoàng miễn che thân.

-       Cái ngủ cũng không giống nhau: Khi nhỏ phải ru mới chịu ngủ; lớn lên th́ phải dỗ dành ra kỷ luật giờ giấc, bắt ngủ; c̣n về già th́ khó ngủ, ngủ không được, thường trăn trở. Đối với người có gia đ́nh th́ khi ngủ c̣n có chuyện t́nh dục nữa, thật là nhiêu khê, vất vả, muốn ngủ yên cũng không phải dễ.

2-       Thân vô thường khi về già

Biểu hiện của tướng già là da nhăn, răng rụng, tóc bạc, thân thể mệt mỏi, lưng kḥm, kém ăn, kém ngủ, kém trí nhớ có khi bị lẫn, lẩm cẩm, làm việc, ăn uống, đi lại đều chậm chạp, khó khăn có khi phải chống gậy, nên người già sống với con cái thường có mặc cảm rằng ḿnh vô tích sự, dễ tủi thân, hờn dỗi con cháu v́ nghĩ rằng khi xưa ḿnh đă nuôi chúng khôn lớn với tất cả t́nh thương yêu mà không so đo, thắc mắc, nay chúng nuôi lại mà chúng thấy như của nợ, cái gai trước mặt, vướng víu. Chúng phải bận tâm lo nghĩ, tính toán khi một người già ở không trong nhà, nên rất là khó chịu trừ khi người già giữ con giùm chúng th́ chúng mới thoải mái mà không kêu ca, bắt bẻ từng chi tiết rất thật bất hạnh cho người già, nên có một câu chuyện về tuổi già cũng đáng suy ngẫm:

Chuyện kể rằng một gia đ́nh nọ có 3 thế hệ cùng sống chung trong một ngôi nhà gồm: Ông, bà, cha, mẹ và con cháu. Đứa cháu nhỏ nhất trong gia đ́nh thường thấy ba mẹ khó chịu về sự chậm chạp, vụng về của ông bà khi ăn cơm chung bàn, v́ ông bà thường làm rơi văi cơm và đồ ăn hoặc làm vỡ chén bát kiểu do thường tuột tay khi cầm. Một bữa nó thấy ba nó đóng một cái bàn rồi dọn bộ đồ ăn bằng nhựa riêng cho ông bà. Thế là từ đó nó không được ăn chung với ông bà nó nữa, nó liền hỏi ba rằng là tại sao không cho ông bà ăn chung bàn với nó vậy? Ba nó trả lời khéo với nó (để che đậy ư nghĩ thiếu đạo đức của ḿnh) là: “Để ông bà ăn riêng cho thoải mái là thể hiện ḷng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, ông bà”.

Ông ta cứ tưởng trả lời cho qua chuyện với đứa nhỏ, sẵn dạy suông cho nó tí ít đạo đức ḷng hiếu thảo, ai ngờ hôm sau khi đi làm về ông thấy con ông cũng đóng một cái bàn nữa trong nhà, ông thấy dư thừa mới hỏi nó đóng làm chi ? Nó trả lời: “Để cho ba mẹ khi già có bàn ăn riêng cho thoải mái là thể hiện ḷng hiếu thảo của con với cha mẹ”.

Đứa nhỏ này thiệt khờ, nó đâu biết rằng khi ba mẹ nó già th́ ông bà nó đâu c̣n sống nữa, nên cái bàn của ông bà hiện nay, có thể dùng cho cha mẹ nếu nó muốn, thiệt tội. Ôi tuổi già như ngọn đèn leo loét trước gió, yếu ớt, mỏng manh, dễ vỡ banh, cái thân vô thường đáng thương này.

3-       Thân bệnh vô thường

Khi quán chiếu về thân bệnh của con người th́ con không thấy bộ phận nào trên cơ thể con người mà không có đau bệnh. Có cái đầu th́ đau đầu, đau thần kinh, chấn thương sọ năo, vỡ sọ, nứt sọ, thiểu năng tuần hoàn năo...

-      Có con mắt th́ đau mắt, đỏ mắt, cận thị, loạn thị, viễn thị, đục thủy tinh thể, mộng thịt, bị mây che...

-      Có cái mũi th́ viêm xoang, nghẹt mũi, mới hôm qua thông suốt, hôm nay trái gió, trở trời liền thở kḥ khè liền...

-      Có cái miệng th́ bệnh đủ thứ về răng miệng như đau răng, nha chu, ho gà, viêm họng hạt, ung thư họng, đau cuống họng, tê rát lưỡi, mới hôm qua nói sang sảng, hôm nay tắt tiếng rồi...

-      Có lỗ tai th́ viêm tai, chảy mủ, điếc lác, ...

-      Có tóc th́ bị bệnh về tóc như: Găy tóc, tóc chẻ, bị gàu; bị chí, ngứa, tóc bị nấm, tóc bạc sớm...

-      Có làn da th́ bị bệnh da liễu như: Lở loét, chàm, vảy nến, dời ăn, mụn nhọt...

-      Có tứ chi th́ bị bệnh găy tay, găy chân, nhức mỏi cơ tay, chân, thấp khớp, đau ngón tay, ngón chân, thốn gót, đau mắt cá, đau nhức đầu gối, nhức xương, tủy, bị hoại tử, teo cơ chân tay, nhức vai, găy xương bả vai, khớp vai, đau khớp xương háng...

-      Có xương sống th́ đau cột sống, vôi hóa cột sống,...

Ở “lục phủ, ngũ tạng” cũng đầy bệnh như:

-      Bệnh về gan có: Viêm gan, ung thư gan, gan nhiễm mỡ, xơ gan cổ trướng...

-      Bệnh về phổi có: Lao phổi, phổi có nước, lủng phổi, viêm phổi..

-      Bệnh về thận th́ có: Sạn thận, suy thận dẫn đến bệnh tiểu đường...

-      Bệnh về tim có: Nhồi máu cơ tim, đau tim, hẹp van tim, hở van tim, suy tim...

-      Bệnh về ruột có: Đau bao tử, đau ruột dư, ung thư ruột già, bị trĩ nội, ngoại; rối loạn tiêu hóa dẫn đến táo bón, tiêu chảy, kiết lỵ, bị giun, sán trong ruột...

-      Cả máu lưu thông trên cơ thể cũng đầy bệnh như: Huyết áp cao, huyết áp thấp, ung thư máu, máu có mỡ, bệnh máu không đông...

-      Kể cả bộ phận sinh dục cũng lắm bệnh như: Viêm nhiễm bộ phận sinh dục, viêm đường tiết niệu, bệnh giang mai, hoa liễu...

Kể ra bệnh của thân con người th́ thành lập bao nhiêu bệnh viện cũng không đủ, mà khoa nào cũng có việc hết, cũng quá tải hết, mới thấy cái thân bệnh vô thường của con người không làm chủ được. Hôm qua c̣n trẻ, khỏe nên không thấy đau, hôm nay nó yếu nó đau nhức, nó muốn đau là nó đau, rồi duyên diệt hết cái bệnh này hôm nay, ngày mai nó có duyên sanh của bệnh khác. Sanh, diệt bệnh đau trùng trùng điệp điệp trên thân con người.

4-       Thân vô thường khi chết, cũng là duyên tan hoại

Cuối cùng là sự quán chiếu về cái chết của con người, chấm dứt một thân vô thường. Vừa rồi, con có dịp chứng kiến một cái chết của thím con. Thím biết ḿnh gần chết nên đi máy bay từ Mỹ về, phải có xe lăn đẩy xuống từ máy bay, vào bệnh viện cũng không chết liền, thở ôxy suốt, mê man. Trước đây thím thường gửi tiền cho con làm từ thiện nên khi lâm chung có hữu duyên chết trong chùa. Khi bệnh viện chạy rồi th́ thân thím tiếp tục được chuyển vào chùa nằm thở ôxy tiếp. Nhiều tháng liền, những người chăm sóc đă mệt mỏi với cái bệnh ung thư gan mà không chết liền. Nó hành xác rất lâu, da vàng, sưng phù lên, mắt cũng trắng dợt, vàng khè. Thím không c̣n nhận ra ai nữa. Trước khi mê man thím nhiều lần xin rút b́nh ôxy để chết nhưng không ai dám. Khi con từ Pháp về kịp lúc thím hấp hối th́ tự nhiên như có mối giao cảm từ thiện, thím mở mắt ra gọi con và than đau quá. Rồi con cũng chỉ khuyên thím buông bỏ xuống hết đi, đừng vướng mắc chuyện đời nữa, đó là tất cả những ǵ con có thể làm được cho thím lúc này thôi. Sau khi nghe con nói th́ thím thều thào nói đứt quăng từng từ: “Thím... biết... nhưng... đau... quá!”, rồi lại lịm vào mê man và ra đi. Con chợt nhắc thầm là: “Bây giờ mà ḿnh không nhắc tâm ḿnh, th́ khi hấp hối đau đớn như thím th́ làm sao nhắc tâm buông bỏ thân xác được, trước sự phân tán ră rời của thân tứ đại!”. Lúc đau đến tận cùng như thế này th́ không thể nào nghĩ được là: “Thân này không phải của ta, ta không bị kẹt vào cái thân này được”. Khi c̣n trẻ, khỏe nhắc tới, nhắc lui, mà c̣n không làm chủ được nữa là lúc hấp hối.

Nhà Phật dạy cho con biết là cái thân hữu h́nh của con người là do hợp duyên của đất như da, thịt, xương...; của nước như chất nhờn, tinh dịch, máu, huyết tương...; của gió như hơi thở...; của lửa như máu nóng, nhiệt tâm... tạo nên. Bây giờ hết duyên th́ trả lại cho đất, nước, gió, lửa của tự nhiên, nên mới có sự phân tán ră rời của tứ đại ra để trả. Cảm giác này con chưa trải qua nên con không luận bàn, chỉ xin thưa rằng: Trước khi chết thím con cho biết nó rất đau đớn, là điều con thực chứng được.

IV- KẾT LUẬN

Khi quán kỹ về cái thân vô thường qua 4 giai đoạn sanh, già, bệnh, chết của một đời người, mới thấy sự sống là một chân lư nhiệm mầu: Mỗi sát na vô thường của sự sống là bài học buông xả của tự bản thân con, nó giúp con không c̣n ham vui thú dục lạc thế gian hay lo sợ, đau khổ nữa trước bệnh tật. V́ con biết thân không phải của ḿnh, là do nhân quả thiện ác mà thành. Bệnh trên thân là quả ác pháp (có sinh, có diệt, có đến rồi có đi). Bệnh chỉ là khách trọ tạm trú trong nhà thân giả tạm vô thường, rồi sẽ qua tất cả, rời xa tất cả, không ǵ tồn tại vĩnh hằng, nhờ thế mà con có thể b́nh tâm trước mọi việc. Xin cám ơn cái thân vô thường, thay cho sự buồn phiền, lo lắng do thiếu hiểu biết trước đây bởi không có chánh kiến.

Tu sinh Diệu Vân.