MUỐN CHỨNG ĐẠO

PHẢI TU PHÁP MÔN NÀO?

 

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Qúy bạn đọc có thể thỉnh sách tại TU VIỆN CHƠN NHƯ.

Ấn bản điện tử được đăng tải tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

 

MỤC LỤC   1

Lời nói đầu. 1

THÂN HÀNH NIỆM (Kayagatasatisuttam). 1

THỰC HÀNH PHÁP MÔN THÂN HÀNH NIỆM... 1

THỰC HÀNH I: 1

ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ.. 1

Lời nói đầu. 1

MƯỜI CHÍN ĐỀ MỤC ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ.. 1

GIỚI THIỆU ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ.. 1

GIỚI NIỆM HƠI THỞ HƠI THỞ RA.. 1

BẢY ĐỀ MỤC ĐẦU NHIẾP TÂM VÀ AN TRÚ.. 1

Đề mục thứ nhất:. 1

Đề mục thứ hai:. 1

Đề mục thứ ba:. 1

Đề mục thứ tư:. 1

Đề mục thứ năm:. 1

Đề mục thứ sáu:. 1

Đề mục thứ bảy:. 1

Đề mục thứ tám:. 1

Đề mục thứ chín:. 1

MƯỜI HAI ĐỀ MỤC LY ÁC PHÁP. 1

Bài thứ nhất:. 1

Bài thứ hai:. 1

Bài thứ ba:. 1

Bài thứ tư:. 1

Bài thứ năm:. 1

Bài thứ sáu:. 1

Bài thứ bảy:. 1

Bài thứ tám:. 1

Bài thứ chín:. 1

Bài thứ mười:. 1

Bài thứ mười một:. 1

Bài thứ mười hai:. 1

THỰC HÀNH II: 1

THỰC HÀNH III: 1

THỰC HÀNH IV: 1

THỰC HÀNH V: 1

THỰC HÀNH VI: 1

THỰC HÀNH VII: 1

THỰC HÀNH VIII: 1

THỰC HÀNH IX: 1

THỰC HÀNH X: 1

THỰC HÀNH XI: 1

THỰC HÀNH XII: 1

THỰC HÀNH XIII: 1

Ma vương tấn công: 1

Ma vương không tấn công: 1

Thắng trí thứ nhất 1

Thắng trí thứ hai 1

Thắng trí thứ ba. 1

MƯỜI NĂNG LỰC.. 1

MƯỜI NĂNG LỰC THÂN HÀNH NIỆM... 1

 

 

Lời nói đầu

 

Muốn chứng đạo phải tu tập pháp môn nào?

Câu hỏi được đặt ra như vậy là có mục đích rơ ràng, khi người nào trả lời câu hỏi này là phải có kinh nghiệm tu chứng đạo. Cho nên câu trả lời này rất quan trọng. Bởi vậy người trả lời phải đắn đo suy tư cẩn thận, chớ không nên trả lời cho lấy có, nhưng trả lời như thế nào đúng và như thế nào sai pháp, nếu trả lời đúng pháp là đem lại lợi ích cho nhiều người c̣n ngược lại không lợi ích cho ai mà c̣n làm tai hại cho nhiều người khác nữa.

Cho nên muốn trả lời câu hỏi này th́ phải cân nhắc kỹ lưỡng, v́ trong Đạo Phật có 37 pháp môn tu tập. Nhưng phải hiểu rơ trong 37 pháp môn tu tập này có pháp thấp cho người mới tu, có pháp cao cho người tu lâu năm, nếu người tu tập không biết chọn cho ḿnh một pháp môn không đúng với khả năng, đặc tướng và giới luật của ḿnh đang giữ ǵn th́ sự tu tập cũng hoài công vô ích.

Kính thưa quư vị! Theo kinh nghiệm tu hành của chúng tôi mà ngày nay được làm chủ sinh, già, bệnh, chết như vậy đều nhờ vào pháp môn Thân Hành Niệm.

Trong 37 phẩm trợ đạo pháp môn Thân Hành Niệm là một pháp môn gồm đầy đủ 37 phẩm trợ đạo của Phật giáo, ngoài pháp môn Thân Hành Niệm không có pháp môn nào có đầy đủ 37 phẩm trợ đạo như pháp môn này.

 Pháp môn Thân Hành Niệm gồm có 13 pháp, trong 13 pháp môn này được tu tập theo đặc tướng của riêng từng mọi người th́ kết quả cụ thể rơ ràng thấy ngay sự giải thoát trong từng giây phút tu tập. Nhưng t́m ra pháp môn phù hợp với đặc tướng của ḿnh th́ quá khó.

V́ thế chúng tôi khéo kết hợp 13 pháp Thân Hành Niệm này trở thành một cỗ xe Thân Hành Niệm hay ít nhất cũng trở thành một căn cứ địa để giặc sinh tử luân hồi không c̣n xâm chiếm được thân tâm của chúng ta nữa.

Cỗ xe Thân Hành Niệm gồm có tất cả các hành động nội ngoại của thân, nghĩa là hành động tay, chân và hơi thở phải được sắp xếp như thế nào cho hợp lư khi đi, đứng, nằm, ngồi, cúi đầu, nh́n, ngó, liếc, v.v.. Trong các hành động trong thân c̣n một hành động tự động của thân, đó là Hơi Thở, v́ hơi thở là một hành động tự động của nội thân, nó rất quan trọng trong việc tu tập Thân Hành Niệm, nếu thiếu nó th́ pháp Thân Hành Niệm chưa đủ. V́ thế, nó cần được sắp xếp theo thứ tự như sau, thân hành nào trước, thân hành nào sau.

Khi dùng chân th́ chân trái trước hay chân mặt trước đều được. Nhưng khi dùng chân trái trước th́ đến khi dùng tay th́ cũng phải dùng tay trái trước. C̣n ngược lại cũng vậy, khi dùng chân mặt th́ cũng phải dùng tay mặt.

Nếu hành động chân trái bước rồi đến hành động chân mặt bước, khi hai chân đi được 1o bước th́ phải kết hợp với hai tay. Tay trái đưa ra trước mặt rồi tay phải cũng đưa ra trước mặt. Khi hai tay đều đưa ra trước mặt th́ hai chân co ngồi xuống. Hai chân co lại ngồi xuống th́ đưa tay trái ra sau lưng chống, rồi đến tay mặt đưa ra sau lưng chống. Khi chống hai tay xong liền hạ thân ngồi xuống. Hạ thân ngồi xuống xong th́ duỗi chân mặt ra, rồi kế duỗi chân trái. Khi hai chân duỗi ra xong th́ co chân mặt lại theo thế ngồi xếp bằng, rồi chân trái cũng co lại và gác lên chân mặt trong tu thế ngồi bán già. Khi hai chân ngồi bán già xong th́ bàn tay mặt để vào ḷng bàn chân rồi kế đó bàn tay trái cũng để vào ḷng bàn tay phải . Khi tư thế ngồi xong liền giữ lưng ngay thẳng. Khi ngồi xong lưng thẳng th́ tiếp thở năm hơi thở ra, vô. Khi thở năm hơi thở xong th́ tay trái đưa ra sau lưng chống và tay phải cũng đưa ra sau lưng chống. Khi hai tay chống xong th́ chân trái duỗi ra rồi chân mặt duỗi ra. Khi hai chân duỗi ra xong liền co chân trái lại theo tư thế ngồi chồm hổm và chân mặt cũng co lại như chân trái. Khi ngồi xong liền đưa tay trái ra trước mặt và tay phải cũng đưa ra trước mặt như tay trái. Khi đưa hai tay ra trước mặt xong liền đứng dậy, khi đứng dậy xong liền hạ tay trái xuống theo chiều dọc của thân rồi tay phải cũng hạ xuống như vậy. Khi hai tay hạ xong liền đưa tay trái ra sau lưng rồi tiếp cũng đưa tay phải ra sau lưng chồng lên tay trái. Đó là một chu kỳ pháp Thân Hành Niệm giống như một ṿng tṛn bánh xe. Khi tu tập xong một ṿng tṛn Thân Hành Niệm th́ chúng ta lại tiếp tục ṿn tṛn Thân Hành Niệm thứ hai chạy và thứ ba, thứ tư, thứ năm, v.v..

Đó là sự kết hợp các hành động nội ngoại của thân để trở thành pháp môn Thân Hành Niệm. Khi kết hợp pháp Thân Hành Niệm như cỗ xe th́ nên tu tập liên tục không bỏ phí một thời gian nào cả. Nhờ đó tâm hôn trầm, thùy miên và các niệm vọng tưởng tham sân, si, mạn, nghi đều bị dẹp sạch. Khi dẹp sạch những chướng ngại pháp này th́ Tâm Bất Động, Thanh Thản, An Lạc và Vô Sự. Đó là trạng thái tâm Vô Lậu, đây mục đích giải thoát cuối cùng của Phật giáo đă chứng đạt.

Kính ghi,

Trưởng lăo Thích Thông Lạc


THÂN HÀNH NIỆM
(Kayagatasatisuttam)

THÂN HÀNH NIỆM là một pháp môn mà chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, v́ nó là một pháp môn quan trọng nhất trong đời sống tu hành của chúng ta, nếu chúng ta không chịu khó nghiên cứu kỹ lưỡng th́ chúng ta sẽ hối hận sau này:

-      Hối hận thứ nhất chúng ta chỉ biết lư thuyết suông để khéo nói dối khiến cho thiên hạ tưởng ḿnh tu chứng đạo.

-      Hối hận thứ hai là không nắm vững các pháp hành, v́ thế tu tập không có kết quả, cuối cùng chỉ uổng phí một đời tu hành mà chẳng ra ǵ.

Bởi pháp môn THÂN HÀNH NIỆM là pháp môn duy nhất trong 37 phẩm trợ đạo của Phật giáo đ chúng ta tu tập đi đến kết quả cuối cùng là sự chứng đạo. Nếu không có pháp môn này th́ chúng ta không bao giờ tu hành chứng đạo được. Vậy chúng ta hăy lắng nghe Đức Phật dạy:

Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Thế Tôn trú ở Savatthi, (nước Xá-vệ) Jetavana (Rừng Kỳ-Đà), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Rồi một số đông Tỳ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong hội trường, câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:

-      Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! THÂN HÀNH NIỆM, khi được tu tập và làm cho sung măn, có được quả lớn, có được công đức lớn, như đă được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác tuyên bố. Và câu chuyện này giữa các Tỳ-kheo ấy đă bị gián đoạn.

Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến ngồi lên chỗ soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

-      Ở đây, này các Tỳ-kheo, các ông hiện nay đang ngồi bàn vấn đề ǵ? Câu chuyện ǵ của các ông bị gián đoạn?

-      Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại hội trường, và câu chuyện sau này được khởi lên: “Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! THÂN HÀNH NIỆM này được tu tập, được làm cho sung măn, có quả lớn, có công đức lớn, đă được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác tuyên bố”. Bạch Thế Tôn, câu chuyện này của chúng con chưa bàn xong thời Thế Tôn đến.

-      Và này các Tỳ-kheo, THÂN HÀNH NIỆM tu tập như thế nào, làm cho sung măn, như thế nào có quả lớn, có công đức lớn ?”

Đó là một đoạn kinh để giới thiệu pháp môn THÂN HÀNH NIỆM và từ đây về sau Đức Phật dạy chúng ta cách thức tu tập THÂN HÀNH NIỆM.

Đọc đoạn kinh giới thiệu pháp môn THÂN HÀNH NIỆM chúng ta cảm nhận được pháp môn THÂN HÀNH NIỆM quan trọng như thế nào trong sự tu tập cầu giải thoát của chúng ta.

Bởi vậy chúng ta phải cẩn thận nghiên cứu rất kỹ càng về pháp môn này để sau khi thực hành đều mang lại kết quả tốt đẹp.

Tại sao Đức Phật lại biết lấy THÂN HÀNH làm pháp môn tu tập để dẫn đến kết quả làm chủ sinh, già, bệnh, chết?

Như chúng ta ai cũng biết mọi hành động trong thân chúng ta đều tạo ra nhân quả thiện ác, nếu do hành động thiện của chúng ta th́ chúng ta hưởng phước báu, c̣n ngược lại hành động chúng ta tạo ác th́ chúng ta phải gặt lấy những điều đau khổ.

Do xét thấy được những điều này nên Đức Phật lấy THÂN HÀNH làm pháp môn tu tập, v́ vậy mới có tên là PHÁP THÂN HÀNH NIỆM, tức là lấy THÂN HÀNH làm niệm để tu tập, mà THÂN HÀNH là niệm có sẵn rất tự nhiên trong thân của mọi người, do đó lấy THÂN HÀNH tự nhiên làm niệm tu tập th́ không bị ức chế ư thức. C̣n ngược lại những người không biết VẬN DỤNG THÂN HÀNH làm niệm nên bị ức chế ư thức, v́ vậy rơi vào thiền TƯỞNG của ngoại đạo, KHÔNG VÔ BIÊN XỨ TƯỞNG, THỨC VÔ BIÊN XỨ TƯỞNG, VÔ SỞ HỮU XỨ TƯỞNGPHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ.

Khi bị rơi vào các loại định TƯỞNG này th́ không bao giờ ly dục ly ác pháp. Cho nên tâm THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI bao giờ cũng không quét sạch được.


THỰC HÀNH
PHÁP MÔN THÂN HÀNH NIỆM

Muốn chứng đạt chân lư TÂM VÔ LẬU chứng ta hăy nghiên cứu kỹ pháp môn THÂN HÀNH NIỆM, một pháp môn độc nhất vô nhị của Phật giáo mà không có một tôn giáo nào có. Pháp môn THÂN HÀNH NIỆM lấy thân hành làm đối tượng tu tập nhiếp tâm và an trú tâm.

Trong pháp môn THÂN HÀNH NIỆM có 13 pháp môn tu tập, nhưng trước khi muốn tu tập th́ phải làm sao kết hợp 13 pháp môn này trở thành một pháp môn duy nhất sao cho phải có sự tu tập kết hợp liên tục như trong kinh THÂN HÀNH NIỆM đă dạy:

“- Này các Tỳ-kheo, THÂN HÀNH NIỆM được thực hành, được tu tập, được làm cho sung măn, được làm như cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên tŕ, được làm cho tích tập”

(Kinh Trung Bộ tập I).

Theo như lời dạy trên đây th́ 13 pháp môn này được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ địa, được làm cho kiên tŕ, được làm cho tích tập th́ chúng ta tu tập sẽ chứng đạt chân lư không khó khăn, không có mệt nhọc. Nói th́ dễ nhưng làm như cỗ xe, như căn cứ địa, được làm cho kiên tŕ, được làm cho tích tập là phải làm sao? Làm như thế  nào?

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, muốn làm được những điều này th́ phải có ư chí kiên cường, phải gan dạ, phải bền ḷng không được chùn bước trước mọi khó khăn, trước mọi gian nan thử thách. Đó là  một công phu bằng máu và nước mắt của chính ḿnh.

Đây là một cuộc chiến đấu với giặc sinh tử, v́ chúng ta không muốn làm những người nô lệ cho giặc nên phải dốc cho hết sức lực ra chiến đấu tận cùng. Một đất nước muốn dân tộc nước đó sống được độc lập tự do, hạnh phúc th́ toàn dân nước đó đều phải ra chiến trường chiến đấu đuổi giặc.

Giặc sinh tử cũng vậy, nếu ai muốn làm chủ sự sống chết th́ phải nhất định không đầu hàng, không làm nô lệ cho giặc sinh tử th́ con đường tu tập mới có được kết quả tốt đẹp. C̣n những người sợ khó, sợ cực nhọc, sợ chết nên bỏ cuộc không dám tu tập nữa. Những người này cũng giống như khi giặc ngoại bang sang xâm chiếm nước ta, có một số người Việt Nam chạy theo giặc làm tay sai cho chúng trở lại hại người Việt Nam. Đó là những kẻ cơng rắn cắn gà nhà mà lúc bấy giờ người ta gọi những người này là Việt gian.

Những người chiến đấu với giặc sinh tử cũng vậy, có những người không chịu khó tu tập làm chủ sự sống chết, chỉ tu tập cho lấy có, thường thích sống chạy theo dục lạc thế gian, ăn ngủ phi thời, không chịu khó đi kinh hành, chỉ thích ngồi mà ngồi nhiều th́ hôn trầm, thùy miên, vô kư sẽ tấn công và như vậy họ ngồi giống như con gà mổ thóc. Do tâm niệm lười biếng này có một số người trở lại chê Phật pháp. Cho Phật giáo là yếm thế tiêu cực, chớ họ đâu biết biết rằng Phật giáo là một tôn giáo tích cực trong cuộc sống để mang lại sự an vui cho ḿnh cho người và tất cả chúng sinh.

Do hiểu biết những lời dạy của Đức Phật chúng ta nên lưu ư qua các bài kinh mà Đức Phật giảng dạy, nhất là bài kinh THÂN HÀNH NIỆM được các Tỳ-kheo trong thời Đức Phật khi gặp nhau thường ca ngợi pháp môn này hết mức:

“- Thật vi diệu thay, chư hiền giả! Thật hy hữu thay, chư hiền giả! THÂN HÀNH NIỆM, khi được tu tập và làm cho sung măn, có được quả lớn, có được công đức lớn, như đă được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-La-Hán, Chánh Đẳng Giác tuyên bố”.

Khi chúng ta có tu tập mới thấy kết quả của pháp môn này thật là vi diệu, khiến cho hôn trầm, thùy miên, vô kư, ngoan không và loạn tưởng được dẹp sạch.

Bởi trong 13 pháp môn tu tập này, nếu chúng ta chọn lấy một pháp môn nào cho phù hợp với khả năng và đặc tướng của ḿnh th́ sự tu tập mới thấy kết quả ngay liền, bằng không chọn kỹ sẽ tu tập sai pháp, sai đặc tướng và khả năng th́ không có kết quả mà c̣n bị rối loạn hô hấp hay các cơ bắp, sinh ra đau nhức hay mệt mỏi và nhiều chứng bệnh khác nữa. Nhất là hôn trầm, thùy miên, vô kư lại tăng trưởng nhiều hơn. Cho nên tu tập không được tu tập quá sức, phải tu tập theo thời khóa biểu của người mới vào tu viện tu tập, không nên tu tập theo những người tu tập lâu năm. Tu tập không nên tranh hơn thua với bất cứ một người nào cả mà phải tu tập trong khả năng của ḿnh, nhất là không nên tự tăng giờ tu tập theo ư muốn của ḿnh, không nên tự kiến giải ra cách thức tu tập mà phải theo kinh nghiệm của người đă tu tập trước làm chủ sinh, già, bệnh, chết.

Pháp môn THÂN HÀNH NIỆM là một pháp môn đệ nhất giải thoát trong các pháp môn của Phật giáo, tu là có kết quả ngay liền nên Đức Phật dạy:

“Pháp Ta không có thời gian đến để mà thấy”.

V́ vậy, pháp tu tập có kết quả ngay liền th́ phải thưa hỏi kỹ lưỡng từng hành động tu tập rồi mới tu. Pháp môn THÂN HÀNH NIỆM tuyệt vời trong lộ tŕnh tu tập giải thoát, v́ vậy xin quư vị vui ḷng cẩn thận khi muốn tu tập pháp môn THÂN HÀNH NIỆM:

-      Điều thứ nhất là quư vị nên chọn cho ḿnh một vị thầy đă tu chứng đạo.

-      Điều thứ hai là quư vị nên xin thân cận với người thiện hữu tri thức này.

-      Điều thứ ba mỗi hành động trước khi được tu tập đều được tŕnh lên cho thiện hữu tri thức biết.

-      Điều thứ tư khi tu tập có kết quả hay không kết quả đều thưa hỏi kỹ lại với người thiện hữu tri thức.

-      Điều thứ năm khi tu tập có chướng ngại pháp ǵ đều phải thưa tŕnh với người thiện hữu tri thức.

-      Điều thứ sáu khi tu tập có kết quả tốt đẹp nào th́ cũng nên thưa tŕnh với người thiện hữu tri thức.

-      Điều thứ bảy khi người thiện hữu dạy như thế nào th́ tu tập như thế nấy đừng nên tự kiến giải ra pháp tu hành mới mà lọt vào tà thiền của ngoại đạo.

-      Điều thứ tám lấy người thiện hữu làm thước đo sự tu tập của ḿnh, đừng tự măn cho ḿnh tu là đúng, trong khi tu tập sai ḿnh không thể nào biết ḿnh tu sai mà chỉ có người thiện hữu tri thức mới biết ḿnh tu sai.

-      Điều thứ chín khi ḿnh tu tập sai, người thiện hữu dạy ḿnh sửa th́ nên sửa ngay liền, không nên tu tập theo lối cũ mà phải tu tập theo người thiện hữu tri thức hướng dẫn.

-      Điều thứ mười khi tu tập chỉ cần tu hành đúng pháp đừng cầu mong phải đạt pháp này pháp kia, nhất là phải ngồi thiền nhập định một hai giờ hoặc biết chuyện quá khứ vị lai hoặc thị hiện thần thông biến hóa tàng h́nh, v.v.. Trong khi tu hành chỉ cần biết tâm ḿnh BẤT ĐỘNG hay đang BỊ ĐỘNG là đủ sức tĩnh giác làm chủ thân tâm ḿnh.

Trước khi tu tập ḿnh phải hiểu rơ thế nào là tâm BẤT ĐỘNG và như thế nào là tâm BỊ ĐỘNG ?

Một người đang giữ ǵn TÂM BẤT ĐỘNG, có người nói xấu hoặc chửi mắng ḿnh, ḿnh nghe thấy không sót một lời nói nào, nhưng ḿnh vẫn thản nhiên. Đó là tâm anh BẤT ĐỘNG. TÂM BẤT ĐỘNG là pháp giải thoát thực tế và cụ thể của Phật giáo mà Đức Phật thường dạy chúng ta tu tập: “Pháp Ta không có thời gian đến để mà thấy”.

Thật là pháp giải thoát tuyệt vời và vi diệu, người nào tu tập có giải thoát ngay liền. Bởi vậy người có đầy đủ phước duyên mới gặp được chánh pháp này. Nếu gặp Chánh pháp này th́ phải nói rằng, đó là người đă gieo căn lành nhiều đời nên đời này mới gặp được Chánh pháp giải thoát của Phật như vậy.

Chúng ta hăy nh́n xem những người gặp được Chánh pháp và tu tập theo Phật giáo th́ giống như một hạt nước trên biển cả, c̣n những người chưa gặp Chánh pháp của Phật như cát sa mạc trùng trùng lớp lớp không biết bao nhiêu người kể sao cho hết.

Người giữ ǵn được tâm BẤT ĐỘNG th́ khổ đau biến mất, chỉ c̣n lại sự thanh thản, an lạc và vô sự trong tâm. Đó là cảnh giới Cực Lạc, Thiên Đàng mở cửa. Và như vậy cảnh giới Thiên Đàng và Cực Lạc không có ở trên Trời, mà cũng không có ở trong cơi Phật mà ở trong ḷng con người.

 Ngược lại người nào không muốn giải thoát ĺa TÂM BẤT ĐỘNG th́ ngay đó tâm tham lam, sân, si, giận hận, phiền năo khởi lên ngút ngàn, v.v..

Từ chỗ tâm tham, sân, si, mạn, nghi không làm chủ được nó th́ muôn ngàn ác pháp bên ngoài tấn công vào thân tâm khiến tâm BỊ ĐỘNG. Khi tâm BỊ ĐỘNG chúng ta phải chịu biết bao nhiêu sự khổ đau. Và v́ thế chúng ta đă rơi xuống các tầng địa ngục.

Cho nên, địa ngục không phải ở bên ngoài hay dưới ḷng đất mà ở ngay trong tâm của mọi người. Do hiểu biết như vậy nên Đức Phật dạy chúng ta hăy giữ ǵn TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ.

Đối với Phật pháp chúng ta không tu tập th́ không có giải thoát, mà hễ có tu tập là có giải thoát ngay liền. Pháp của Phật là pháp rất thực tế, cụ thể như vậy, nên chúng tôi xin khuyên quư vị hăy lo tu tập cứu ḿnh trong biển khổ sinh tử luân hồi.

Nhất là các pháp trong thế giới này đều vô thường nó sẽ không chờ đợi một ai. Hôm nay chúng ta c̣n gặp nhau, nhưng ngày mai hay vĩnh viễn chúng ta sẽ không c̣n bao giờ gặp nhau nữa. Do biết các pháp vô thường như vậy, nên trong cuộc sống chúng ta hăy thương yêu nhau hơn, đừng t́m cách hại nhau mà nhân quả không tha thứ cho một ai, nếu thời tiết nhân duyên đến th́ có trốn đâu cũng không khỏi.


Pháp Thân Hành Niệm thứ nhất:

HƠI THỞ

Do tán thán, ca ngợi pháp môn THÂN HÀNH NIỆM này nên Đức Phật tùy nhân duyên và đặc tướng của mọi người mà Ngài chỉ dạy cách thức tu tập. Trước tiên muốn tu tập Pháp THÂN HÀNH NIỆM là phải chọn lấy hơi thở, khi tu tập hơi thở (THÂN HÀNH NIỆM NỘI) th́ phải ngồi. Do ngồi tu tập nên có tám yếu tố cần phải biết như sau:

1-       T́m nơi thanh vắng, yên tịnh như rừng, núi, đồng trống vắng vẻ hoặc ngôi nhà bỏ trống, v.v..

2-       Ngồi lưng thẳng trong tư thế ngồi nào cũng được, nhưng lưng phải thẳng, đầu không được cúi.

3-       Phải an trú chánh niệm trước mặt.

4-       Chánh niệm biết hơi thở vô, hơi thở ra.

5-       Chánh niệm hơi thở dài vô biết hơi thở dài vô, chánh niệm hơi thở dài ra biết hơi thở dài ra.

6-       Chánh niệm hơi thở ngắn vô biết hơi thở ngắn vô, chánh niệm hơi thở ngắn ra biết hơi thở ngắn ra.

7-       Chánh niệm cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô, chánh niệm cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra.

8-       Chánh niệm an tịnh thân hành tôi sẽ thở vô, chánh niệm an tịnh thân hành tôi sẽ thở ra.

Trên đây là tám yếu tố hơi thở đầu tiên cần phải tu tập, nhưng phải giữ ǵn tâm không phóng dật, siêng năng tu tập không bỏ phí giờ giấc nào cả. Mỗi lần tu tập th́ phải hết sức nhiệt tâm ghi nhận vào pháp tu tập chứ không phải tu tập lấy có mà phải tu tập rất kỹ lưỡng, nhưng không được tu quá sức, tu đúng với sức của ḿnh. Nếu sức của ḿnh chỉ tu tập có một phút th́ nên tu tập một phút, không nên tu tập nhiều hơn, v́ tu tập nhiều hơn sẽ bị rối loạn hô hấp hoặc cơ thể.

Nhờ có tu tập đúng pháp, đúng sức lực của ḿnh th́ vọng niệm về thế tục tham, sân, si, mạn, nghi sẽ được đoạn trừ, khi nó được đoạn trừ th́ tâm không c̣n khởi niệm nữa. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy nên nội tâm được AN TRÚ, AN TỌA, CHUYÊN NHẤT, ĐỊNH TĨNH. Đó là những kết quả tu tập đúng pháp, đúng với sức lực của ḿnh, c̣n nếu ngược lại tu sai th́ cũng nhiều tai họa xảy ra. Cho nên, khi tu tập th́ nên ở gần thiện hữu tri thức. Muốn biết rơ điều này chúng ta hăy đọc kỹ lời dạy của Đức Phật th́ rơ:

“Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra” vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập THÂN HÀNH NIỆM.

Đọc đoạn kinh này chúng ta biết ngay hơi thở là một pháp môn THÂN HÀNH NIỆM rất quan trọng trong sự tu tập giai đoạn thứ nhất để đạt được tâm AN TRÚ, AN TỌA, CHUYÊN NHẤT, ĐỊNH TĨNH.

Chúng ta đừng nghĩ rằng: Khi tu tập HƠI THỞ là chỉ biết nương vào HƠI THỞ ra và HƠI THỞ vô. Không phải vậy thưa quư vị!

Trong pháp môn HƠI THỞ có 19 đề mục tu tập riêng về HƠI THỞ, nhưng ở đây HƠI THỞ được gọi là pháp môn THÂN HÀNH NIỆM là để cho những người đă tu tập xong 19 đề mục HƠI THỞ, c̣n những người nào tu tập chưa xong 19 đề mục th́ không nên tu tập HƠI THỞ trong pháp môn THÂN HÀNH NIỆM.

Về HƠI THỞ, một vị thầy có nhiều kinh nghiệm mới dám hướng dẫn tu tập 19 đề mục HƠI THỞ. Nếu không có một vị thầy dạy chuyên về HƠI THỞ th́ không nên tự ḿnh tu tập, v́ tu tập sai HƠI THỞ và không xác định đúng ĐẶC TƯỚNG của ḿnh th́ đó là một sự nguy hại trên bước đường tu tập.

Người mới tu tập chỉ làm quen với HƠI THỞ, chớ không thể tu tập pháp môn THÂN HÀNH NIỆM HƠI THỞ được. Sau khi tu tập 19 đề mục HƠI THỞ thuần thục, nhuần nhuyễn th́ mới nhận ra được trạng thái AN TRÚ, AN TỌA, CHUYÊN NHẤT, ĐỊNH TỈNH.

Bởi v́ người tu tập pháp môn THÂN HÀNH NIỆM là người không c̣n bị rối loạn hô hấp. Nếu một người chưa bao giờ tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ mà tu tập pháp môn THÂN HÀNH NIỆM HƠI THỞ đều bị rối loạn hô hấp.

Tuy pháp môn THÂN HÀNH NIỆM là một pháp môn nhưng gồm chung các THÂN HÀNH. Các THÂN HÀNH trong thân gồm có:

1-      Thân hành do tay, chân.

2-      Thân hành do miệng lưỡi.

3-      Thân hành do ư thức.

Cho nên, người nào tu tập pháp môn THÂN HÀNH NIỆM là tu tập tất cả hành động THÂN, MIỆNG, Ư. Tu tập tất cả hành động THÂN HÀNH như thế nào?

Từ lâu chúng ta không quan tâm cẩn thận mỗi hành động trong thân của ḿnh nên muốn làm một điều ǵ th́ cứ làm, cho nên việc làm cẩu thả không khéo léo thường thất bại. Trong những hành động thất bại đó, dù có thể đem đến sự đau khổ cho ḿnh cho người và cho tất cả chúng sinh mà cứ vẫn làm.

Hôm nay th́ khác, v́ từ khi biết Phật pháp th́ sự cẩn thận trong mỗi hành là điều cần thiết đem đến sự b́nh an yên vui cho ḿnh cho người và cho tất cả chúng sinh.

Cho nên v́ hạnh phúc cho ḿnh cho người và tất cả chúng sinh nên mỗi hành động của thân phải có ư tứ cẩn thận. Ư tứ cẩn thận mỗi hành động của thân tức là TỈNH THỨC trong THÂN HÀNH. Muốn được tỉnh thức trong THÂN HÀNH th́ nên tu tập 19 đề mục HƠI THỞ. Xin quư vị vui ḷng nghiên cứu lại pháp môn ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ, v́ pháp môn ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ đă dạy phương pháp tu tập rất rơ ràng từ sơ cơ đến đạt được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ.

Dưới đây là bài pháp dạy về ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ.

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ

 

 



 

 

Lời nói đầu

 

 

 

Trong bài pháp Định Niệm Hơi Thở Đức Phật dạy gồm có 16 đề mục tu tập. Nhưng 16 đề mục này là 16 pháp môn để tu tập đối trị 16 chướng ngại pháp trong thân tâm, chứ không phải 16 đề mục này là một chuỗi pháp môn tu tập từ thấp đến cao của hơi thở. Định niệm hơi thở không phải là một pháp tu tập để nhập định. Từ xưa cho đến ngày nay mọi người đều hiểu sai lầm về Định Niệm Hơi Thở, biến nó trở thành một pháp môn ức chế tâm như Lục Diệu Pháp Môn của tổ Thiên Thai Tông.

Kính thưa quư vị! Khi mới tu tập hơi thở tức là làm quen với tất cả đề mục hơi thở. Một thời gian tu tập trong một năm th́ thuần quen với mọi đề mục hơi thở th́ không c̣n tập luyện nữa. Lúc bấy giờ người tu sĩ được chuyển qua tu tập Tứ Chánh Cần. Khi tu tập Tứ Chánh Cần th́ phải tùy theo những chướng ngại trên thân, thọ, tâm và pháp mà trạch ra những câu tác ư đúng đề mục Định Niệm Hơi Thở th́ diệt trừ những chướng ngại, ác pháp rất dễ dàng.

Đọc kinh sách Nguyên thủy ai cũng biết Định Niệm Hơi Thở có 16 đề mục, nhưng khi đọc bài kinh pháp Thân Hành Niệm th́ trong đó Đức Phật lại dạy thêm 2 đề mục hơi thở nữa. Nhưng khi đọc đến bài kinh giáo giới La Hầu La về hơi thở th́ Đức Phật lại dạy thêm một đề mục hơi thở nữa. Như vậy Định Niệm Hơi Thở gồm có 19 đề mục hơi thở cả thảy.

Vấn đề này theo kinh nghiệm tu tập của chúng tôi, khi sử dụng hơi thở đi song song với câu pháp hướng tâm. Thường chúng tôi trạch pháp một câu tác ư cho phù hợp và chính xác của cảm thọ tâm hay thân để đuổi các chướng ngại pháp, th́ kết quả các chướng ngại pháp không c̣n tác dụng vào thân tâm một cách cụ thể và rơ ràng.

V́ thế, khi tu tập xả tâm ly dục ly ác pháp mà gặp chướng ngại trên thân, thọ, tâm th́ chúng tôi liền trạch một câu pháp tác ư cho tương ưng, cho phù hợp và chính xác, th́ ngay đó đuổi chướng ngại pháp đi liền. Câu tác ư ấy xét lại ư nghĩa th́ chẳng khác ǵ những đề mục Định Niệm Hơi Thở. Nhờ tu tập theo đề mục hơi thở như vậy, chúng tôi dẹp trừ những chướng ngại pháp không có khó khăn không có mệt nhọc. Cho nên, thân tâm của chúng tôi luôn được bất động, thanh thản, an lạc và vô sự.

Định Niệm Hơi Thở là một phương pháp tu tập có kết quả lớn và lợi ích lớn cho thân tâm mà không thể lường được. Nó làm cho Tứ Niệm Xứ sung măn thể hiện được đầy đủ bảy năng lực giác chi, tức là Tứ Thần Túc. Nếu không có những đề mục Định Niệm Hơi Thở th́ khó mà Tứ Niệm Xứ sung măn.

Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, trong chúng Tỳ Kheo này, có những Tỳ Kheo chuyên tâm, chú tâm nhập tức xuất tức niệm (tu tập Định Niệm Hơi Thở). Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỳ Kheo được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến quả lớn, công đức lớn, làm cho sung măn khiến Bốn Niệm Xứ được viên măn”.

Định Niệm Hơi Thở là một phương pháp đẩy lui các chướng ngại pháp trên thân tâm đem lại sự b́nh an cho thân tâm. Nếu ai tinh cần siêng năng tu tập cho thuần thục các đề mục Định Niệm Hơi Thở, khi gặp chướng ngại, liền tức khắc dùng ngay đề mục Định Niệm Hơi Thở, tương ưng thiện pháp để đẩy lui chướng ngại, ác pháp đó, th́ đuổi nó đi tức khắc.

Đây là một phương pháp lợi ích rất lớn cho con đường tu tập của quư vị; lợi ích rất lớn cho đời sống của quư vị; lợi ích rất lớn cho nền đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ cả hai của quư vị.

Nếu quư vị tu tập Định Niệm Hơi Thở để đẩy lui các chướng ngại trong thân tâm mà c̣n biết áp dụng sống đúng giới luật để chuyển hóa nghiệp ác th́ tuyệt vời, quư vị quả là sáng suốt. V́ năng lực của Định Niệm Hơi Thở là một năng lực nội thân cộng thêm năng lực sức chuyển hóa của giới luật khiến cho nghiệp báo muôn đời dù cực ác đến đâu cũng đều bứng sạch gốc.

Quư vị đừng lầm pháp môn Định Niệm Hơi Thở với các pháp môn Hơi Thở kiến giải của các nhà học giả như: Sổ Tức Quan, Lục Diệu Pháp Môn, Thiền Hơi Thở: Phong, Khí, Siển, Tức, Minh Sát Tuệ Phồng Xẹp, Hơi Thở Yoga, v.v.. Đó là những loại pháp môn hơi thở ức chế tâm quư vị đề pḥng, v́ đó là những pháp tu tập sẽ dễ bị rối loạn hô hấp và thần kinh. Những pháp môn hơi thở này không giống pháp môn hơi thở của Phật chút nào, xin quư vị lưu ư.

Bởi vậy, pháp môn Định Niệm Hơi Thở là một pháp môn tối cần thiết cho người tu tập theo đường lối Phật giáo. Nó giúp cho quư vị tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần: Ngăn ác, diệt trừ ác pháp, sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp như một trợ lư văn pḥng đắc lực. Nhờ có tu tập Định Niệm Hơi Thở quư vị mới thấy kết quả ngay liền làm chủ cuộc sống của quư vị một cách hiệu quả vô cùng chính xác đem lại cho bản thân, gia đ́nh và xă hội b́nh an hạnh phúc mà loài người hằng mơ ước.

Biết pháp môn Định Niệm Hơi Thở lợi ích lớn như vậy nên chúng tôi ghi chép ra thành tập sách mỏng để làm sách gối đầu nằm, xin quư vị xem đây là một báu vật vô giá mà Đức Phật đă ban cho nhân loại với những danh từ mộc mạc đơn sơ mà Đức Phật thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Kết quả lớn, lợi ích lớn”.Nhưng mọi người không ngờ là một kết quả và lợi ích to lớn thật sự như vậy cho đời sống loài người.

Ghi chép thành tập sách này chúng tôi ước nguyện cho mọi người may mắn gặp được sách này để tự cứu ḿnh thoát ra muôn vàn sự khổ đau của kiếp làm người.

Sau cùng, nếu tập sách này đến tay quư vị có điều chi sơ sót xin quư vị bỏ qua hay chỉ cho chúng tôi biết, để kỳ tái bản tới sẽ bổ sung được đầy đủ hơn. Xin chân thành cảm ơn quư vị.

Trưởng lăo Thích Thông Lạc

Kính ghi

Chơn Như ngày 24 - 8 - 2006

 

 

 

 

 

MƯỜI CHÍN ĐỀ MỤC
ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ


 

 

 


 

GIỚI THIỆU
ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ

ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ là một pháp môn tuyệt vời. Trước khi muốn tu tập pháp môn này quư Phật tử nên chọn một nơi thanh vắng và yên tĩnh, ít có người qua lại. Khi chọn được xong chỗ ngồi, quư vị ngồi xuống, ngồi kiết già hoặc bán già đều được cả, phải giữ ǵn lưng thẳng, quay mặt vào vách, hay gốc cây, hai mắt nh́n xuống chóp mũi, không nên nhắm mắt. Khi tư thế ngồi xuống xong, thân yên ổn th́ quư vị bắt đầu hít vào một hơi thở chậm chậm và dài. Khi nào hít vào hết sức hít th́ quư vị lại thở ra cũng chậm chậm nhẹ và dài. Khi thở ra hết th́ quư vị trở lại hơi thở b́nh thường, kèm theo pháp tác ư hướng tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Khi thở đúng 5 hơi thở th́ quư vị lại nhắc tâm: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Rồi lại tiếp tục thở b́nh thường như trên. Khi thấy hơi thở ra vào đều đều, tâm gom tại nhân trung th́ quư vị cứ tiếp tục tu tập vừa tác ư vừa hít thở cho đến tu tập như vậy được 30’ mà không có một niệm nào xen vào, th́ đó là kết quả thứ nhất của sự nhiếp tâm trong hơi thở. Khi tu tập được 30’ không có một niệm nào xen vào trong hơi thở th́ không cần phải tác ư câu: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra” nữa, mà phải nhắc bằng những câu khác để xả tâm ḿnh trong khi đang thở.

Thí dụ nhắc tâm bằng câu: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra” rồi quư vị thở 5 hơi thở. Sau đó lại nhắc tâm: “Quán ly sân, tôi biết tôi hít vô, quán ly sân tôi biết tôi thở ra”, rồi thở tiếp 5 hơi, và tác ư nhắc tâm: “Quán ly si, tôi biết tôi hít vô, quán ly si tôi biết tôi thở ra”, rồi quư vị cứ tiếp tục 5 hoặc 10 hơi th́ một lần hướng tâm tác ư như sau:

“Quán đoạn dứt tâm tham, tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm tham tôi biết tôi thở ra”.

“Quán đoạn dứt tâm sân, tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm sân tôi biết tôi thở ra”.

“Quán đoạn dứt tâm si, tôi biết tôi hít vô, quán đoạn dứt tâm si tôi biết tôi thở ra”.

Như thế, cứ cách 5 hơi thở th́ một lần hướng tâm (đừng để cho một niệm khác xen vào trong khi ta thở và tác ư).

Khi tu tập Định Niệm Hơi Thở như vậy độ 30 phút th́ quư vị xả nghỉ. Nếu quư vị có sức ngồi tu tập bền lâu th́ cũng nên tu tập 30 phút rồi xả nghỉ, không nên tăng hơn. Suốt trong ngày đêm Thọ Bát Quan Trai Giới, quư vị cứ tu tập từng hành động, trong công việc làm, hay lúc đi kinh hành, luôn luôn tu tập Định Niệm Hơi Thở kèm theo pháp hướng để xả tâm th́ thân tâm quư vị sẽ được thanh thản và an lạc.

Đây là bài tham khảo thêm về Giới Niệm Hơi Thở, hơi thở ra, hơi thở vô để quư Phật tử nghiên cứu. Pháp môn Giới Niệm Hơi Thở Ra Hơi Thở Vô, nó là một pháp môn mang lại lợi ích rất lớn cho công cuộc chiến đấu với mặt trận sinh tử luân hồi của nhân quả quư vị.


GIỚI NIỆM
HƠI THỞ
VÔ HƠI THỞ RA

Bắt đầu học, tu tập và muốn đạt được một đời sống GIỚI HẠNH NIỆM HƠI THỞ RA, HƠI THỞ VÔ nghiêm chỉnh th́ phải thông hiểu: Giới đức, giới hạnh và giới hành của HƠI THỞ. Vậy giới đức, giới hạnh và giới hành của giới hành niệm HƠI THỞ ra, HƠI THỞ vô là ǵ?

Giới đức NIỆM HƠI THỞ RA HƠI THỞ VÔ là những lời dạy đạo đức về đời sống đạo đức của con người trong HƠI THỞ tức là CHÁNH KIẾN.

Giới hạnh NIỆM HƠI THỞ RA, HƠI THỞ VÔ là những lời dạy về HÀNH ĐỘNG ĐẠO ĐỨC thường thể hiện qua giới hành niệm HƠI THỞ RA, HƠI THỞ VÔ như: Nói, nín, tiếp giao với mọi người, v.v.. đều nương vào HƠI THỞ tĩnh giác mà tiếp giao, nhớ đừng bao giờ quên HƠI THỞ như vậy được gọi là CHÁNH TƯ DUY.

Trước khi muốn tu tập về giới hành niệm HƠI THỞ ra, HƠI THỞ vô th́ các bạn hăy lắng nghe lời Đức Phật dạy La Hầu La. La Hầu La là người con trai duy nhất của Đức Phật. Đây là lời dạy LA HẦU LA tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ của đức Phật: “Này La Hầu La, hăy tu tập sự tu tập về niệm HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra, làm cho sung măn, nên được quả lớn, được lợi ích lớn.

Và này La Hầu La, thế nào là tu tập niệm HƠI THỞ ra, HƠI THỞ vô làm cho sung măn nên được quả lớn, được lợi ích lớn?”.

(Kinh Trung Bộ, Tr.329 - Kinh Giáo giới La Hầu La)

Ở đây lời dạy này có những danh từ khó hiểu như: Làm cho sung măn, được quả lớn, được lợi ích lớn. Vậy làm cho sung măn như thế nào? Được quả lớn, được lợi ích lớn như thế nào?

Chữ sung măn có nghĩa là đầy đủ, sung túc, tràn đầy, dư thừa không thiếu hụt. Tóm lại, trước khi thực hiện nghĩa này th́ phải tập an trú tâm trọn vẹn trong HƠI THỞ. An trú tâm trọn vẹn trong HƠI THỞ tức là biết HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, thoải mái, an lạc, đó là làm cho tràn đầy sung túc, dư thừa, không thiếu về niệm HƠI THỞ.

Quả lớn là ǵ?

Quả lớn có nghĩa là kết quả to lớn của sự tu tập về HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra. Quả lớn c̣n nghĩa là kết quả của sự tu tập đạt được sự giải thoát một cách cụ thể rơ ràng, hay nói cách khác là làm chủ được sanh, già, bệnh, chết tức là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ.

Được lợi ích lớn là ǵ?

Lợi ích lớn có năm nghĩa là:

1-      Đời sống được an vui, hạnh phúc không có ác pháp nào làm dao động được tâm, tâm luôn luôn thanh thản, an lạc và vô sự, thường thản nhiên trước mọi dục lạc thế gian, mọi sự cám dỗ vật chất, mọi ác pháp, v.v..

2-      Làm chủ được tuổi già có nghĩa là khỏe mạnh quắc thước như một thanh niên cường tráng.

3-      Làm chủ được mọi bệnh tật không sợ ốm đau như người thường tục.

4-      Làm chủ được sự sống chết, muốn sống th́ sống, muốn chết th́ chết.

5-      Chấm dứt tái sanh luân hồi.

Trên đây là năm điều lợi ích lớn của kiếp sống làm người do tu tập HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra.

Vậy trước khi muốn tu tập giới hành HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra th́ chúng ta hăy lắng nghe Đức Phật dạy La Hầu La: “Ở đây này La Hầu La, vị Tỳ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tĩnh giác, vị ấy thở vô, biết thở vô, vị ấy thở ra, biết thở ra”.

Đọc đoạn kinh này chúng ta cần lưu ư những từ sau đây: Khu rừng, gốc cây, ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt, tĩnh giác.

Vậy khu rừng, gốc cây, ngôi nhà trống là địa điểm để tu tập, có nghĩa là t́m nơi chốn yên tịnh, vắng vẻ để tu tập HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra. Nếu địa điểm không t́m được như trên Đức Phật đă dạy, th́ sự tu tập về HƠI THỞHƠI THỞ ra rất khó khăn. Các Phật tử lưu ư những lời dạy này, v́ nó rất cần thiết cho sự tu tập của quư vị, xin quư vị nên nhớ kỹ. Quư vị đừng cho rằng bất cứ nơi đâu tu cũng được th́ Đức Phật dạy điều này để làm ǵ? Có quan trọng Đức Phật mới dạy như vậy. Đừng nghe theo những lời chỉ dẫn suông: “Bất cứ chỗ nào tu cũng được, tu trong bốn oai nghi, tu trong công việc làm”. Lời nói này đi ngược lại lời dạy của Đức Phật.

Ngồi kiết già là ǵ?

Ngồi kiết già là tư thế ngồi xếp bằng tréo hai chân đan vào nhau. Đó là tư thế ngồi của người tu thiền định. Tư thế ngồi này rất vững chắc để thân tâm dễ gom vào một đối tượng thân hành nội (hơi thở).

Ví dụ: Đi, đứng, nằm ngồi, co tay, duỗi chân, ngước nh́n, nói nín, ăn, nhai nuốt, hơi thở vô, hơi thở ra, v.v.. đều là thân hành, nhưng phải rơ tất cả thân hành của thân là thân hành ngoại chỉ trừ có HƠI THỞ là thân hành nội. Như vậy chúng ta phải hiểu rơ mới có thể tu tập được.

An trú chánh niệm là ǵ?

An trú chánh niệm là ở yên ổn trong niệm chân chánh. Niệm chân chánh là ǵ?

Trong Đạo Phật có bốn chỗ niệm chân chánh:

1-      Niệm thân

2-      Niệm thọ

3-      Niệm tâm

4-      Niệm pháp

Chữ chánh niệm ở đây gồm chung có 4 niệm, như vậy an trú chánh niệm tức là an trú trong bốn niệm. Vậy an trú bốn niệm một lần có được không? An trú bốn niệm một lần là tu tập Tứ Niệm Xứ. Cho nên Tứ Niệm Xứ c̣n gọi là Chánh Niệm. Chánh niệm tức là pháp môn tu tập thứ bảy trong BÁT CHÁNH ĐẠO. Cho nên tu tập TỨ NIỆM XỨ là tu tập lớp thứ bảy trong tám lớp tu học của Phật giáo.

Khi một người tu tập xong TỨ NIỆM XỨ th́ có ĐỊNH NHƯ Ư TÚC. Nhờ có ĐỊNH NHƯ Ư TÚC nên mới nhập được TỨ THÁNH ĐỊNH, nếu không có ĐỊNH NHƯ Ư TÚC th́ không bao giờ nhập định của Phật giáo được, v́ thế các tà sư ngoại đạo đều nhập định, nhưng định ấy không phải là CHÁNH ĐỊNH của Phật giáo mà của tả đạo bàng môn.

Người tu hành theo Phật giáo phải rơ BÁT CHÁNH ĐẠO. BÁT CHÁNH ĐẠO chia làm ba cấp tu học:

1-       Cấp Giới luật

2-       Cấp Thiền định

3-       Cấp Tuệ Tam minh

Cấp Giới luật gồm có năm lớp học giới luật:

1-       Chánh kiến

2-       Chánh tư duy

3-       Chánh ngữ

4-       Chánh nghiệp

5-       Chánh mạng

Cấp Thiền định gồm có hai lớp:

1-       Chánh tinh tấn (TỨ CHÁNH CẦN)

2-        Chánh niệm (TỨ NIỆM XỨ)

Cấp TAM MINH gồm có TỨ THÁNH ĐỊNH:

1-       Sơ Thiền

2-       Nhị Thiền

3-       Tam Thiền

4-       Tứ thiền

Con đường tu tập của Phật giáo có ba cấp: GIỚI, ĐỊNH, TUỆ ai ai cũng biết, nhưng mỗi cấp đều có pháp môn tu tập rất rơ ràng, nếu chúng ta không dựa vào BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO th́ chúng ta chẳng biết pháp nào tu tập.

Cho nên người nào muốn tu tập th́ phải theo BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO mà tu tập. Chính xét BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO mà chúng ta biết kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông không phải là kinh sách của Phật giáo mà đó là kinh sách chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khổng giáo và Lăo giáo của nước ngoài. V́ thế người tu theo Phật giáo Đại Thừa không bao giờ làm chủ sinh, già, bệnh, chết được.

Dù Đại Thừa Bắc Tông hay Phật giáo Nguyên Thủy Nam Tông mà lấy pháp môn Tứ Niệm Xứ tu tập hay dạy người mới tu. Đó là những người chưa có kinh nghiệm tu hành trên pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Bởi vậy khi đến trường thiền của các sư Nam Tông Miến Điện thấy cách thức hướng dẫn Phật tử tu tập TỨ NIỆM XỨ là biết ngay các sư thầy này chưa hiểu biết pháp môn TỨ NIỆM XỨ là pháp môn thứ mấy trong BÁT CHÁNH ĐẠO, cho nên mới dám dạy Phat tử tu như vậy. Nhận xét điều này chúng tôi biết ngay các sư Miến Điện Nam Tông chưa thông suốt pháp môn TỨ NIỆM XỨ.

TỨ NIỆM XỨ là pháp môn tu tập trong lớp thứ bảy của BÁT CHÁNH ĐẠO, vậy mà người mới tu tập đem ra dạy, thật là các sư thầy chưa có kinh nghiệm tu hành chút nào cả, chỉ ở trên kinh sách chữ nghĩa mà dạy tu tập, v́ thế lấy bốn chỗ THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP trên thân mà tu tập biến TỨ NIỆM XỨ trở thành pháp môn ức chế ư thức. Đức Phật không có dạy ức chế ư thức cho hết vọng tưởng mà dạy ly dục ly ác pháp để tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Như vậy rơ ràng Phật dạy tu tập khác, các thầy tổ dạy tu tập khác. Do tu tập sai khác như vậy nên không ai tu tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết được.

Cho nên cũng tu tập TỨ NIỆM XỨ mà Đại Thừa và Nguyên Thủy Nam Tông không làm chủ sự sống chết.

Ngoài bốn niệm: Thân, thọ, tâm, pháp  c̣n có niệm nào khác nữa không?

Trên THÂN gồm có hai niệm:

1-    Thân hành niệm nội

2-    Thân hành niệm ngoại

Trên THỌ gồm có ba niệm:

1-    Niệm thọ lạc

2-    Niệm thọ khổ

3-    Niệm thọ bất lạc bất khổ

Trên tâm gồm có hai niệm:

1-    Niệm tịnh

2-    Niệm động

Trên pháp gồm có hai niệm:

1-     Niệm thiện

2-     Niệm ác

Ở đây, bài pháp này Đức Phật đang dạy La Hầu La về HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra, v́ thế chánh niệm ở đây phải hiểu là THÂN HÀNH NIỆM nội, tức là HƠI THỞHƠI THỞ ra. Vậy an trú chánh niệm trước mặt tức là an trú hơi thở vô, hơi thở ra ở trước mặt.

Tĩnh giác nghĩa là ǵ? Tĩnh giác nghĩa là biết rất rơ ràng từng chi tiết nhỏ, biết rất kỹ lưỡng, biết không có mờ mịt một chút xíu nào cả. Ở đây chúng ta nên hiểu Đức Phật dạy La Hầu La phải biết rất kỹ từng HƠI THỞ vô, từng HƠI THỞ ra.

Người giữ ǵn giới hành HƠI THỞHƠI THỞ ra có nghĩa là tu tập an trú trong HƠI THỞHƠI THỞ ra phải biết rất rơ ràng, không được để quên, để mất, để mờ mịt HƠI THỞ vô ra.

V́ tâm chúng ta hay quên (vô kư) nên phải dùng pháp tác ư dẫn tâm tĩnh giác măi măi làm cho tâm sáng suốt thấy biết rất rơ ràng từng HƠI THỞ vô, ra: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. An trú được trong HƠI THỞ là đạt được căn bản về phương pháp tu Định Niệm Hơi Thở.

Để thực hiện giới hành này chúng ta nên theo lời Đức Phật dạy Tôn Giả La Hầu La mà tu tập như sau:

Trước tiên chúng ta t́m nơi vắng vẻ, yên tịnh, rồi tập ngồi kiết già lưng thẳng, sau khi tập ngồi kiết già lưng thẳng được có nghĩa là ngồi tréo chân mà không thấy khó chịu, hoặc đau hoặc tê chân chừng nửa tiếng đồng hồ. Khi ngồi được nửa tiếng đồng hồ yên ổn th́ mới đặt niệm HƠI THỞ vô, HƠI THỞ ra trước mặt và tác ư như sau: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Khi tác ư xong câu này ta truyền lệnh: “Hít”, truyền lệnh xong ta mới hít vô, tĩnh giác rất kỹ theo HƠI THỞ vô. Sau khi HƠI THỞ vô hết ta truyền lệnh “Thở”, khi truyền lệnh xong ta mới thở ra và phải sáng suốt tĩnh giác theo HƠI THỞ ra. Cứ như vậy mà tu tập 1 phút. Nếu tu tập 1 phút sức tĩnh giác rất tốt không quên HƠI THỞ nào, có nghĩa là trong một phút không bao giờ ta quên HƠI THỞ, mà cũng có nghĩa là trong một phút không có một niệm vọng tưởng nào xen vào được.

Nếu một phút tu tập tốt, ta tăng lên 2 phút, rồi 3 phút, rồi 4, 5 phút. Sau khi đạt được 5 phút rất tĩnh giác HƠI THỞ ra vô, ta tăng 6, 7, 8, 9, 10. Sau khi tăng lên 10 phút ta xét xem lại toàn bộ cơ thể có xảy ra trạng thái ǵ không?

Ví dụ: Nặng đầu, nặng mặt, choáng váng, chóng mặt, v.v.. Khi có những trạng thái như vậy xảy ra th́ nên báo cho Thầy biết để kịp thời sửa lại cho đúng cách tu tập để không bị ức chế tâm khiến thân không rối loạn cơ bắp và thần kinh, v.v..

Trong giới hành về hơi thở vô, hơi thở ra có 19 đề mục tu tập. Mười chín đề mục Định Niệm Hơi Thở được chia ra làm hai phần:

1-      Bảy đề mục đầu nhiếp tâm và an trú tâm.

2-      Mười hai đề mục sau đẩy lùi các ác pháp.


 

BẢY ĐỀ MỤC ĐẦU
NHIẾP TÂM V
À AN TRÚ

CÁCH NGỒI:

Muốn tu tập Định Niệm Hơi Thở th́ phải ngồi kiết già (nếu chưa quen th́ tạm thời ngồi bán già, nhưng phải tập ngồi kiết già cho được); giữ lưng ngay thẳng, không kḥm, không nghiêng tới trước hay ngă sang bên phải bên trái, cũng không rướn người quá cao, chỉ giữ ở mức thoải mái mà thẳng lưng. Lúc này quư vị phải kiểm soát lưng cho thẳng sau mỗi vài phút. Đầu ngửng lên thẳng với lưng, không cúi tới trước, không nghiêng sang bên, quư vị cũng phải kiểm soát giữ đầu thẳng sau mỗi vài phút. Mắt nh́n xuống phớt thấy chóp mũi, ư tập trung ở điểm giữa nhân trung để cảm nhận hơi thở đi vào và đi ra ngang qua điểm này.

Hai tay úp trên đầu gối, hay buông thỏng trước hai ống chân, hay để ngửa chồng lên nhau tựa sát bụng đặt trên hai gót chân, để tay đâu cũng được miễn sao cho thoải mái.

Sau khi ngồi đúng tư thế xong, không nhúc nhích động đậy nhưng không gồng cứng cơ bắp nào, giữ yên tĩnh toàn thân ít nhất vài phút, thoải mái cảm nhận toàn thân và cảm nhận hơi thở vô ra tự nhiên, lưu ư và giữ sự tự nhiên này của hơi thở.

Chuẩn bị như thế xong, quư Phật tử tác ư nhắc tâm: “Mắt nh́n chóp mũi, ư tập trung ở nhân trung”, nhắc xong th́ tác ư trong khi nín thở: “Hít vô dài tôi biết tôi hít vô dài; thở ra dài tôi biết tôi thở ra dài”. 

Nếu c̣n cảm thấy nín thở tác ư câu dài này có khó chịu th́ có thể tác ư theo một trong hai câu được cắt ngắn bớt như sau và khi đă chọn ổn định câu nào th́ chỉ sử dụng câu đó cho sự tập luyện, không nên thay đổi tới lui.

“Tôi biết tôi hít vô dài; tôi biết tôi thở ra dài” hay “Hít vô dài tôi biết, thở ra dài tôi biết” hay “Hít dài,  thở dài”.

Tác ư xong đếm “Một” rồi theo dơi HƠI THỞ đi vô từ lúc bắt đầu vô đến khi ngưng thở ra. Đếm “Hai” cho hơi thở kế, rồi “Ba”, “Bốn”, “Năm”. Mỗi lần đếm số xong quư vị theo dơi hơi thở đi vô từ lúc bắt đầu vô đến khi ngưng thở ra. Đó là cách đếm số trước mỗi hơi thở. 

Quư vị có thể chọn cách đếm số sau mỗi hơi thở. Cứ hít vô vừa đủ th́ thở ra vừa hết, đếm “Một”, nghĩa là một hơi hít vô và một hơi thở ra xong đếm một số. Theo dơi kĩ hơi thở từ lúc bắt đầu hít vô cho đến khi ngưng thở ra. Và cứ như thế tiếp tục đếm lên tới hơi thở thứ năm là đủ 5 hơi thở vô ra.

Sau khi đă hít thở xong hơi thở thứ năm th́ quư vị nín thở tác ư lại câu tác ư đă chọn.

Thời gian tập như vậy kéo dài trong 5 phút th́ nghỉ xả 5 phút, rồi tập lại 5 phút khác. Cứ như vậy mà tập luyện cho hết thời gian đă chọn, nhưng tối đa cũng chỉ nửa giờ thôi, đừng lâu hơn. Trong lúc nghỉ xả giữa hai lần tập hít thở, quư vị chỉ ngồi thoải mái, không làm ǵ khác cũng đừng suy nghĩ ǵ nhiều.

Lệnh “Thở”, thở ra vừa hết. Đếm số “Hai” cho hơi thở kế, và cứ thế tiếp tục đếm tới hơi thở thứ năm, lại tác ư như ra lệnh và hít thở.

Quư vị hăy tập cho đến khi nhiếp phục được tâm. Tập thời gian chỉ 5, 10 phút thôi. Tâm bám thật kĩ từng hơi thở để an trú trong hơi thở tức là nhiếp phục được tâm trong hơi thở, niệm vào trong hơi thở. An trú có nghĩa là không một niệm nào xen vào trong khi hít thở. Hăy nhớ kĩ vậy! Luôn luôn phải giữ ư thức, đừng để mất ư thức! Phải rơ ràng tĩnh giác!


Đề mục thứ nhất:

HÍT TÔI BIẾT TÔI HÍT

 “- Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Đó là đề mục tu tập HƠI THỞ thứ nhất. Với người mới tu tập là để tập nhiếp tâm làm quen với HƠI THỞ. Nương hơi thở để thấy tâm nghĩ ngợi ǵ?

TÂM HÀNH tức là tâm đang quán xét tư duy.

Đề mục này tập trung tâm tại nhân trung giữa hai lỗ mũi, biết hơi thở ra vô tại chỗ đó, chứ không được theo hơi thở vô lồng ngực và ngược lại hơi thở từ lồng ngực chạy ra. Nếu quư vị nhiếp tâm được 30’ mà không quên hơi thở tức là không có tạp niệm xen vào th́ đó là quư vị đă tu tập đă đạt được đề mục thứ nhất. Khi tu tập viên măn đề mục thứ nhất như vậy th́ quư vị xem lại kết quả lúc nào cũng đạt được tâm như vậy th́ nên xin thiện hữu tri thức kiểm tra hơi thở lại giúp dùm, nếu vị thiện hữu tri thức bảo đă nhiếp tâm được kết quả tốt th́ ngay đó xin tu tập đề mục thứ hai của ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ.

Khi mới làm quen với hơi thở quư Phật tử không nên tu tập nhiều mà chỉ nên tu tập thời gian ngắn từ 1 phút đến 5 phút rồi xả nghỉ 5 phút, khi nghỉ 5 phút xong lại tiếp tục tu tập 5 phút.

Bắt đầu tu tập chỉ tu tập 1 phút phải có chất lượng, tức là nhiếp tâm và an trú tâm cho được, có nghĩa là không c̣n có một niệm nào xen vào trong hơi thở, và lúc bấy giờ tâm quư vị chỉ duy nhất biết có hơi thở ra vào một cách nhẹ nhàng, thoải mái và dễ chịu.

Đấy là quư vị tu tập đúng pháp, c̣n ngược lại có chướng ngại pháp, hô hấp rối loạn, tức ngực, đau đầu, hơi thở khó thở th́ đó là tu sai pháp, có phần ức chế tâm, và hơi thở cần phải dừng lại không nên tu tập nữa, phải chờ thiện hữu tri thức kiểm tra lại hơi thở, chừng nào thiện hữu tri thức cho phép th́ mới tu lại.

Quư vị nên biết HƠI THỞTHÂN HÀNH NỘI, khi tu tập phải có thiện hữu ở một bên, có ǵ trục trặc người sẽ giúp đỡ cho.

Người có kinh nghiệm về HƠI THỞ mới biết cách hướng dẫn c̣n nếu không có người hướng dẫn th́ quư vị đừng nên tự ư tu tập HƠI THỞ, nó rất nguy hiểm xin quư vị lưu ư.


Đề mục thứ hai:

HÍT DÀI TÔI
BIẾT T
ÔI HÍT VÔ DÀI

“- Hít vô dài tôi biết tôi hít vô dài; thở ra dài tối biết tôi thở ra dài”. Đề mục này là đề mục vận dụng điều khiển hơi thở, nó có mục đích là làm giảm nhẹ nơi tập trung tâm và sức tập trung rất cao để đạt được chất lượng nhiếp tâm và an trú trong thời gian tu tập sẽ không bị tạp niệm ác pháp xen vào. Nương vào HƠI THỞ dài là để xem TÂM HÀNH đang nghĩ ǵ, làm ǵ, đang hoạt động như thế nào?

Đó là một phương pháp gom tâm đệ nhất và cũng là một phương pháp ngồi tại chỗ phá hôn trầm thùy miên vô kư một cách hiệu quả, nhưng lại rất tĩnh giác nên từng TÂM HÀNH làm ǵ xảy ra đều biết rất rơ.

Nếu quư vị chỉ cần nỗ lực là tâm lười biếng của quư vị chạy mất không c̣n ôm cổ quư vị nữa. Điều mà quư vị cần nên nhớ: Muốn tu tập theo Phật giáo th́ quư vị không được tập trung tâm vào một chỗ, v́ tập trung tâm một chỗ rất nguy hiểm có thể làm rối loạn các cơ và thần kinh gây ra bệnh tưởng, bệnh tẩu hỏa nhập ma, khiến cho quư vị giống như người mất trí. C̣n ngược lại quư vị sử dụng TÂM HÀNH để triển khai tri kiến th́ rất có lợi, nhờ đó mà tri kiến rất bén nhạy, ác pháp đến là tri kiến biết ngay liền nên ác pháp không xâm chiếm tâm quư vị được và như vậy là quư vị đă giải thoát không c̣n khổ đau nữa.

Khi tu tập đề mục này th́ nương vào hơi thở chậm và nhẹ, v́ khi tác ư như vậy th́ hơi thở bắt đầu thở chậm và nhẹ một cách tự nhiên, chứ không dùng các cơ vận dụng thở thật chậm và thật nhẹ, nên để HƠI THỞ tự nhiên. Dùng các cơ vận dụng thở chậm và nhẹ như vậy là sai. Ở đây chỉ cần tác ư hơi thở chậm nhẹ th́ tự động hơi thở sẽ thở chậm nhẹ, th́ lúc bấy giờ quư vị chỉ cần tiếp tục tác ư theo đề mục đă trạch pháp câu như sau: “Hít vô dài tôi biết tôi hít vô dài; thở ra dài tối biết tôi thở ra dài”.

Tác ư như vậy rồi cứ để tâm theo câu tác ư mà tu tập quan sát từng TÂM HÀNH một cách tự nhiên th́ kết quả sẽ tốt đẹp không thể nghĩ bàn.


Đề mục thứ ba:

HÍT NGẮN TÔI
BIẾT
TÔI HÍT NGẮN

 “- Hít vô ngắn tôi biết tôi hít vô ngắn; thở ra ngắn tôi biết tôi thở ra ngắn”. Đó là đề mục thứ ba của Định Niệm Hơi Thở, khi chúng ta muốn tu tập hơi thở ngắn th́ tác ư câu này: Hít vô ngắn tôi biết tôi hít vô ngắn; thở ra ngắn tôi biết tôi thở ra ngắn”. Đây là cách điều khiển hơi thở ngắn bằng pháp Như lư tác ư.

Xin các bạn lưu ư! Do tu tập về hơi thở nên phải làm chủ được hơi thở. Muốn thở dài th́ hơi thở dài, muốn hơi thở ngắn th́ hơi thở ngắn. Khi nào chúng ta thở dài thở ngắn mà không thấy có sự rối loạn hô hấp đó là chúng ta đă thành công làm chủ hơi thở. Riêng về phần tu tập hơi thở này th́ nên tu tập hơi thở b́nh thường là tốt nhất, không nên vận dụng hơi thở dài quá hoặc hơi thở ngắn quá.

HƠI THỞ b́nh thường hoặc dài hay ngắn không quan trọng. Ở đây, điều mà chúng ta cần tu tập là quan sát TÂM HÀNH để làm chủ tâm khi tâm muốn điều ǵ hay làm điều ǵ, nhờ đó mà chúng ta làm chủ nó mới được.

Mục đích của đề mục 2 và 3 là để tu tập vận dụng điều khiển HƠI THỞ theo ư muốn của ḿnh và cũng là để quan sát TÂM HÀNH bằng hơi thở dài ngắn. 

Đề mục số 2 hít vô dài, hay số 3 hít vô ngắn của Định Niệm Hơi Thở, là để giữ hơi thở ổn định theo đặc tướng của ḿnh. Sau này hơi thở có thay đổi dài hay ngắn th́ không cho thay đổi, v́ thay đổi HƠI THỞ sẽ đưa người tu tập đến những điều tai hại, nó có thể làm rối loạn hơi thở hoặc sanh tưởng tức là HƠI THỞ TƯỞNG, bởi v́ tưởng tức sẽ hiện ra, do quư vị tu tập sai ức chế ư thức khiến cho ư thức không c̣n khởi niệm.

Khi ư thức không khởi niệm th́ ma chướng của tưởng uẩn hiện ra làm rối loạn tâm trí, lúc bấy giờ quư vị không c̣n tu hành được ǵ cả, mà chỉ c̣n ngồi chơi tu tập tri kiến NHÂN QUẢ xả tâm mà thôi. Đó là giải pháp cuối cùng để giúp cho quư vị tu hành như người mới vào đạo tu tập NHÂN QUẢ.

Đề mục 2 và đề mục 3 th́ phải thực hiện như người thợ quay tơ, như người thợ gốm. Vạn dụng hơi thở làm cho nó dài hay làm cho nó ngắn nhưng phải chạy liên tục và đều đều như người quay tơ, như người thợ gốm cho máy quay tṛn món đồ gốm để tạo độ tṛn chính xác không c̣n bị méo mó.

Người tu tập HƠI THỞ cũng vậy, phải tu tập phù hợp theo đặc tướng của ḿnh, đó là để đạt được sự an ổn nhiếp tâm trong hơi thở. 

Khi tập luyện đề mục 1 được thuần thục, hơi thở được thông suốt không chướng ngại th́ hơi thở sẽ hiện tướng khi dài khi ngắn. Nếu là hơi thở dài th́ hơi thở chầm chậm đi vô, đi ra. Một phút dưới 10 hơi thở, đó là hơi thở dài. C̣n hơi thở ngắn th́ nó như con thoi, hít vô thở ra nhanh. Một phút trên 10 hơi thở, đó là hơi thở ngắn. Hơi thở ngắn dùng để nhiếp tâm loạn tưởng và hôn trầm v.v.. th́ hay nhất.


Đề mục thứ tư:

HÍT DÀI TÔI
BIẾT
TÔI HÍT DI

Nếu quư vị thấy hơi thở dài giúp nhiếp tâm được dễ dàng, c̣n hơi thở ngắn lúc nhiếp được lúc không th́ chọn lấy hơi thở dài để làm hơi thở chuẩn theo đặc tướng của ḿnh. Khi quư vị đă chọn hơi thở dài xong th́ nên điều khiển nó bằng câu tác ư hơi thở dài:

4- “Hít vô dài tôi biết tôi hít vô dài; thở ra dài tôi biết tôi thở ra dài” và để ư trên độ dài của hơi thở, chỉ quan sát theo dơi độ dài của hơi thở, không c̣n bám chỗ tụ điểm nữa. Cứ mỗi 5 hơi tác ư một lần.

Nếu hơi thở phù hợp với đặc tướng tức là nhiếp tâm được th́ phải vận dụng cho nó đều đều như người quay tơ. Nhưng không nên vận dụng để luyện tập điều khiển hơi thở quá dài, quá chậm. Cứ giữ y theo tự nhiên b́nh thường độ dài hay độ ngắn của nó.

Nếu quư vị chọn hơi thở ngắn th́ nên tác ư: “Hít vô ngắn, tôi biết tôi hít vô ngắn; thở ra ngắn, tôi biết tôi thở ra ngắn” và cách tập luyện cũng tương tự như hơi thở dài.

Khi tập luyện đă ổn định độ dài hay độ ngắn của hơi thở rồi th́ về sau này nó có thay đổi ǵ th́ tác ư cho nó trở về hơi thở của đề mục này. Không được cho nó trở thành dài hơn cũng không được cho nó ngắn bớt. Nó phải ở trong dạng quư vị đang tập luyện và làm chủ nó.


Đề mục thứ năm:

CẢM GIÁC TOÀN THÂN

5- “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra”. Đây là đề mục dời tụ điểm không c̣n thấy hơi thở ra vô tại nhân trung nữa. Mỗi lần hít thở cảm nhận sự rung động toàn thân. Trong pháp Thân Hành Niệm dạy: “Cảm giác thân hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác thân hành tôi biết tôi thở ra”. Chỗ này tu tập khi nào từng hơi thở cảm nhận được sự rung động của toàn thân th́ đó là kết quả của đề mục này.

“Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra. Tập cảm giác toàn thân (hay cảm giác thân hành). Đó là tập quan sát bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp khi tập luyện Bốn Niệm Xứ sau này. Đây là đề mục thứ tư của Định Niệm Hơi Thở là để chuẩn bị cho quư vị tu tập Tứ Niệm Xứ: “Trên thân quán thân để nhiếp phục tham ưu”, tức là quan sát bốn chỗ trên thân nhưng lại lưu ư TÂM HÀNH để làm chủ tâm chớ không phải ức chế tâm cho hết niệm khởi, xin quư vị lưu ư!

Đề mục Cảm Giác Toàn Thân tập luyện hít vô cảm giác thân của ḿnh. Khi quư vị đă có hơi thở chuẩn, đă chủ động điều khiển được HƠI THỞ, đă quan sát được HƠI THỞ, đă không cho HƠI THỞ thay đổi, lúc bấy giờ mới qua đề mục 4: “Cảm giác toàn thân tôi biết tôi hít vô; cảm giác toàn thân tôi biết tôi thở ra. Quư vị hít vô th́ cảm nhận từ trên đầu xuống tới chân; thở ra th́ cảm nhận từ chân lên đầu. Nếu cảm nhận không được th́ nương qua câu tác ư của Thân Hành Niệm là câu “Cảm giác thân hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác thân hành tôi biết tôi thở ra”. Khi hít thở th́ thân có độ rung do hơi thở, quư vị quan sát, lắng nghe độ rung đó. Đừng dùng tưởng, dùng tưởng là sai. Bằng cách tác ư theo từng hơi thở để cảm nhận toàn thể thân của ḿnh. Chủ động điều khiển thân và tâm.

Quư vị nên tác ư thế này: “Tâm hăy theo dơi từng hơi thở khắp trong cơ thể đi!”, rồi hít vô xem thử nó ra sao. Hít vô thở ra lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm. Rồi nhắc lại câu tác ư một lần nữa. Nếu không nhắc th́ có niệm khác xen vô. 

“Cảm Giác Toàn Thân” là phải dùng ư thức điều khiển cả thân và hơi thở.  Phải dẫn nó, nhiếp phục tâm để lần lần cho nó quen, sau đó ḿnh hít vô thở ra th́ thấy cảm giác rơ ràng. “À, thân và hơi thở này phải theo dơi sát nghe!” - “Hít vô” - “Thở ra”. Cứ nhiếp ghi nói thầm thầm trong đó. Suốt thời gian 30 phút không niệm khởi, tức là nhiếp phục được tâm. Khi cảm nhận thân mà thấy luồng hơi thở ra, luồng hơi hít vô của từng hơi thở rơ ràng rồi đó là đạt kết quả.

Mục đích của đề mục này là tập cho ḿnh quan sát ghi nhận bất kỳ hiện tượng ǵ, cảm giác ǵ xảy ra tại đâu trên thân ḿnh, dù đó là cảm thọ ǵ.

Quư vị nên biết: Đề mục 1, 2, 3 là những đề mục tu tập để an trú tâm vào hơi thở. 

Xin nhắc lại: Tập luyện Định Niệm Hơi Thở đề mục thứ nhất là phải nhiếp phục tâm rồi an trú tâm được trong hơi thở th́ quư vị thấy rơ ràng hơi thở có lúc dài, có lúc ngắn. Chừng đó mới đi qua đề mục thứ 2, thứ 3 điều khiển hơi thở dài, hơi thở ngắn theo sự an trú. An trú trong đề mục thứ 2, thứ 3 xong mới qua đề mục thứ 4 - Cảm giác toàn thân. Cảm giác toàn thân có kết quả mới qua đề mục thứ 5 - An tịnh toàn thân được. Phải an trú tâm cho được, phải t́m mọi cách, bằng mọi cách phải t́m cho được, làm cho tâm an trú.

Quư vị ngồi xuống thu xếp tay chân thân ḿnh cho yên ổn, không c̣n chướng ngại ǵ. Ngồi như vậy một lúc độ 3 - 5 phút, giữ thân cho an ổn, yên lặng rồi quan sát tâm, thấy tâm cũng yên ổn, không có niệm ǵ hết lúc đó mới tác ư để cho tâm biết th́ nó sẽ an trú vô trong hơi thở dễ dàng.

Khi làm đúng vậy th́ quư vị sẽ an trú nghĩa là quư vị vào đó sẽ thấy an lạc thật sự, chứ không phải ngồi yên mà có sự an trú. An trú là có sự an lạc, một trạng thái an trú an lạc của hơi thở. V́ thế quư vị phải tu tập có chất lượng và căn bản của những đề mục Định Niệm Hơi Thở đầu tiên, nếu tu tập thiếu căn bản không chất lượng sẽ phí công vô ích.


Đề mục thứ sáu:

AN TỊNH THÂN HÀNH

6-An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Đây là một đề mục rất quan trọng trong sự tu tập mà Đức Phật thường nhắc nhở: Nhiếp tâm và an trú tâm”. Từ đề mục thứ nhất đến đề mục thứ tư là những đề mục nhiếp tâm, c̣n đề mục thứ năm này là đề mục an trú tâm, chứ không c̣n là đề mục nhiếp tâm nữa. Đề mục này rất quan trọng và lợi ích to lớn trong việc đẩy lui các chướng ngại pháp trên thân, thọ, tâm và pháp. Đề mục này tu xong cũng giống như người lính đánh trận có chiến hào, v́ thế tất cả cảm thọ không thể tấn công được. Đây là phương pháp làm chủ bệnh mà Tứ Niệm Xứ thường dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu”. “Trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu”. “Trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu”. “Trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu”. Quư vị nên lưu ư đề mục này nó rất quan trọng trong sự tu tập làm chủ sanh, già, bệnh, chết.

“An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Đề mục này tu tập an trú tâm vào hơi thở để diệt trừ các bệnh khổ. Khi thân có bệnh th́ nó là nơi núp ẩn để chiến đấu với giặc bệnh, tử. Cho nên, “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra vừa nương vào hơi thở. Hơi thở thứ nhất biết thân ḿnh đang an ổn; hơi thở thứ hai cũng vậy; hơi thở thứ ba, thứ tư, thứ năm, cũng vậy. Nhắc câu tác ư lại một lần nữa, rồi từng hơi thở kĩ lưỡng nương vào mà cảm nhận thân an ổn. Chưa an ổn th́ tiếp tục nương nó nữa, cảm nhận nữa, cứ 5 hơi thở tác ư.

An tịnh là mục đích phải đạt được của đề mục thứ 5 Định Niệm Hơi Thở trong 30 phút khi quư vị hít thở như vậy. Lúc đầu tâm quư vị phải có thời gian để nương vào được trong hơi thở th́ tướng an tịnh mới hiện ra. Bây giờ tập luyện được 20 phút th́ bỗng thấy tướng an tịnh hiện ra thật sự. Đó là có kết quả. Quư vị cứ tiếp tục tập luyện riết trong những thời khóa khác th́ chỉ sau 5 hơi thở là nó đă hiện ra rồi, thời gian được thu ngắn lại. 

Có khi vừa mới vào tập luyện, quư vị mới nhắc: “Tâm phải bám chặt vào hơi thở nghe! Thân phải an tịnh nghe, không được mất an tịnh!”, nhắc như vậy rồi quư vị tác ư: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”, chỉ mới 5 hơi thở thôi th́ đă thấy tướng trạng an tịnh hiện ra rồi. Được nhanh vậy là nhờ khi quư vị ngồi chơi mà xả tâm nên quư vị đă được tâm an tịnh rồi, v́ thế vừa vào tập luyện quư vị chỉ mới nhắc là nó hiện ra ngay.

“An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra” là đề mục làm cho xuất hiện tướng trạng thân an tịnh để đẩy lui bệnh khổ.

“An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”, quư vị chỉ nương vào hơi thở mà tác ư như vậy, chỉ cần ngồi rồi nhắc như vậy thôi mà tướng trạng đó hiện ra, toàn thân của ḿnh an ổn vô cùng, không có cái ǵ làm cho thân đau được, làm cho bất an được. Khi hít vô th́ cảm nhận thân an, không bị động đậy, không bị rung động th́ đó là thân an; khi thở ra th́ thấy tâm ḿnh không niệm, không niệm là yên tịnh. Cứ hai trạng thái đó mà cảm nhận thôi.

Từ từ hai trạng thái an ổn đó lớn dần lên theo pháp hướng tâm tác ư. Và suốt trong khoảng thời gian từ 5 hay 10 phút mà tâm nhiếp th́ trạng thái an ổn đó lớn dần lên. Nếu nhanh th́ chỉ trong 4, 5 hơi thở sẽ hiện tướng trạng thân an tịnh ra, đó là đúng rồi, được rồi. C̣n khi tác ư đến 5, 10 lần nó mới hiện ra, đó là chậm, chưa được, quư vị cần tập luyện nhiều nữa. 

“An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Tập luyện đề mục này là chủ động trạng thái an tịnh toàn thân, có như vậy mới làm chủ bệnh.

Quư vị cần lưu ư: Tập luyện đến đề mục thứ 5 là khi ta đă nhiếp phục được tâm trong hơi thở được rồi, có nghĩa là từ các đề mục 1 đến 4 ta đă đạt được 30 phút không niệm khởi. Lúc đó những tư niệm sẽ dẫn tâm của ḿnh và hơi thở để chúng nhiếp vào với nhau. Lúc tập luyện đề mục 5 này ta sẽ có sự an ổn nhẹ nhẹ là đúng, chứ chưa phải sự an ổn nhiều; nếu có sự an ổn nhiều là sai, phải chấm dứt bằng tác ư bảo nó dừng lại: “An ổn này hăy dừng lại. Ta chưa cho an ổn”. Ḿnh phải nhắc, phải biết nhiếp phục trong hơi thở. Nếu không tác ư bảo ngưng th́ sự an ổn này làm ta có một niệm khác hơn là niệm của thân hành trong hơi thở. Chỉ niệm thân hành trong hơi thở mới thật là niệm mục đích của đề mục 5.

Khi nhiếp tâm th́ đă có sẵn cái an trú nên khi nhắc an trú, th́ nó từ từ hiện ra do ḿnh dẫn đi. Sau khi an trú rồi th́ ḿnh được giảm hôn trầm, tức là năng lượng đă được phục hồi. Trong một thời tập luyện được hoàn toàn an trú th́ nghe trong thân sung măn lắm, xả ra không thấy đói khát, không mệt mỏi, không buồn ngủ. Khi năng lực có rồi th́ quư vị phải bắt đầu dùng để ly dục ly ác pháp ở những đề mục 8, 9, ... của Định Niệm Hơi Thở.

Nếu trong 5 phút mà quư vị biết hơi thở vô ra nhẹ nhàng tự nhiên không thất niệm, không có tạp niệm là đủ điều kiện để thân an trú rồi. Quư vị cần tập luyện nhiều đoạn 5 phút cho nó trọn vẹn; tập luyện cho đúng cách để có chất lượng.

Từ trước tới nay quư vị cứ 5 hơi thở tác ư một lần, bây giờ tăng lên 10 hơi thở mới tác ư và xem thử trong thời gian 10 hơi thở có niệm nào xẹt vô không; rồi lần lần tăng lên cho tới 5 phút tác ư một lần. Phải lấy tiêu chuẩn 5 phút và bắt đầu lấy thời gian 10 hơi thở tác ư, rồi 20 hơi thở tác ư, ... cho đến 40, 100 hơi thở tác ư. Cứ trong khoảng thời gian số hơi thở đó không thất niệm là đạt được của thời gian đó. Đến khi quư Phật tử đạt được kết quả của thời gian 5 phút không thất niệm là đă an trú được rồi, trạng thái an trú sẽ xuất hiện ngay. Rồi tăng dần tập luyện kéo dài tới 30 phút. Thế là thành công!

Nhưng coi chừng tăng quá sức sẽ bị hôn trầm. Phải tập luyện ở mức độ vừa sức cho thuần thục, cho sung măn năng lượng để khỏi bị hôn trầm v́ mất sức.

Muốn được an trú lâu dài th́ phải biết cách tập luyện để sự an trú kéo dài hơn. Phải xem trong khoảng thời gian nào được an trú, rồi khi nào thấy nó bắt đầu lui dần, lúc đó phải sử dụng pháp Như Lư Tác Ư nào đă được an trú khi vào để tác ư lại, không cho nó lui. Phải nhớ kĩ pháp mới tập luyện có kết quả, không nhớ kĩ th́ không biết đường vào.

Trong khi tập luyện Định Niệm Hơi Thở nếu hôn trầm tới th́ quư vị đứng dậy đi nhưng vẫn tập hơi thở giống như khi đang ngồi. Tuy nhiên khi đó tâm quư vị bị phân ra vừa biết hơi thở mà cũng vừa biết bước đi. Quư vị phải tập như thế nào để tâm chỉ biết một hành động hơi thở thôi, chứ không để nó vừa biết bước đi mà cũng biết hơi thở.

Khi đứng dậy đi, quư vị phải tác ư: “Tâm phải biết hơi thở, không được biết bước đi!”, rồi mới tập trung vào hơi thở. Khi tập trung th́ chỉ biết hơi thở vô ra, và nh́n ra ngoài là đúng, mà tâm th́ vẫn gom ở nhân trung. Hăy nh́n tới trước trên đường đi kinh hành một khoảng độ 2 thước, nhưng tâm hoàn toàn tập trung vào hơi thở. Cứ mỗi lần thấy tâm bị phân ra vừa biết hơi thở, vừa biết bước chân đi th́ nhắc câu tác ư để nó quay trở về với hơi thở. 

Định Niệm Hơi Thở là một pháp môn mà Đức Phật trang bị cho ta để đẩy lui các chướng ngại pháp. Cho nên, đề mục 5 “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra” là cách đẩy lui chướng ngại của thân; đề mục 7 “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra” là cách đẩy lui chướng ngại của tâm; c̣n đề mục 18 “Với tâm định tỉnh tôi biết tôi hít vô; với tâm định tỉnh tôi biết tôi thở ra” là cách đẩy lui tâm si, đẩy lui sự buồn ngủ, đẩy lui trạng thái lười biếng.

Do đó, phải tập chuyên cần cho đến khi có kết quả thực sự của những đề mục này th́ có lợi ích rất lớn cho con đường tập luyện. 

Khi thân ḿnh có cảm thọ khổ ǵ th́ dùng đề mục thứ 5 tu tập đă kết quả thuần thục để đẩy lui. Thí dụ sắp có cái nhọt ở đây th́ nó có những cảm giác báo động trước. Người tập luyện biết từ khi nó chỉ mới báo động. Ở giai đoạn này đẩy lui bệnh tật dễ lắm, chứ khi nó đă tập trung nặng nề th́ khó khăn nhiều, có khi không đẩy lui được. Người tập luyện có cảm giác rất vi tế, trong thân sắp sửa có bệnh ǵ đó đang ủ, đang h́nh thành, 3, 4 ngày nữa mới phát ra th́ ngay bây giờ đă nhận ra được. Khi nhận ra được như vậy quư vị dùng đề mục thứ 5 tác ư: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra th́ sau đó có lực đẩy chướng ngại pháp đó đi. Khi đó chưa phải là bệnh, chỉ mới mầm bệnh nên sử dụng pháp đẩy lui được khỏi bệnh dễ dàng, do quư vị đă biết ngừa trước rồi, cho nên sự đuổi bệnh nhẹ nhàng hơn, dễ hơn. 

Đề mục thứ bảy:

CẢM GIÁC TÂM HÀNH

Cảm giác tâm hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác tâm hành tôi biết tôi thở ra. Đề mục này là để hướng dẫn chúng ta ư thức nhận xét sự hoạt động của tâm theo từng hơi thở ra vô chứ không phải biết hơi thở ra vô b́nh thường. Do đó mỗi lần hít vô hay thở ra chúng ta đều lắng nghe tâm đang có niệm hay không niệm và niệm ấy là niệm mang ư nghĩa ǵ. Khi tâm có niệm là biết ngay niệm tâm đó đang có ư muốn ǵ. Trong khi tu tập lắng nghe tâm nói ǵ theo từng hơi thở, nếu thấy tâm lặng lẽ bất động không một niệm mang ư nghĩa nói ǵ xen vào trong suốt 30’ hay 1 giờ là chúng ta đă đạt được kết quả tu tập tâm lặng lẽ về đề mục này. Nhưng đề mục này mục đích không phải cảm nhận sự lặng lẽ của tâm mà cảm nhận sự hoạt động của TÂM HÀNH.

Tâm hành tức là sự tư duy của tâm, v́ tâm hay nghĩ ngợi điều này việc kia nên gọi là TÂM HÀNH. Cho nên “CẢM GIÁC TÂM HÀNH” là cảm nhận từng sự tư duy của tâm chớ không phải cảm nhận sự lặng lẽ của tâm, nhưng trong đó biết rơ có lúc tâm lặng lẽ nhưng có lúc tâm không lặng lẽ.

Như vậy đề mục này dạy rất rơ là nương theo hơi thở ra mà thấy tất cả sự hoạt động của tâm, tâm muốn ǵ hay tâm làm ǵ đều biết rất rơ không bỏ sót một hành động nào của tâm. Chỗ này mọi người đă hiểu sai là dùng ư thức tập trung tâm vào hơi thở ra để ức chế ư thức khiến cho ư thức không khởi niệm. Khi ư thức không khởi niệm là họ cho ḿnh tu tập thành công. Đấy là sự hiểu biết về pháp môn tu tập hơi thở hết sức sai lạc, mong rằng quư vị hăy cố gắng đừng hiểu sai tất cả các đề mục về HƠI THỞ là nhiếp tâm trong HƠI THỞ là không niệm. Chính không niệm là một tai hại rất lớn trong sự tu tập giải thoát theo Phật giáo.

Cảm nhận TÂM HÀNH tức là làm chủ tâm, điều khiển tâm làm cho tâm luôn luôn sống trong thiện pháp và không bao giờ để tâm tư duy suy nghĩ những điều ác được.

Khi hiểu biết lời dạy này áp dụng vào sự tu tập th́ chỉ có ư thức xả tâm. Ư thức xả tâm tức là CẢM NHẬN TÂM HÀNH.

CẢM NHẬN TÂM HÀNH TỪNG HƠI THỞ RA th́ c̣n ác pháp nào xen vào được và tu tập như vậy th́ giải thoát ngay liền. Có phải không quư vị?

Tập luyện đề mục này để thấy tâm hành hay không tâm hành. Hành là tâm khởi ra niệm này niệm kia, đó là tâm ở trong sự hoạt động. Tâm ở trong sự hoạt động là tâm nương hơi thở để cảm nhận sự hoạt động đó. Cho nên câu này nghĩa rất rơ “CẢM NHẬN TÂM HÀNH TÔI BIẾT TÔI THỞ RA”. C̣n không hành là không khởi niệm; là tâm tịnh, tâm im lặng. Tâm tịnh cũng giống như gốc cây. Tu tập mà tâm giống như gốc cây th́ chẳng có lợi ích ǵ cả. Cho nên tu theo Phật thường Phật dạy: “NGĂN ÁC DIỆT ÁC PHÁP, SINH THIỆN TĂNG TRƯỞNG THIỆN PHÁP” th́ tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ cũng vậy, phải ngăn ác diệt ác pháp và sinh thiện tăng trưởng thiện pháp. Câu dưới đây cũng dạy như câu trên nhưng là HƠI THỞ VÔ RA:

“Cảm giác tâm hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác tâm hành tôi biết tôi thở ra”. Tu tập “Cảm giác tâm hành là xem tâm có hành động ǵ không.


Đề mục thứ tám:

AN TỊNH THÂN HÀNH

Khi quư vị tác ư câu này: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra” một hay hai lần thôi mà đă có trạng thái an tịnh của thân liền th́ đó là đạt kết quả an tịnh thân hành. Thân an tịnh có trạng thái an lạc, hoan hỉ. Lúc bấy giờ nhận ra tâm là nhận ra sự hoan hỉ đó. Nhưng khi tác ư đề mục 6 - “Cảm giác tâm hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác tâm hành tôi biết tôi thở ra” th́ mới thấy rơ sự an lạc, sự hoan hỉ của tâm. Khi quư vị tác ư và nhận ra niềm hoan hỉ này rơ ràng là đạt kết quả của đề mục 6.

Muốn đạt được kết quả của đề mục này th́ phải siêng năng tu tập. Có siêng năng tu tập mới có đủ cảm nhận tâm ḿnh. Cảm nhận được tâm hành không phải dễ. V́ thế phải tu tập cho thật kỹ, cho cảm nhận được sự động và sự tịnh của tâm. Nói th́ dễ, nhưng làm không phải dễ, quư vị phải cố gắng lên, “Đường đi không khó v́ ngăn sông cách núi mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông”. Quư vị đừng nản ḷng mà hăy bền chí, đường đi phía trước đang rực ánh hào quang, đang chờ đón quư vị. Nhất là quư vị có một vị thiện hữu tri thức hướng dẫn th́ c̣n ǵ sợ tu sai pháp.

Khi thở ra thở vô mà cảm nhận được sự an ổn và niềm vui hoan hỷ th́ con đường tu tập không c̣n khó khăn và mệt nhọc nữa, v́ đă thấy ánh sáng dẫn đường phía trước, mỗi sự tu tập là ánh sáng lại tràn trề chói lọi. Đó là báo cho quư vị tu tập sắp đến đích. Nhưng quư vị lưu ư, v́ sự mong cầu và mơ ước của quư vị th́ quư vị sẽ rơi lạc vào đường Ma. Nếu quư vị cứ siêng năng tu tập mà không mong cầu một điều ǵ cả th́ sự an lạc và niềm hoan hỷ đó mới chính từ pháp sinh và chính đó mới là chính pháp của Phật.

Nếu quư vị tu hành chưa đến đâu mà cứ mong cầu th́ chúng tôi e rằng quư vị sẽ gặp Ma. Và v́ vậy con đường tu của quư vị bế tắc. Quư vị nhớ chưa?


Đề mục thứ chín:

AN TỊNH TÂM HÀNH

7- “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra”. Khi tâm chúng ta đang bị động mà không có cách nào làm cho nó an được, th́ chúng ta sử dụng ngay đề mục này bằng phương pháp như lư tác ư: “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra”. Cứ mỗi lần tác ư như vậy là chúng ta cảm nhận như tâm chúng ta có một sự an ổn trong im lặng và mỗi lần hơi thở ra, vô là tràn ngập sự an ổn của thân và tâm. Nếu kết quả này kéo dài từ 1 giờ đến 2 giờ là chúng ta đă hoàn thành đề mục này.

Khi thực hành đề mục “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra” là mục đích làm cho tâm thanh tịnh an ổn không c̣n vọng niệm tuôn trào loạn tưởng. Khi tác ư một hay hai lần là đă có trạng thái an tịnh của tâm liền đó là đạt kết quả an tịnh tâm hành. Tâm an tịnh có trạng thái an lạc, hoan hỉ. Lúc bấy giờ nhận ra cái tâm là nhận ra sự hoan hỉ đó. Nhưng khi tác ư đề mục “Cảm giác tâm hành tôi biết tôi hít vô; cảm giác tâm hành tôi biết tôi thở ra” th́ mới thấy rơ cái an lạc, cái hoan hỉ của tâm. Khi quư Phật tử tác ư và nhận ra niềm hoan hỉ này rơ ràng là đạt kết quả từ đề mục 6 và đến đề mục 7, “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra”. Cảm nhận tâm an tịnh và hoan hỉ này nó sẽ đẩy lùi các cảm thọ chướng ngại trên tâm, v́ vậy trên thân tâm chỉ c̣n lại một trạng thái thoải mái an ổn và dễ chịu.

Khi đă có trạng thái thoải mái, an ổn và dễ chịu trên thân tâm rơ ràng th́ quư Phật tử tác ư nhắc đề mục 7 - “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra” th́ tâm im phăng phắc ở trong một trạng thái đặc biệt. Cứ mỗi lần tác ư chúng ta cảm nhận như tâm có một sự an ổn trong im lặng và mỗi hơi thở ra vô tràn ngập sự an ổn thân và tâm. Chính trạng thái tâm an tịnh này tạo nên năng lực đẩy lui các cảm thọ dù là cảm thọ thân đau nhức tận cùng như thế nào cũng bị đẩy lui ra khỏi thân tâm rất dễ dàng, nhưng ở đây quư vị lưu ư: Việc tu tập này chỉ có những người có ư chí và gan dạ, c̣n kẻ phàm phu tầm thường th́ không thể ôm pháp này vượt qua được. Khi tâm được AN TỊNH th́ không c̣n tạp tưởng, dù có những tư tưởng mạnh như thế nào đi nữa cũng đẩy lui được hết.


MƯỜI HAI
ĐỀ MỤC LY
ÁC PHÁP

Mười hai đề mục Định Niệm Hơi Thở về sau là phần quán ly tham, ly sân, ly si, ly mạn, ly nghi. Phần này rất quan trọng, nếu một người tu theo Phật giáo mà không ly tham, sân, si, mạn, nghi th́ không bao giờ có giải thoát.

Cho nên muốn ly tham, sân, si, mạn, nghi th́ quư vị phải tu tập đạt cho được trạng thái AN TRÚ, AN TỊNH của ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ. Khi tâm đạt được như vậy th́ tất cả chướng ngại pháp đều bị diệt trừ, không những tâm tham, sân, si, mạn nghi mà tất cả các kiết sử. Cho nên khi tâm ở trong trạng thái AN TRÚ, AN TỊNH th́ mới phá 5 triền cái, thất kiết sử và tất cả ác pháp một cách rất dễ dàng, không c̣n khó khăn, mệt nhọc. Nếu không ở trong trạng thái AN TRÚ, AN TỊNH th́ khó mà ly dục, ly ác pháp.

Cho nên chúng ta phải tu tập 9 đề mục đầu tiên của hơi thở để đạt được tâm AN TRÚ, AN TỊNH trong hơi thở, khi nào tâm AN TRÚ, AN TỊNH trong trong từng HƠI THỞ và thời gian tâm AN TRÚ, AN TỊNH phải từ 1 giờ cho đến 6 giờ th́ mới dám tu tập 12 đề mục ly tham diệt ác pháp.

Mười hai đề mục Định Niệm Hơi Thở sau này dùng để tu tập ly tham và diệt các ác pháp. Mười hai đề mục định niệm HƠI THỞ này gồm có như sau:

Từ đề mục I cho đến đề mục VII là những đề mục đầu tiên của HƠI THỞ tu tập giúp cho thân tâm AN TRÚAN TỊNH như trên đă dạy. C̣n những đề mục sau chúng tôi sẽ tiếp tục giảng giải để quư vị hiểu rơ trong khi tu tập không sai.

Bởi sự kết quả của những pháp HƠI THỞ tu tập đầu tiên là cơ bản cho những pháp môn HƠI THỞ tu tập sau này, nếu tu tập tâm chưa có kết quả mà vội tu tập th́ chúng tôi e rằng quư vị chỉ là những người tu thử, tu chơi chớ chưa phải là những người có quyết tâm tu tập làm chủ sự sống chết và luân hồi.

Tu tập như vậy chỉ phí công sức quá uổng. Theo chúng tôi nghĩ và có lời khuyên quư vị đừng nên tu tập như vậy th́ tốt hơn hăy sống như người b́nh thường, trông nom nhà cửa gia đ́nh cho con cái c̣n có lợi ích hơn, chớ tu theo Phật giáo như vậy là phỉ báng Phật giáo quư vị có biết không?

Tội vô t́nh phỉ báng Phật pháp cũng phải trả quả như sau: Kiếp sau sinh lên làm người không bao giờ gặp Chánh pháp, không bao giờ gặp thiện hữu tri thức và nhất là khi sinh ra làm người chịu biết bao sự đau khổ. Nhất là không trí nhớ, để đâu quên đó, học hành không thuộc bài vở, v́ thế cuộc đời trở thành người dốt nát.


Bài thứ nhất:

ĐỀ MỤC THỨ TÁM

8- QUÁN THÂN THƯỜNG

8- “Quán thân vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thân vô thường tôi biết tôi thở ra”. Khi thân tâm được AN TRÚ, AN TỊNH trong hơi thở vô, hơi thở ra th́ quư vị tu tập qua đề mục thứ tám này, bằng cách tác ư và quan sát TÂM HÀNH của ḿnh xem nó nhận xét THÂN VÔ THƯỜNG có đúng nghĩa VÔ THƯỜNG hay không?

Khi nó đă hiểu một nghĩa THÂN VÔ THƯỜNG th́ chúng ta lại tác ư câu hai rồi quan sát nghĩa VÔ THƯỜNG của câu hai xem nó có truy t́m THÂN VÔ THƯỜNG ở góc độ khác. Cứ theo đề mục QUÁN THÂN VÔ THƯỜNG này mà tác ư và quan sát thấy từng sát na THÂN VÔ THƯỜNG. Trong khi tu tập thỉnh thoảng chúng ta thường tác ư câu này: “Quán thân vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thân vô thường tôi biết tôi thở ra”. Nương vào hơi thở vô, ra và tác ư như vậy th́ nó giúp cho quư vị có một nội lực mạnh mẽ cảm thấy THÂN VÔ THƯỜNG thật sự. Từ đó thân kiến kiết sử bị đoạn dứt. Đây là tu tập đề mục Định Niệm Hơi Thở câu hữu với pháp tác ư THÂN VÔ THƯỜNG để diệt ngă xả tâm ly dục ly ác pháp.

Quán THÂN VÔ THƯỜNG có nghĩa là thấy thân thay đổi từng phút, từng giây là như thật, thân không c̣n chỗ nào là thường c̣n, bất di bất dịch. Cho nên biết thân vô thường là biết thân này không phải là Ta, không phải của Ta, không phải bản ngă của Ta. Do biết rơ như vậy nên THÂN KIẾT SỬ bị đoạn dứt. Đề mục thứ tám này rất lợi ích phá vỡ THÂN KIẾT SỬ tan tành. Cho nên hằng ngày theo đề mục Định Niệm Hơi Thở này tác ư: “Quán thân vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thân vô thường tôi biết tôi thở ra”. Nhờ tác ư nhắc nhở tâm thành một ư thức lực “Quán thân vô thường” thấm nhuần theo từng hơi thở vô hơi thở ra.

Muốn thấm nhuần được như vậy th́ đề mục này phải siêng tu tập hằng ngày chia làm nhiều thời tu tập, mỗi thời tu tập 30 phút; mỗi năm hoặc mười hơi thở tác ư câu này một lần.

Câu này muốn tu tập có kết quả th́ phải đạt được thân an tịnh của đề mục thứ năm và tâm an tịnh của đề mục thứ bảy.

Thân tâm đă an trú trong hơi thở th́ nên tác ư câu: “Quán thân vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thân vô thường tôi biết tôi thở ra”. Tác ư câu này thường xuyên th́ thân kiến kiết sử sẽ bị diệt trừ. Đó là một kết quả không thể ngờ được, v́ câu tác ư có một sức lực mạnh mẽ vô cùng khi tâm an trú được trên hơi thở. C̣n nếu tâm chưa an trú, an tịnh được trên hơi thở th́ tác ư không hiệu quả. Đây là pháp môn tu tập Định Niệm Hơi Thở kết hợp với pháp quán THÂN VÔ THƯỜNG để phá vỡ THÂN KIẾN KIẾT SỬ. Khi phá vỡ thân kiến kiết sử th́ thân tâm rất an lạc không c̣n chấp ngă.


Bài thứ hai:

ĐỀ MỤC THỨ CHÍN

9- QUÁN THỌ THƯỜNG

 Quán thọ vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thọ vô thường tôi biết tôi thở ra”. THỌ là một cảm nhận đau nhức trong thân mà người ta gọi là THÂN BỆNH. Thân bệnh là thân đau khổ, cho nên nói đến THỌ là nói đến bệnh khổ.

Đề mục thứ chín này tu tập quán THỌ VÔ THƯỜNG với mục đích làm cho chúng ta không c̣n sợ hăi các CẢM THỌ, nhờ có quán thọ vô thường hằng ngày nên tâm thấm nhuần THỌ VÔ THƯỜNG thật sự. Nhờ thấm nhuần THỌ VÔ THƯỜNG thật sự nên khi thân có bệnh th́ tâm không dao động, không lo lắng, buồn phiền, sợ hăi, xem các CẢM THỌ như không có, như một niệm vọng tưởng khởi lên rồi tự lặng mất.

Mục đích của đề mục này giúp cho những ai tu tập QUÁN THỌ VÔ THƯỜNG để tâm họ luôn luôn bất động trước các CẢM THỌ. Muốn đạt được kết quả đó th́ đề mục này cần phải siêng năng tu tập hằng giây, hằng phút, hằng giờ, hằng ngày, hằng tháng, hằng năm không được biếng trễ và cũng không được bỏ qua một giây phút nào cả. V́ pháp môn tu tập này quá lợi ích cho kiếp sống của con người khiến họ làm chủ được các CẢM THỌ.

Trên đây là pháp môn tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ câu hữu với pháp môn tác ư “QUÁN THỌ VÔ THƯỜNG”.

Bởi vậy quư vị biết rơ các CẢM THỌ thật sự VÔ THƯỜNG th́ quư vị không c̣n lo sợ khi thân có bệnh. Khi thân có bệnh mà không sợ thân có bệnh th́ thân quư vị không bao giờ bệnh. Có thân mà không bệnh hay nói cách khác là làm chủ bệnh th́ cuộc đời này là Thiên đàng, Cực lạc.

Thường các tôn giáo xây dựng cảnh giới Thiên đàng, Cực lạc, đó là những thế giới ảo tưởng để dụ dỗ tín đồ, chớ sự thật không bao giờ có cảnh giới Thiên đàng, Cực lạc ngoài tâm con người.

Khi thân có bệnh, muốn bệnh tật chấm dứt th́ thường tác ư câu này: “Quán thọ vô thường tôi biết tôi hít vô; quán thọ vô thường tôi biết tôi thở ra”. Khi tác ư như vậy th́ tâm phải AN TRÚ, AN TỊNH trong hơi thở ra, vô th́ bệnh tật tức khắc đă biến mất mà không cần uống một viên thuốc nào cả. V́ trạng thái AN TRÚ, AN TỊNH th́ không bệnh tật nào xen vào được trong thân tâm, chỉ có người chưa AN TRÚ, AN TỊNH th́ bệnh tật sẽ xâm chiếm thân tâm.

Ở đây, phương pháp QUÁN THỌ VÔ THƯỜNG có ba đề mục trong ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ. ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ có một nội lực rất mạnh. Nhưng phải siêng năng tu tập hằng ngày ba đề mục này th́ mới mong làm chủ được SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT.


Bài thứ ba:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI

10- QUÁN TÂM THƯỜNG

Tâm của con người thật sự là VÔ THƯỜNG, nếu chúng ta chịu khó quan sát th́ sẽ thấy rất rơ. Tâm không bao giờ chịu đứng yên một chỗ mà hay lăng xăng khởi niệm, niệm này chưa xong liền khởi niệm khác. Do quan sát kỹ như vậy chúng ta mới thấy tâm là VÔ THƯỜNG thật. Do tính VÔ THƯỜNG của nó như vậy nên khi chưa làm chủ được tâm th́ chúng ta chịu khổ đau với nó không phải là ít.

Hằng ngày chúng ta tác ư câu này: “Quán tâm vô thường tôi biết tôi hít vô; quán tâm vô thường tôi biết tôi thở ra”. Khi tác ư xong th́ chúng ta chịu khó quán xét TÂM VÔ THƯỜNG ở nhiều góc cạnh khác nhau th́ chúng ta càng thấy rơ tính VÔ THƯỜNG của tâm. Do quán xét như vậy chúng ta sẽ không bị tâm ḿnh lừa gạt ḿnh và không bị tâm ḿnh làm cho ḿnh khổ đau nữa.

Người ở ngoài đời cũng như ở các tôn giáo khác trong đó có các hệ phái Phật giáo nước ngoài như Đại thừa, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Pháp Hoa Tông, Mật Tông, v.v.. đều cho tâm này là linh hồn, tâm này là Phật tánh, là Tánh Không, là Chơn Như, là trí tuệ Bát Nhă, là bản thể của vạn hữu, v.v.. Đó là một sự hiểu biết lầm lạc bằng ảo tưởng, tâm là một xứ trong pháp môn TỨ NIỆM XỨ: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP.

Nếu quán thấy TÂM VÔ THƯỜNG th́ cũng thấy THỌ VÔ THƯỜNG, th́ cũng thấy THÂN VÔ THƯỜNG, th́ cũng thấy CÁC PHÁP VÔ THƯỜNG. Như vậy toàn bộ TÂM, THỌ, THÂN, PHÁP đều VÔ THƯỜNG, mà đă VÔ THƯỜNG th́ đó là pháp khổ đau. Như vậy toàn bộ THÂN TÂM của chúng ta là pháp khổ đau. Khi xét thấu như vậy th́ lời dạy của Đức Phật THÂN NGŨ UẨN của con người là một khối VÔ THƯỜNG, KHỔ ĐAU. Trong thân người không có vật ǵ là thường c̣n bất biến. Thế mà kinh sách phát triển và Thiền Tông cho rằng trong thân con người c̣n có một vật BẤT SINH, BẤT DIỆT, ư này thật là sai và đi ngược lại với lời Phật.

Cho nên hằng ngày quán TÂM VÔ THƯỜNG là để chúng ta không bị kiến chấp LINH HỒN, PHẬT TÁNH lừa đảo ḿnh. Từ những truyền thống LINH HỒN lâu đời của ông bà và ngoại đạo tà giáo đă ra công xây dựng để lại tạo nên một cuộc sống mê tín cầu cúng.

Nhờ luôn luôn quán tâm vô thường nên từng tâm niệm sanh khởi không làm chúng ta bị dính mắc và đắm ch́m trong dục lạc thế gian. Đây là pháp môn tu tập Định Niệm Hơi Thở câu hữu với THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP.

Có một số người giàu tưởng giải, chia tâm này ra làm nhiều phần gọi là duy thức học. Duy thức học để phân chia tâm mà lư luận chơi, chứ chẳng mang đến sự lợi ích thiết thực cho cuộc sống của loài người. Cho nên DUY THỨC HỌC chỉ là những học giả biên soạn để tranh luận, chớ sách này chẳng có ích lợi ǵ cho sự tu tập giải thoát.

Nhưng ngược lại Định Niệm Hơi Thở sẽ giúp quư vị giải trừ các ác pháp và các chướng ngại nơi thân tâm của quư vị, khiến cho thân tâm quư vị sống được AN TRÚ, AN TỊNH, nhờ đó mà khổ đau không c̣n nữa.

Chính tâm AN TRÚ, AN TỊNH nên thân tâm lúc nào cũng THANH THẢN, AN LẠCVÔ SỰ. Đây là pháp môn tu tập Định Niệm Hơi Thở kết hợp với THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP.


BẢNG TÓM LƯỢC CÁC PHÁP TU
AN TỊNH T
ÂM HÀNH

Muốn thân được an ổn, thanh tịnh th́ hằng ngày nên tu tập: Đề mục thứ năm của Định Niệm Hơi Thở, muốn tu tập cho có kết quả th́ phải nương theo câu tác ư sau đây:

“An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”.

Tu tập như vậy th́ kết quả đem lại thân được AN TRÚ, AN TỊNH, nhờ đó mà thân không bệnh tật, không đau nhức.

Khi tu tập AN TỊNH THÂN HÀNH có kết quả tốt th́ mới tu tập AN TỊNH TÂM HÀNH, c̣n tu tập AN TỊNH THÂN HÀNH chưa có kết quả th́ phải bền chí tu tập đến khi nào có kết quả AN TỊNH THÂN HÀNH từ 30 phút đến 1 giờ th́ mới chuyển qua tu tập TÂM HÀNH.

Muốn tâm được AN TRÚ, AN TỊNH th́ hằng ngày nên tu tập: Đề mục thứ bảy của Định Niệm Hơi Thở, nhất là phải nương theo câu tác ư sau đây theo sự hướng dẫn của Đức Phật dạy cho chúng Tỳ kheo trong thời Đức Phật c̣n tại thế:

“An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra”.

Khi tác ư như vậy th́ tâm sẽ AN TRÚAN TỊNH ngay liền, đó là công phu tu tập đă đạt được kết quả làm chủ được tâm, nếu tu tập chưa đạt được vậy th́ hăy tiếp tục tu tập câu tác ư này cho đến khi nào bảo tâm sao th́ tâm làm theo như vậy.

Khi tu tập đạt được kết quả là làm chủ được tâm th́ mới tiếp tục tu tập đề mục thứ chín của Định Niệm Hơi Thở:

“Quán THỌ VÔ THƯỜNG tôi biết tôi hít vô; quán THỌ VÔ THƯỜNG tôi biết tôi thở ra”.

Như trên đă dạy: Khi tu tập 2 đề mục AN TỊNH THÂNAN TỊNH TÂM đă AN TRÚ, AN TỊNH th́ mới tu tập đến đề mục thứ ba này, nên nhớ kỹ lời dạy này th́ sự tu tập mới có kết quả tốt.

Đây là ba đề mục rất quan trọng để diệt trừ các ác pháp và các cảm thọ, khiến chúng không c̣n tác động vào thân tâm của quư vị được nữa. Như vậy là quư vị tu tập đă giải thoát hoàn toàn.

Ba pháp môn HƠI THỞ này được xem như ba cây cổ thụ trong pháp THÂN HÀNH NIỆM. Nếu chia ra từng kết quả của mỗi pháp mà gọi là tu chứng th́ chưa chứng đạo, chỉ có chụm lại kết quả của ba pháp môn này th́ mới được gọi là chứng đạo, “Một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại nên ḥn núi cao”.

Nếu quư vị tu tập ba đề mục này có chất lượng đầy đủ th́ không có bệnh khổ nào dám bén mảng vào thân quư vị được. Đây là pháp môn tu tập Định Niệm Hơi Thở kết hợp với pháp môn THÂN HÀNH NIỆM để diệt trừ các bệnh khổ nơi thân tâm của quư vị.

Lợi ích lớn cho đời người như vậy, xin quư vị hăy cố gắng tu tập cho thuần thục, đừng tu tập lấy có mà chẳng giải quyết được những ǵ, c̣n phí thời gian và công sức của quư vị quá uổng.


Bài thứ tư:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI MỘT

11- QUÁN PHÁP THƯỜNG

Danh từ PHÁP ở đây có nghĩa rất rộng: Mọi vật xung quanh chúng ta đều là PHÁP. Lời nói, suy nghĩ hay làm một việc ǵ đều là pháp cả, kinh sách Phật dạy là pháp cả. Kinh sách ngoại đạo cầu siêu cầu an niệm bùa niệm chú đều là pháp cả. Chính những điều mà chúng ta đang học tập và tu luyện cũng đều là pháp cả. Đất đai, ruộng vườn, sông núi, ao hồ, biển cả đều là pháp cả. Trời đất trăng sao, không gian vũ trụ đều là pháp cả, ngoài hành tinh này không có vật ǵ là không phải pháp.

Cho nên nói các pháp VÔ THƯỜNG là nói chung tất cả vạn vật đều là vô thường. Trong vũ trụ này không có vật ǵ là thường c̣n. Cho nên, người nào khéo sống trong tưởng mới nghĩ có vật thường c̣n như Thiền Tông và kinh sách phát triển.

Chính v́ quán các pháp VÔ THƯỜNG khiến cho chúng ta không bị dính mắc một pháp nào cả. Cho nên, đứng trước các ác pháp dù trước cái chết hay bệnh tật khổ đau tận cùng chúng ta cũng thản nhiên mà không hề có chút sợ hăi nào.

Bởi vậy quán sát xem xét các pháp VÔ THƯỜNG có lợi ích rất lớn cho người tu tập theo Phật giáo, v́ các pháp VÔ THƯỜNG là một sự thật không ai dám bảo rằng chúng ta nói sai.

Có người bảo rằng trăng sao không VÔ THƯỜNG v́ khi chúng ta mới sinh cho đến bây giờ chúng ta là ông lăo 100 tuổi mà trăng sao cũng vậy th́ bảo nó VÔ THƯỜNG sợ e không đúng.

Chúng ta có cảm nhận thời tiết vũ trụ có khi lạnh có khi nóng, có khi mưa gió trái mùa, có khi mưa gió thuận mùa, đó là sự VÔ THƯỜNG của vũ trụ. C̣n trăng sao là những vật quá lớn nên sự VÔ THƯỜNG của chúng khiến chúng ta khó nhận ra, như các nhà khoa học dùng máy móc đo đạc đă xác định sự VÔ THƯỜNG của trăng sao, chớ không phải chúng không VÔ THƯỜNG.

Quán các pháp VÔ THƯỜNG là quán một sự thật, chớ không phải dùng nó tu tập để xả tâm dính mắc của chúng ta.

Chỉ v́ chúng ta thấy các pháp VÔ THƯỜNG là sự thật nên chúng ta xả tâm không dính mắc là một sự thật, chớ không phải ngụy tạo để xả tâm.

Đạo Phật tôn trọng sự thật nên những điều Phật giáo dạy người tu tập làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT là sự thật.

Nói THÂN, THỌ, TÂM, PHÁPVÔ THƯỜNG đó là nói sự thật không dối gạt người.

Nói CÁC PHÁP VÔ THƯỜNG đó cũng là nói sự thật. Cho nên Đạo Phật không bao giờ lừa gạt người, xin quư vị cứ nghiệm xem có đúng như vậy không?

Với đề mục HƠI THỞ: “Quán các pháp vô thường tôi biết tôi hít vô; quán các pháp vô thường tôi biết tôi thở ra.

Nếu ai siêng năng tu tập vừa tác ư lại vừa quan sát các pháp VÔ THƯỜNG khi nó đă thấm nhuần th́ cuộc sống chúng ta chỉ c̣n ba y một bát như Đức Phật ngày xưa.

Đây là một đề mục tu tập hơi thở quán THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP VÔ THƯỜNG. Một khi đă thấm nhuần các pháp đều VÔ THƯỜNG th́ chúng ta đều buông xả sạch. Chính v́ chúng ta hiểu rơ các pháp VÔ THƯỜNG nên không có pháp nào là Ta, là của Ta, là bản ngă của Ta. Khi chúng ta chưa hiểu các pháp VÔ THƯỜNG nên cố gắng giữ ǵn bảo vệ thân tâm và mọi vật, nhưng cuối cùng chúng vẫn là VÔ THƯỜNG, cố giữ ǵn nhưng chúng ta có giữ được vật ǵ?

“Buông xuống đi! Hăy buông xuống đi!

Chớ giữ làm chi có ích ǵ?

Thở ra chẳng lại c̣n chi nữa,

Các pháp vô thường buông xuống đi!”

Với đề mục quán các pháp VÔ THƯỜNG này, siêng năng tu tập khi đă thấm nhuần rồi th́ có ích lợi rất lớn cho cuộc sống chung đụng hằng ngày với mọi người. Chính thấy các pháp VÔ THƯỜNG nên luôn luôn không bao giờ làm ḿnh khổ, người khổ và cũng không làm khổ tất cả chúng sinh.

Trong cuộc sống hằng ngày tâm luôn luôn nh́n thấy các pháp VÔ THƯỜNG nên không dính mắc, chấp trước một pháp nào cả, v́ vậy mà không c̣n đau khổ.

Thấy các pháp VÔ THƯỜNG th́ cuộc sống thay đổi rất lớn, không c̣n phiền năo hay lo lắng sợ hăi hoặc giận dữ, v.v.. Do hiểu biết các pháp VÔ THƯỜNG nên thường nh́n và quan sát các pháp để t́m lỗi ḿnh để sửa sai, do vậy nên không bao giờ t́m lỗi người. Nhờ t́m lỗi ḿnh để biết sửa ḿnh nên tâm không c̣n phiền năo, khổ đau nữa. Chính v́ t́m lỗi ḿnh mới thấy đời là biển khổ đau, nhờ thấy biết như vậy nên L̉NG YÊU THƯƠNG đối với mọi người càng lớn mạnh.

Trong Đạo Phật dạy: “Thấy lỗi ḿnh đừng thấy lỗi người”, đó là một tri kiến giải thoát của Phật giáo, nếu ai chịu khó áp dụng vào đời sống hằng ngày th́ đời sống này là Thiên đàng.

Biết rơ điều giải thoát này thật sự nên chúng tôi xin quư vị hăy lo tu tập như vậy th́ quư vị sẽ thấy sự AN TRÚ, AN TỊNH ngay liền. Khi một người biết t́m lỗi ḿnh th́ người ấy trở nên người thiện, người hiền, người tốt, người làm chủ được tâm ḿnh.

Cho nên, quán các pháp VÔ THƯỜNG là một điều lợi ích rất lớn. Vậy chúng ta hăy theo câu kinh trong sách này mà tu tập tác ư:

“Quán các pháp vô thường tôi biết tôi hít vô; quán các pháp vô thường tôi biết tôi thở ra”.

Đó là một phuơng pháp giúp quư vị thấm nhuần lư giải thoát chân thật của Phật giáo.

Khi biết rơ các pháp trên thế gian là VÔ THƯỜNG th́ quư vị phải siêng năng tu tập, nếu không siêng năng tu tập pháp môn này th́ các pháp VÔ THƯỜNG chỉ là lời nói suông, chứ tâm quư vị c̣n dính mắc đầy đủ, c̣n thấy các pháp là của ta, là ta. Và như vậy muôn đời ngàn kiếp sẽ trôi lăn trong sáu nẽo khổ đau. Và quư vị không bao giờ buông xả được luôn luôn dính mắc, chấp đắm các pháp.

Đây là pháp môn tu tập Định Niệm Hơi Thở câu hữu với THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP.


Bài thứ năm:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI HAI

12- BA MƯƠI BẢY PHÁP

Tiếp tục trên đường tu tập trong tay có 37 pháp môn, nếu ai có duyên với pháp môn nào th́ tu ngay pháp đó th́ cũng t́m thấy sự giải thoát hoàn toàn. Khi quán các pháp VÔ THƯỜNG xong thấy thân tâm ḿnh AN TRÚ, AN TỊNH hiện tiền th́ đó là chúng ta đă chứng đạo. Đến đây không c̣n tu tập nữa.

Như chúng tôi đă nói tu tập phải chọn pháp cho hợp với đặc tướng của ḿnh, nếu ḿnh không phù hợp với pháp môn quán các pháp VÔ THƯỜNG th́ chúng ta nên chọn pháp môn trực tiếp vào tâm tham, sân, si, mạn, nghi mà tu tập như lời Phật dạy:

“Quán ly tham tôi biết tôi hít vô; quán ly tham tôi biết tôi thở ra”. Theo lời Đức Phật dạy chỉ cần từ bỏ được tâm tham lam là nhập vào Niết Bàn, chấm dứt tái sanh luân hồi. Như vậy hằng ngày quư vị thường tác ư câu: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô; quán ly tham tôi biết tôi thở ra rồi nương vào hơi thở nhiếp tâm AN TRÚ, AN TỊNH và quan sát xem tâm ḿnh c̣n ham muốn một điều ǵ khác nữa không, nếu tâm ham muốn tu chứng đạo, đó là tâm c̣n ham muốn th́ phải QUÁN LY THAM… như các đề mục trên đă dạy. Khi siêng năng tu tập th́ ngũ triền cái: Tham, sân, si, mạn, nghi sẽ bị diệt trừ một cách dễ dàng. Khi tâm tham đă được ly ra th́ tâm chúng ta luôn luôn thanh thản, an lạc và vô sự. Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

Với đề mục: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô; quán ly tham tôi biết tôi thở ra”, nó có lợi ích rất lớn cho sự tu tập diệt trừ năm triền cái. Nếu tu tập đề mục này thuần thục, chỉ mỗi lần tu tập trong 30 phút nhiếp tâm an trú trong hơi thở rơ ràng cụ thể không mờ mịt thỉnh thoảng thường tác ư: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô; quán ly tham tôi biết tôi thở ra” th́ kết quả ly tham sẽ thấy rơ ràng. Từ đó về sau chúng ta cảm nhận ḿnh rất rơ tâm ít tham ăn, tham uống, tham ngủ nghỉ, tham vui, tham nói chuyện, tham danh, tham lợi, tham tiền bạc cho nhiều, nên việc bài bạc mua vé số đều chấm dứt.

Nhờ tu tập đề mục này mà sống độc cư trọn vẹn, pḥng hộ sáu căn nghiêm chỉnh trong những ngày Thọ Bát Quan Trai.

Đề mục này tu tập có lợi ích rất lớn mong quư vị cố gắng tu tập hằng ngày để t́m thấy sự giải thoát nơi thân tâm của ḿnh.


Bài thứ sáu:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI BA

13- QUÁN LY SÂN

Sân là một ác pháp nếu không ĺa ra khỏi thân tâm th́ nó sẽ làm khổ quư vị vô vàn, v́ vậy hằng ngày quư vị phải tu tập:

“Quán ly sân tôi biết tôi hít vô; quán ly sân tôi biết tôi thở ra”.

Nếu một tâm sân đă được ĺa bỏ th́ Niết Bàn ở tại đó. Chỉ cần chuyên tu tập một đề mục này ĺa bỏ được tâm sân th́ con đường tu của Phật giáo đâu mấy khó khăn. Phải không quư Phật tử?

Đức Phật đă đem lời dạy này ra bảo đảm với chúng ta: “Điều này đă được Thế Tôn nói đến, đă được bậc A La Hán nói đến. Và tôi đă được nghe. Này các Tỳ-kheo hăy từ bỏ một pháp, Ta bảo đảm cho các ngươi không đi đến tái sanh. Thế nào là một pháp?

Sân, này các Tỳ-kheo là một pháp các ngươi hăy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các ngươi không đi tái sanh. Thế Tôn nói lên ư nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.

Theo lời dạy trên đây chúng ta chỉ cần tu tập một pháp LY SÂN là chấm dứt tái sinh.

Trong đề mục thứ 13 của HƠI THỞ đă có dạy, xin quư vị xem lại sẽ thấy rơ ràng. Chỉ tu tập đề mục này cũng đủ chứng đạo quả giải thoát, chấm dứt tái sanh luân hồi trong một đời này mà thôi.

Nếu quư vị đă nhiếp TÂM AN TRÚ, AN TỊNH trong hơi thở ở các đề mục như: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh thân tôi biết tôi thở ra” “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô; an tịnh tâm tôi biết tôi thở ra” th́ trong những đề mục này đă có ly sân rồi, v́ AN TỊNH, AN TRÚ được là tâm sân đâu c̣n nữa, nếu siêng tu những tập đề mục này cho thuần thục th́ tâm sẽ được giải thoát và tâm sẽ như đất, như nước th́ nóng giận c̣n ở đâu được nữa.

Quư Phật tử có nghe Đức Phật dạy không?

Chỉ có tâm sân bị diệt, bị từ bỏ th́ con đường tái sinh sẽ chấm dứt. Một lợi ích quá lớn chỉ có từ bỏ tâm sân là được chứng đạo, là được giải thoát ngay liền; là được chấm tái sinh luân hồi. Vậy mà không tu tập th́ quá uổng. Phải không quư Phật tử?

Phải cố gắng nhớ tu tập hằng ngày “Quán ly sân tôi biết tôi hít vô; quán ly sân tôi biết tôi thở ra”. Chỉ có tu tập như vậy mà một kiếp sống khổ đau được diệt trừ măi măi, thật là tuyệt vời.


Bài thứ bảy:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI BỐN

14- QUÁN TỪ BỎ TÂM THAM

Khi nào chúng ta cảm nhận tâm ḿnh c̣n tham lam th́ nên tu tập đề mục này:

“Quán từ bỏ tâm tham tôi biết tôi hít vô; quán từ bỏ tâm tham tôi biết tôi thở ra”.

Đề mục này tu tập cũng giống như đề mục “Quán ly tham…”, nhưng ở đây “Quán từ bỏ” mạnh hơn. Vậy khi tu tập ly được tâm tham th́ thôi, nếu thấy tâm không ly được tham th́ chúng ta tu tập đề mục từ bỏ tâm tham cho đến khi thấm nhuần th́ chắc hẳn tâm tham sẽ bị diệt trừ.

Như vậy quư vị thấy rất rơ ràng, muốn diệt trừ một ác pháp nào trong tâm của chúng ta đều phải tu tập từ pháp dễ rồi mới đến pháp khó. V́ vậy tu tập đề mục thứ mười hai “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô; quán ly tham tôi biết tôi thở ra” khiến cho tâm tham ĺa ra, khi tâm tham được ĺa ra th́ kết quả giải thoát rất tốt. Bằng nó không chịu ĺa ra th́ quư vị tu tập tiếp đề mục thứ 14, từ bỏ tâm tham của Định Niệm Hơi Thở: “Quán từ bỏ tâm tham tôi biết tôi hít vô; quán từ bỏ tâm tham tôi biết tôi thở ra”. Nếu quư vị siêng năng chuyên cần tu tập đề mục này th́ tâm tham sẽ bị từ bỏ không c̣n tới lui nữa.

Từ ly đến từ bỏ là một đoạn đường tu tập để diệt trừ ḷng tham dục của chúng ta. Chính nó là gốc sinh ra muôn vàn sự khổ đau của loài người. Mong quư vị hiểu rơ những điều này để nhiệt tâm tu tập ngơ hầu được ra khỏi mọi sự khổ đau của kiếp làm người.


Bài thứ tám:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI LĂM

15- QUÁN TỪ BỎ TÂM SÂN

trên là những đề mục tu tập quán xét suy tư để từ bỏ tâm tham, c̣n ở đây tu tập những đề mục quán xét để từ bỏ tâm sân. Cho nên, trước khi tu tập đề mục này chúng ta phải tư duy quán xét cho thấu suốt lư vô thường của tâm sân, nhờ đó chúng ta mới từ bỏ nó một cách dễ dàng, không c̣n khó khăn và trở ngại. V́ khi từ bỏ là nó đi luôn không c̣n trở đi trở lại nữa.

“Quán từ bỏ tâm sân tôi biết tôi hít vô; quán từ bỏ tâm sân tôi biết tôi thở ra”.

Đề mục này tu tập cũng giống như đề mục “Quán ly sân” nhưng ở đây nó mạnh mẽ hơn là do “Quán từ bỏ tâm sân”. Nếu người nào bền chí tu tập, chỉ một đề mục này thôi cũng đủ làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

Như đề mục trên đă dạy: Ĺa tâm sân chưa đủ mà cần phải tiếp từ bỏ nó. Muốn từ bỏ nó là phải hằng ngày tu tập đề mục thứ 15: “Quán từ bỏ tâm sân tôi biết tôi hít vô; quán từ bỏ tâm sân tôi biết tôi thở ra”.

Nếu một người siêng năng hằng ngày tu tập với câu pháp hướng này tâm sân sẽ được từ bỏ. Từ bỏ được tâm sân th́ tâm quư vị sẽ được thanh thản, an lạc và vô sự. Ở đây quư vị thấy có hai tâm mà cần phải tu tập xả ly, từ bỏ và diệt trừ, đó là tâm tham và tâm sân. Có hai tâm này mà đă chiếm bốn đề mục tu tập của Định Niệm Hơi Thở:

1-      Ly tâm tham

2-      Ly tâm sân

3-      Từ bỏ tâm tham

4-      Từ bỏ tâm sân

Bốn đề mục này quư Phật tử tu tập nhuần nhuyễn rồi mới tiến tới tu tập đề mục thứ mười sáu.


Bài thứ chín:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI SÁU

16- QUÁN ĐOẠN DIỆT TÂM THAM

Trong tất cả các đề mục của ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ có những đề mục tu tập liên tiếp diệt trừ tâm tham, sân, si. Cho nên những từ ly tâm tham, từ bỏ tâm tham rồi đoạn diệt tâm tham là những bài pháp tu tập liên tục không gián đoạn.

“Quán đoạn diệt tâm tham tôi biết tôi biết tôi hít vô; quán đoạn diệt tâm tham tôi biết tôi thở ra”.

Đề mục tu tập này có một sự quyết liệt mạnh mẽ hơn những đề mục trên v́ “đoạn diệt tâm tham”, tức là làm cho nó không c̣n nữa, làm cho nó chết mất. V́ vậy ở trên chỉ có “ly” “từ bỏ” mà chưa làm cho nó tiêu diệt. Tại sao chỉ có tâm tham mà phải ba đề mục tu tập cẩn thận như vậy?

Kính thưa quư Phật tử! Tâm tham dục là một nguyên nhân sinh ra muôn thứ khổ đau của loài người như trên đă nói, v́ thế nó rất quan trọng đệ nhất trong các pháp ác. Cho nên, Đức Phật chia ra làm ba pháp tu tập hay c̣n gọi là ba giai đoạn tu tập tâm tham. Và khi đến tu tập đề mục này quư Phật tử phải có sự quyết định mạnh mẽ không thể lôi thôi với tâm tham dục được.

Đây là một pháp môn quyết liệt diệt trừ tâm tham, v́ chính tâm tham dục của loài người mà loài người phải chịu khổ đau vô vàn. Đề mục thứ 16 này là một pháp môn quyết định con đường tu tập của Phật diệt trừ tận gốc đau khổ. Vậy quư Phật tử hăy cố gắng lên, đây là pháp môn cứu cánh thoát kiếp khổ đau của con người mà mọi người phải tự thắp đuốc lên mà đi, không ai đi thay thế cho ai được.

Một phương pháp quá đơn giản: “Quán đoạn diệt tâm tham tôi biết tôi biết tôi hít vô; quán đoạn diệt tâm tham tôi biết tôi thở ra”. Cứ như thế nương vào hơi thở tu tập tác ư từ 1 phút đến 30 phút, sự tu tập ấy quá dễ dàng, không có khó khăn, không có mệt nhọc chỉ c̣n có siêng năng tu tập là đạt kết quả mỹ măn.


Bài thứ mười:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI BẢY

17- QUÁN ĐOẠN DIỆT TÂM SÂN

Người nào có đặc tướng tâm hay sân giận th́ nên tu tập pháp môn này:

“Quán đoạn diệt tâm sân tôi biết tôi hít vô; quán đoạn diệt tâm sân tôi biết tôi thở ra”.

Đề mục này cũng có một sự quyết định cuộc đời tu hành của ḿnh được hay không được. Nếu một người tu hành mà tâm sân c̣n th́ có nghĩa lư ǵ là một tu sĩ Phật giáo. Phải không thưa quư Phật tử?

Sân là một tính rất xấu và cực ác, lúc sân nó có thể giết người, làm bất cứ một việc ǵ; lúc sân, nó cũng không sợ bất cứ một thứ ǵ. Biết sự nguy hiểm của tâm sân như vậy, nên chúng ta quyết liệt đoạn diệt tâm sân tận gốc không c̣n để một chút xíu nào trong tâm.

Biết tâm sân là sự khổ đau, là pháp cực ác nên tu tập phải chấm dứt nó ngay liền.

Chấm dứt được tâm sân là Niết Bàn ngay liền tại đây, đâu có xa ǵ? V́ tâm sân diệt là tâm tham diệt; tâm sân c̣n là tâm tham c̣n. Trong hai tâm này diệt một tâm th́ tâm kia phải diệt. Biết rơ điều này nên Đức Phật đưa vào Định Niệm Hơi Thở sáu đề mục liên tục để diệt trừ tâm tham và tâm sân.

Sáu đề mục này rất quan trọng xin quư Phật tử lưu ư, để tu tập quyết định cho một đời tu hành của ḿnh có thành công hay không thành công do sáu đề mục này. Quư Phật tử hăy gửi trọn thân tâm vào những pháp môn tu tập này. Bởi Định Niệm Hơi Thở là một pháp môn ngăn ác diệt ác rất tuyệt vời. Nhưng hăy theo thứ tự đề mục của Định Niệm Hơi Thở mà tu tập. Đề mục này tu có kết quả rồi mới tu tập đến đề mục khác. Phải nhớ lời dạy bảo này: Đừng tu tập đề mục này chưa có kết quả mà vội tu tập đến đề mục khác th́ rất uổng phí công tu tập.

“Quán đoạn diệt tâm sân tôi biết tôi hít vô; quán đoạn diệt tâm sân tôi biết tôi thở ra”.

Đó là một câu tác ư nương theo hơi thở để diệt tâm sân một cách tuyệt vời. Nếu quư Phật tử chuyên cần tu tập hằng ngày, rảnh giờ nào tu tập giờ nấy th́ suốt thời gian tu tập một năm tâm sân của quư vị sẽ bị diệt trừ. Tâm quư vị sẽ như đất, như nước không c̣n chướng ngại pháp nào làm quư vị sân được. 


Bài thứ mười một:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI TÁM

18- QUÁN TÂM ĐỊNH TỈNH

Khi tu tập đoạn diệt tâm tham, sân, si, mạn, nghi th́ tâm phải ĐỊNH TỈNH, nếu thấy ḿnh đoạn diệt tham, sân, si, mạn, nghi mà tâm không ĐỊNH TỈNH tức là bị tưởng hôn trầm, thùy miên, vô kư. Khi bị những trạng thái này th́ tâm sinh lười biếng thích ngồi nhiều lười biếng đi kinh hành, v́ thế chúng ta nên trở về đề mục HƠI THỞ.

Biết rơ trường hợp này thường xảy ra cho mọi người tu tập nên Đức Phật đă dạy câu tác ư: QUÁN TÂM ĐỊNH TỈNH theo phương pháp ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ:

“Quán tâm định tỉnh tôi biết tôi hít vô; quán tâm định tỉnh tôi biết tôi thở ra”.

Đây là đề mục phá tâm si. Quư Phật tử phải cố gắng tu tập với đề mục này cho nhuần nhuyễn. Khi tu tập đă nhuần nhuyễn th́ không bao giờ có hôn trầm, thùy miên và vô kư đến thăm quư vị nữa. Nếu quư Phật tử tu tập chưa nhuần nhuyễn th́ quư vị sẽ bị hôn trầm, thùy miên đánh gục. Hôn trầm, thùy miên là một pháp cực ác đối với những người tu hành theo Phật giáo. Vốn nó không tha cho một người nào cả ngay Đức Phật c̣n bị hôn trầm, thùy miên, vô kư, v.v..

Nếu quư Phật tử diệt trừ tâm tham, tâm sân ở các đề mục trên th́ đến đề mục thứ 18 này th́ tâm si cũng đă bị diệt mất. V́ thế khi tu tập đề mục này quư Phật tử chỉ cần tác ư: “Quán tâm định tỉnh tôi biết tôi hít vô; quán tâm định tỉnh tôi biết tôi thở ra” là tâm định tỉnh có ngay liền.

Cho nên, trước khi muốn tu tập một pháp môn nào đều phải sử dụng đề mục này trước để giữ tâm được tỉnh táo, không bị những trạng thái si mê xen vào trong lúc tu tập.

Đề mục tu tập này quá đơn giản, nhưng rất hiệu quả vô cùng: “Quán tâm định tỉnh tôi biết tôi hít vô; quán tâm định tỉnh tôi biết tôi thở ra, thế mà quư Phật tử không tu tập th́ rất uổng. Mong quư Phật tử lưu ư tu tập nhiều hơn để mang lại lợi ích cho ḿnh cho người thật là an lạc vô cùng.


Bài thứ mười hai:

ĐỀ MỤC THỨ MƯỜI CHÍN

19- VỚI TÂM GIẢI THOÁT

Khi đă tu tập 18 đề mục trên th́ tâm quư vị đă quá nhuần nhuyễn nên với đề mục này chỉ cần tác ư là thấy ngay liền một trạng thái TÂM GIẢI THOÁT:

“Với tâm giải thoát tôi biết tôi hít vô; với tâm giải thoát tôi biết tôi thở ra”.

Đây là đề mục cuối cùng của Định Niệm Hơi Thở, khi tất cả các đề mục trên đều đă hoàn thành viên măn th́ đến đề mục này là TÂM BẤT ĐỘNG hoàn toàn có nghĩa là tâm lúc nào cũng thanh thản, an lạc và vô sự, tức là tâm ở trạng thái không phóng dật như Phật ngày xưa. Xưa Đức Phật đă xác định cho chúng ta biết trạng thái này là cứu cánh Niết Bàn: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành cũng đều nơi đó sinh ra”.

Đây là đề mục thứ 19 của Định Niệm Hơi Thở. Một đề mục chỉ cho trạng thái Niết Bàn: “Với tâm giải thoát tôi biết tôi hít vô; với tâm giải thoát tôi biết tôi thở ra”.

Khi tâm ở trong trạng thái bất động Niết Bàn th́ tâm không phóng dật theo các pháp, nên tâm luôn luôn tự nhiên ở trên hơi thở ra hơi thở vào.

Cho nên câu tác ư: “Với tâm giải thoát tôi biết tôi hít vô; với tâm giải thoát tôi biết tôi thở ra là chỉ rơ tâm bất động luôn luôn biết hơi thở ra vào nhẹ nhàng, êm ái mà không do dụng công chút nào cả, nếu c̣n dụng công để tâm biết hơi thở ra vào là chưa giải thoát.

Định Niệm Hơi Thở rất tuyệt vời, nếu người nào cứ theo đúng 19 đề mục của Định Niệm Hơi Thở này tu tập mỗi đề mục đều có kết quả th́ đến đề mục thứ 19 sẽ nhập vào chỗ TÂM BẤT ĐỘNG một cách dễ dàng. Chỗ tâm bất động là Niết Bàn, là cứu cánh của Phật giáo.

Tác ư đề mục: “Với tâm giải thoát tôi biết tôi hít vô; với tâm giải thoát tôi biết tôi thở ra này cũng giống như quư Phật tử tác ư: “Tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự” vậy.

Đến đây 19 đề mục Định Niệm Hơi Thở đă giảng xong, c̣n lại phần tu tập là phần của quư Phật tử. Chúng tôi chỉ là những người hướng đạo chỉ đường cho quư vị đi, nếu quư vị có đi th́ quư vị đến chỗ an toàn, c̣n không đi là quyền của quư vị chúng tôi không có quyền bắt buộc một người nào cả. Phật pháp là của chung của mọi người không riêng của người nào cả.

Sau cùng chúng tôi kính chúc quư vị tu tập sớm đạt được như ư muốn.


 

 

                                    

 

 

 


 

Phần thứ hai:

THÂN HÀNH NIỆM

ĐI, ĐỨNG, NẰM, NGỒI

Nếu hằng ngày siêng năng tu tập tỉnh thức trong bốn oai nghi: ĐI, ĐỨNG, NẰM NGỒI. Đi biết ḿnh đang ĐI, ĐỨNG biết ḿnh đang ĐỨNG, NGỒI biết ḿnh đang NGỒI, NẰM biết ḿnh đang NẰM. Cơ thể làm cái ǵ đều biết ngay cơ thể đang làm cái nấy. Tu tập như vậy gọi là tu tập tỉnh thức trong THÂN HÀNH NIỆM NGOẠI hay c̣n gọi là tu trong bốn oai nghi: ĐI, ĐỨNG, NẰM, NGỒI.

Hằng ngày siêng năng và hết sức nhiệt tâm tu tập như vậy nhất là luôn luôn giữ ǵn tâm không phóng dật th́ tất cả tâm tham, sân, si, mạn, nghi đều bị diệt sạch. Nhờ có diệt sạch tâm tham, sân, si, mạn, nghi nên nội tâm được AN TRÚ, AN TỌA, CHUYÊN NHẤT, ĐỊNH TĨNH.

Tu tập tỉnh thức trong bốn oai nghi: ĐI, ĐỨNG, NẰM, NGỒI như vậy nên hôn trầm, thùy miên, vọng tưởng đều được diệt sạch. Tu trong bốn oai nghi thật là tuyệt vời nhưng với những người lười biếng th́ không thể tu tập pháp môn này được.

Pháp rất hay nhưng con người vốn lười biếng v́ thế tu tập theo kiến giải của ḿnh để nuôi dưỡng tâm lười biếng. Cho nên quư sư thầy cũng như quư sư cô, sư ni và cư sĩ nữ ngồi gục tới gục lui như con gà mổ thóc rất đáng thương.

Đây chúng ta nghe Đức Phật dạy: “Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, biết rằng: “Tôi đi”; hay đứng, biết rằng: “Tôi đứng”; hay ngồi, biết rằng: “Tôi ngồi”; hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập THÂN HÀNH NIỆM.

Đây là pháp tu tập tỉnh thức trong bốn oai nghi, quư vị nên nhớ kỹ và cố gắng tu tập để đạt được tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự, đó là mục đích của hành giả phải đạt cho bằng được.