THIỀN CĂN BẢN

 

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Ấn bản điện tử được đăng tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

MỤC LỤC

Mục lục. 1

Lời nói đầu. 1

Thiền căn bản. 1

12 điều quan trọng cần ghi nhớ để ly dục ly bất thiện pháp. 1

Tu thiền giai đoạn I

I-  Phần I: ly dục. 1

1-   Hạnh ăn. 1

2-   Hạnh ngủ. 1

3-   Hạnh độc cư. 1

IIPhần II: ly bất thiện pháp. 1

1-   Nhẫn nhục. 1

2-   Tùy thuận. 1

3-   Bằng ḷng. 1

42 giai đoạn tu tập  (con đường tu tập Giới, Định, Tuệ). 1

Tổng kết giai đoạn I

Hỏi đạo của tu sinh. 1

  Hải Tâm.. 1

  Diệu Thiện. 1

  Minh Xảnh. 1

  Huệ Ân. 1

  An Tịnh (Diệu Tịnh). 1

  Diệu Hảo. 1

  Tú (Mỹ Linh). 1

  Diệu Hồng. 1

  Giác Quang. 1

  Thiện Tâm.. 1

Kết luận. 1

Ly bất thiện pháp. 1

Tu trong ba nghiệp. 1

I-   Đức nhẫn nhục. 1

II-  Đức tuỳ thuận. 1

Tâm thư gửi quư cư sĩ 1

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Cách đây mười hai năm chúng tôi đă dạy Thiền căn bản, một loại thiền của Phật giáo Nguyên Thuỷ, nhưng chúng tôi giảng miệng thu băng, chứ không có viết thành sách, v́ chúng tôi nghĩ rằng viết thành sách là điều kiện tạo danh và lợi dễ dàng trong giới Tăng Ni và Phật tử.

Đức Phật dạy: “Có danh có lợi th́ nên ẩn bóng”, do lời dạy này, nên khi tu chứng chúng tôi dạy miệng không ghi chép lại thành sách, măi cho đến một hôm chúng tôi nhận được một cuốn băng cassette do một Phật tử trao và nhờ chúng tôi nhuận lại.

Thấy nhân duyên vừa đủ để nhuận lại bài giảng này, v́ trước kia chúng tôi giảng vừa đủ để cho tu sĩ tại tu viện Chơn Như chuyên tu, không được phổ biến, nên ư nghĩa được cô đọng lại trong pháp LY và XẢ. Những người ở tại tu viện Chơn Như được sự hướng dẫn trực tiếp của chúng tôi nên khi tu tập có sự ǵ không hiểu rơ th́ trực tiếp thưa hỏi liền. C̣n khi đă nhuận lại thành sách là một điều rất khó cho người thực hành. Tại sao vậy?

V́ kinh sách không thể hướng dẫn tu tập được. Một chữ mà người hiểu nghĩa này kẻ hiểu nghĩa khác, cho nên kinh sách hiện giờ thành kinh sách kiến giải quá nhiều.

Với tất cả các tôn giáo khác th́ các đệ tử của các tôn giáo đó thường kiến giải bổ sung cho giáo lư Thầy Tổ của ḿnh hoàn chỉnh hơn. Ngược lại, với Phật giáo th́ không thể làm thế được, v́ tất cả đệ tử của đức Phật sau này không có ai hơn đức Phật. Cho nên, lời Ngài dạy như đinh đóng cột, không ai thay đổi và thêm bớt được, v́ thay đổi và thêm bớt là làm lệch ư của Phật. Làm lệch ư của Phật th́ biến lời dạy của Ngài trở thành thế tục hóa hay bị các tôn giáo khác đồng hóa. Cho nên, kinh sách Phật giáo hiện giờ nói nhiều, lư luận hay song tu tập chẳng đến đâu, chỉ c̣n cầu cúng dưới nhiều h́nh thức mê tín dị đoan; dưới nhiều h́nh thức tu tập ức chế tâm, khiến tâm rơi vào những trạng thái tưởng, rồi cho đó là định tướng. Thật là điên đảo!

Do đó, khi nhuận lại thành sách chúng tôi rất lo ngại, sợ mọi người hiểu lầm danh từ rồi tu sai lạc.

Ví dụ: “Tâm tùy tức”, tâm tùy tức có nghĩa là “Tâm nương theo hơi thở”. Theo như nghĩa trong kinh sách Nguyên Thủy th́ “Tâm tùy tức tức là tâm định trên thân”, có nghĩa là tâm hết phóng dật, khi tâm hết phóng dật th́ tâm ở đâu? Tâm ở trên hơi thở v́ hơi thở là thân hành nội của thân. Nếu tâm hết phóng dật mà không định trên thân th́ tâm rơi vào Không. Tâm rơi vào Không là một trạng thái của tưởng định, tức là Không Vô Biên Xứ Tưởng Định. C̣n “tùy tức” của Lục Diệu Pháp Môn là do sự ức chế tâm, bắt buộc tâm phải nương theo hơi thở. C̣n kinh sách Nguyên Thủy dạy tùy tức là do tâm Ly Dục Ly Ác Pháp, mà tâm đă ly dục ly ác pháp là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh nên tâm định vào thân gọi là “tùy tức”. Cho nên, tùy tức trong kinh sách Nguyên Thủy và tùy tức trong kinh sách Đại Thừa không giống nhau. Do không hiểu ư nghĩa của danh từ trong kinh Nguyên Thuỷ, nên người sau chế ra Lục Diệu Pháp Môn dùng để tu ức chế tâm. Pháp Lục Diệu cũng giống như thiền Minh Sát Tuệ bằng cách ức chế tâm, sau khi ức chế tâm được th́ lại quán xét (Quán, Hoàn, Tịnh) hay là Minh Sát để xả tâm. Đó là lối tu tập đi ngược lại Giới - Định - Tuệ của đạo Phật.

Bởi vậy, khi nhuận lại thành sách, chúng tôi rất sợ những danh từ, người ta sẽ hiểu sai tu thiền của đạo Phật mà trở thành tu thiền của ngoại đạo. Giáo pháp của đức Phật là giáo pháp ly tham, đoạn ác pháp, mục đích là khắc phục tham ưu để con người được giải thoát từ ngay lúc đầu mới bắt tay vào sự tu tập là có kết quả ngay liền. Nếu không biết cách, chỉ tu sai một chút xíu là đă bị ức chế tâm.

Ví dụ: Ngồi tu tập Định Niệm Hơi Thở, nếu cứ mải lo tập, tập trung hơi thở th́ bị ức chế tâm. Tu hơi thở mà quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp nếu có một chướng ngại pháp nào hiện đến trong bốn chỗ này th́ cố gắng khắc phục, đẩy lui như trong Tứ Niệm Xứ đă dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu, trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu, trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu và trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu”. Nhưng khi bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp không có chướng ngại pháp th́ tâm ở đâu? Tâm ở tại hơi thở. Tâm ở tại hơi thở mà không bắt buộc tâm ở tại hơi thở. Tâm định trên niệm của hơi thở, tức là không ức chế tâm vào hơi thở. Nên trong kinh Nguyên Thủy , Phật gọi là “Định Niệm Hơi Thở” chứ không gọi là “Quán Niệm Hơi Thở”, v́ Quán Niệm Hơi Thở tức là ức chế tâm vào hơi thở. Quán sổ tức, quán tùy tức cũng là pháp ức chế tâm. Chúng ta nên đọc lại bài kinh “Nhập Tức Xuất Tức” trong kinh Nguyên Thuỷ: “Quán ly tham, tôi biết, tôi hít vô. Quán ly tham, tôi biết, tôi thở ra”. Có nghĩa là, quán xét tâm để tâm không c̣n tham, sân, si nữa th́ tâm sẽ biết hơi thở hít vô. Quán xét tâm để tâm không c̣n tham, sân, si nữa th́ tâm sẽ biết hơi thở thở ra. Chứ không phải hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra, đó là cách thức tu tập ức chế tâm để tỉnh thức, chứ không phải xả tâm.

Bởi các nhà học giả tu chưa đến đâu mà lấy lư trí hữu hạn của ḿnh đọc kinh sách Phật rồi viết ra đủ loại thiền khiến cho người sau tu hành chẳng ra ǵ.

Cũng pháp của đức Phật mà hiểu sai, tu thành pháp ức chế tâm. Cũng như nghe nói “Sống Độc cư là bí quyết thành công của Thiền định”. Có người không hiểu độc cư như thế nào lại sống ức chế tâm ḿnh, sống cô đơn chịu đựng, đến khi sức chịu đựng không nổi, bắt đầu thần kinh hưng phấn, nói loạn tưởng, giống như người điên.

Khi đă nhuận lại thành sách, quư vị muốn tu hành th́ phải được gần Thiện Hữu Tri Thức, chứ không nên dựa vào kinh sách mà tu tập, trí tuệ hữu hạn của quư vị nhận thức không chính xác đâu, phải thưa hỏi với người có kinh nghiệm, có nghĩa là người ta đă tu và có kết quả thực sự. Tuy vậy, khi nhuận lại chúng tôi cũng hết sức làm sáng tỏ pháp hành để quư vị tu tập có kết quả.

Khi muốn tu tập theo pháp môn này, chúng tôi xin quư vị nên viết thư hỏi chỗ nào nghi ngờ, nhất là pháp hành hỏi kỹ từng chữ nghĩa cho rơ ràng.

Quư vị nên nhớ, tu đúng th́ không lâu, thời gian ngắn kết quả nhanh, c̣n tu sai mất thời gian mà không có kết quả. Tu đúng có xả tâm liền, tâm an ổn, thanh thản và vô sự. Tu sai th́ chướng ngại pháp dồn dập tiến tới khiến cho thân tâm bất an, tu hành măi dậm chân tại chỗ và cũng không biết cách thức nào tu tập tiến tới, chỉ c̣n biết an ủi  “Tu hành phải nhiều kiếp như trong kinh Đại Thừa dạy”.

Xin lưu ư quư vị, khi tu hành dậm chân tại chỗ, tức là tâm tham, sân, si có giảm bớt nhưng không hết và không biết cách làm chủ sanh, già, bệnh, chết là quư vị đă tu sai pháp th́ phải mau tu tập sửa lại, không khéo mất thân rồi khó t́m lại được.

Kính ghi,

Tu Viện Chơn Như

(Năm 2008)

THIỀN CĂN BẢN

Hôm nay là ngày mồng một Tết năm Bính Tư, 1996, Thầy có đôi lời nhắn nhủ cùng các Phật tử trong sự tu tập. Các Phật tử hăy cố lắng nghe, chỗ nào quư Phật tử tu tập đúng th́ hăy tiếp tục tu học, chỗ nào tu tập sai th́ nên sửa đổi lại ngay liền, không khéo mất th́ giờ vô ích và có khi c̣n bệnh tật rất nguy hiểm.

Thời gian thấm thoát trôi qua quá nhanh. Mới đó mà đă hết một năm tu tập của quư Phật tử. Giờ đây kiểm điểm lại sau một năm tu tập xem có tiến bộ hay dậm chân tại chỗ. Để xác định điều này, cô Diệu Quang đă trắc nghiệm để chọn và đưa các quư Phật tử lên tu tập lớp Thiền định thứ II. Kết quả hoàn toàn thất vọng. Một năm tu tập đă qua và tất cả quư Phật tử đều thi rớt. Chỉ có một ḿnh cô Huệ Ân là đủ điểm đậu ở giai đoạn “Xả” thứ nhất, phần I. C̣n quư Phật tử đành phải ở lại một năm nữa để tu tập ở giai đoạn I để “Ly” cho được bản ngă và ác pháp của ḿnh.

Tại sao quư Phật tử lại rớt? Xét ra có nhiều nguyên nhân tu sai mà quư Phật tử không biết:

1/       Tu sai mà không biết ḿnh tu sai.

2/       Cô Diệu Quang nhắc nhở mà không chịu nghe theo.

3/       Cứ dựa vào Thầy để nghe thuyết giảng, tích lũy sự hiểu biết suông nên tạo thành bản ngă to lớn.

4/       Học tập, thuộc nhiều, nói nhiều, đến khi hành th́ sai hết. Lớp này tu tập chưa xong, lại tu lớp khác.

5/       Ăn, ngủ chưa trọn vẹn.

6/       Độc cư giai đoạn I chưa xong, lại vượt qua giai đoạn II, III.

7/       Nhẫn nhục chưa tṛn mà vội tuỳ thuận, bằng ḷng là nén tâm, ức chế tâm đó là tu sai.

8/       Thiếu ḷng tin ở người Thiện hữu tri thức ở gần gũi bên ḿnh, như cô Diệu Quang.

9/       Không nghe lời dạy bảo khuyên răn của Thiện hữu tri thức.

10/    Thường sống trong bản ngă và ác pháp, cố giữ kiến chấp khư khư không chịu bỏ, không chịu thấy và xa ĺa các lỗi lầm nhỏ nhặt. Thường hay tự lư luận, che đậy lỗi lầm và cố tranh chấp, căi lư, nên tâm thường bất an.

11/    Sống thiếu lục hoà, sanh tâm ganh tị.

12/    Sống độc cư sai, tạo cảnh nén tâm, ức chế tâm, làm thinh không nói, nhưng ư nói rất nhiều.

13/    Tu sai, không thưa hỏi kỹ Thiện tri thức, để thành lối tu có h́nh thức bên ngoài.

14/    T́nh cảm người thân không chịu quán xét, xa ĺa, nên tâm thường bị phân tán.

15/    Khi nghe nhắc nhở, thiếu trí thông minh, không chịu thưa hỏi kỹ lại.

16/    Những lỗi lầm tu sai của nhau thường che dấu.

17/    Tâm luôn luôn sợ hăi, không dám chỉ mặt, vạch tên bạn đồng tu có lỗi lầm để giúp nhau sửa sai. Đó là thiếu ḷng dũng cảm, không gan dạ xây dựng ḿnh tốt, bạn tốt, tập thể tốt.

18/    Không dám thẳng thắn nhận lỗi ḿnh, chỉ lỗi người là tính hèn nhát.

19/    Vị t́nh, thương bạn đồng tu, không dám chỉ lỗi là đặt t́nh thương không đúng chỗ, để bạn ḿnh sai lại càng sai hơn.

20/    Sợ bạn bè đồng tu xấu hổ v́ phạm lỗi lầm, không dám chỉ sai cho người khác sửa đó là làm hại bạn ḿnh, hại tập thể, hại xă hội.

21/    Mỗi bữa ăn nào cũng không giữ yên lặng để nghe lời chỉ bảo của Thiện hữu tri thức để tu sửa thân tâm trong khi ăn uống, trong ăn uống thường tranh luận, biện lư, kiến chấp và che đậy lỗi lầm của ḿnh.

22/    Thường nương tựa kiến thức thế gian, sanh kiến chấp, nuôi lớn ngă mạn, khinh thường người Thiện hữu tri thức trợ giúp ḿnh tu học.

23/    Không chịu nương kiến thức xuất thế gian để diệt ngă, xả tâm, kính trọng người Thiện hữu tri thức của ḿnh.

24/    Thiếu ḷng tôn kính với người Thiện hữu tri thức gần bên, họ là người tạo nghịch duyên để ḿnh tu xả tâm giải thoát.

25/    Không chịu động năo, suy tư, quán xét để t́m ra các kiến chấp và sự tu tập sai của ḿnh để dẹp bỏ và sửa sai.

26/    Cứ dựa vào lời giải thích của Thầy, mà không chịu nghe lời chỉ thẳng của cô Diệu Quang.

27/    Không chịu động năo, quán xét lỗi ḿnh, để sửa sai theo lời chỉ thẳng của cô Diệu Quang.

28/    Nghe Thầy ở xa, không nghe cô Diệu Quang ở gần. Đó là bỏ mồi, bắt bóng.

29/    Nghe tiếng nói của Thầy, không chịu nghe tiếng nói của cô Diệu Quang. Đó là ôm vang, bỏ tiếng.

30/    Không nghe lời chỉ thẳng của cô Diệu Quang để triển khai trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.

Do 30 nguyên nhân trên đây mà quư Phật tử thi rớt. Cũng nhờ sự tuyển thi này, quư Phật tử mới được biết ḿnh rơ hơn, giải thoát ở mức độ nào sau một năm tu tập ở Tu viện Chơn Như.

 

12 ĐIỀU QUAN TRỌNG
CẦN GHI NHỚ ĐỂ
LY DỤC LY BẤT THIỆN PHÁP

Sau đây là những điều quan trọng mà quư Phật tử cần ghi nhớ trong khi tu tập Thiền định ở giai đoạn I trở lại:

1/       Thường tu tập tĩnh giác trong mọi hành động của thân, khẩu, ư.

2/       Thường tu tập cẩn thận, từ việc làm nhỏ nhất, đến việc làm lớn nhất. Phải dè dặt, kỹ lưỡng.

3/       Thường ư tứ trong mọi hành động thân, khẩu, ư trong thiện pháp và tránh ác pháp.

4/       Thường tu tập, bảo vệ và giữ ǵn tâm ḿnh thanh thản, an lạc và vô sự để được sáng suốt b́nh tĩnh và đẩy lùi các chướng ngại pháp.

5/       Thường tu tập nghị lực để chiến đấu với tâm ḿnh, ly dục, ly ngă, ly bất thiện pháp, trước mọi nghịch cảnh tức là ác pháp.

6/       Phải tỏ ḷng tôn kính, cầu xin Thiện hữu tri thức thân cận của ḿnh để được nghe những lời chỉ thẳng, vạch trần những lỗi lầm, những chỗ tu sai lạc để xả ngă và ác pháp để tu tập lại cho đúng.

7/       Khi thiện hữu tri thức bảo làm ǵ th́ phải làm đúng, không nên làm sai. Đó là tu tập đức tùy thuận ở người, làm sai lời dạy là tuỳ thuận ở ḿnh.

8/       Khi người Thiện hữu tri thức nói oan ức và mắng chửi ḿnh là để ḿnh tu tập đức Nhẫn nhục.

9/       Khi người Thiện hữu tri thức nói trái ư ḿnh là để dạy ḿnh tu tập đức Bằng ḷng.

10/   Khi người Thiện hữu tri thức chê ḿnh là để xem ḿnh có rèn luyện cách thức xả ngă ác pháp.

11/   Khi người Thiện hữu tri thức khen ḿnh là để xem ḿnh có xả ngă ác pháp được chưa?

12/   Khi người Thiện hữu tri thức bảo ḿnh phải tự t́m cách xả tâm, ly dục, ly ác pháp, không được học thuộc ḷng. Đó là chỉ cho ḿnh động năo, khai triển trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.

Trong 12 điều trên đây, quư Phật tử cần phải ghi nhớ cho kỹ. Những ǵ chưa hiểu, phải thưa hỏi thêm để biết cách tu tập xả tâm cho đúng.

Rút tỉa ưu khuyết một năm tu tập đă qua, quư Phật tử đă có nhiều kinh nghiệm hơn. Bước sang năm mới, quư Phật tử hăy chuẩn bị tinh thần dũng mănh, nghị lực kiên cường để luôn luôn chiến đấu trong mặt trận sinh tử, ly dục, ly bất thiện pháp; để đem lại cho quư vị một tâm hồn thanh thản, yên vui và vô sự; để đem lại kết quả tuyển thi một năm sắp tới tốt đẹp hơn; để thực hiện bước sang giai đoạn tu học cao hơn. Đó là thực hiện được mục đích làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sinh luân hồi.

Cố gắng hỡi quư Phật tử! Quư vị hăy cố gắng lên! Phần thưởng chiến thắng danh dự cho những ai biết cố gắng đang chờ đón ở phía trước.

Vậy ở đây, chiến thắng cái ǵ? Không phải chiến thắng để có thần thông phép tắc quư Phật tử ạ! Không phải ở chỗ ngồi thiền bảy tám ngày quư Phật tử ạ! Không phải ở chỗ nhất tâm bất loạn, mà ở chỗ tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ.

Đừng thấy những thất bại đă qua mà hối tiếc. Hăy nh́n hiện tại và vị lai mà tiến bước tu tập. Có quyết tâm, phải có thành công. Sự tu tập không khó, nhưng khó v́ những người không có quyết tâm, thiếu ư chí và nghị lực dũng mănh.

Những lời sách tấn này, quư Phật tử phải nhớ măi trên bước đường tu tập Thiền định. Quư vị đừng ngại khó khăn, v́ bên cạnh quư vị đă có cô Diệu Quang, kế đó c̣n có Thầy. Đường đi khó là v́ chưa biết đường. Nhưng khi đă biết đường, th́ dù đường đi có khó đến đâu cũng đi đến đích. Mạnh dạn tiến lên hỡi quư Phật tử! Để chấm dứt sanh tử luân hồi muôn đời. Đừng để thân tâm này trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, tiếp diễn măi đau khổ muôn kiếp.

Sau khi nghe lời Thầy giảng trạch chỗ tu sai, quư Phật tử đă hiểu rơ rồi, và đă nhận ra, bây giờ quư Phật tử cố gắng suy tư, động năo, t́m hiểu chỗ sai của ḿnh, để tu sửa lại, để được giải thoát, để được tu tập lớp cao hơn. Thầy sẽ bắt đầu giảng trạch bổ túc thêm những điều quư vị đang tu tập dở dang.

Hôm nay bắt đầu cho một năm tu tập mới, Thầy xin nhắc lại trên con đường tu tập theo đạo Phật, có ba giai đoạn tu Thiền định:

1-       LY: Có nghĩa là rời xa, ĺa xa, cách xa.

2-       DIỆT: Có nghĩa là đóng lại, làm cho ngưng hoạt động, dừng lại.

3-       XẢ: Có nghĩa là bỏ ra, ném ra, không cần dùng nữa, không c̣n trở lại thói quen tật cũ tức là nghiệp cũ.

Giai đoạn thứ nhất trong một năm tu tập, quư vị chỉ có tu tập ly dục, ly bất thiện pháp. Thế nhưng, quư vị đă lầm lẫn nên chỉ tu tập diệt và xả. V́ thế, sự tu tập của quư vị trở thành mù mờ, nên không biết tu cái nào chính, cái nào phụ. Cái chính là ly dục, ly bất thiện pháp, tức là tu tập Ba Đức, Ba Hạnh. C̣n cái tu phụ là nhiếp tâm trong hơi thở. Nó chỉ phụ trợ cho sự tu tập LY mà thôi. Quư Phật tử đă lầm nên lấy cái tu chính làm cái tu phụ; c̣n cái tu phụ làm cái tu chính. V́ thế, khi thi quư Phật tử đều rớt hết là phải. Qua một năm tu tập, quư vị có nhiều kinh nghiệm cho cuộc tuyển thi mới. Nhờ cuộc tuyển thi vừa qua quư vị mới nhận ra cái tu sai của quư vị.

Bây giờ Thầy sẽ giảng trạch giai đoạn thứ nhất là LY để quư Phật tử hiểu đúng cách, rồi nương vào cô Diệu Quang chỉ thẳng, đập thẳng mà tu tập. Xưa, đức Phật Thích Ca Mâu Ni phải tu ở giai đoạn này sáu năm khổ hạnh mới ly dục. C̣n ở giai đoạn II, III, Thầy không giảng, v́ nếu giảng th́ quư Phật tử sẽ hiểu lộn xộn, rồi không biết cách thức tu tập. Chờ khi nào quư vị tu tập xong giai đoạn I, Thầy sẽ giảng giai đoạn II. Tu xong ở giai đoạn II, Thầy sẽ giảng tiếp giai đoạn III.

Tu tập ở giai đoạn I là phải xét lại Ba Đức, Ba Hạnh. Đây là phương pháp tu tập Ly Dục, Ly Bất Thiện Pháp. Ba đức là: Nhẫn Nhục, Tùy Thuận, Bằng Ḷng. Ba hạnh là: Ăn, Ngủ, Độc Cư.

  

TU THIỀN GIAI ĐOẠN I

Nội dung tu tập giai đoạn I gồm hai phần: Phần I là “Ly Dục”, phần II là “Ly Bất Thiện Pháp”.

I-  PHẦN I: LY DỤC

Ly dục là xa rời ḷng ham muốn của ḿnh. Muốn ĺa xa th́ quư vị phải t́m xem đối tượng của ḷng ham muốn là ǵ. Trong đời sống hàng ngày của con người có năm đối tượng dục lạc khiến quư vị sanh tâm ham muốn. Đó là: ăn, ngủ, sắc dục, danh, lợi. Muốn ĺa các thứ dục này quư vị phải tu tập ba hạnh: Ăn, Ngủ, Độc Cư. Quư vị cần phải hiểu rơ cái lợi và cái hại của ăn, ngủ, độc cư như thế nào?

1-       Hạnh Ăn

Hạnh ăn uống là một phương tiện để tu tập ly dục về ăn uống. Người đời thường nói: “ham ăn, hốt uống” là để chỉ những hạng người xấu ham ăn, ham uống. Chúng ta là những tu sĩ tu tập hạnh giải thoát mà chưa giải thoát được cái ăn th́ c̣n giải thoát được cái ǵ? Vậy, chúng ta phải tập ăn ngày một bữa để nuôi sống thân chúng ta mà thôi. Không được ăn uống lặt vặt, không được ăn uống phi thời, không được chạy theo dục lạc về ăn uống. Phải luôn luôn cố gắng khắc phục trong ăn uống, ăn uống không khắc phục được th́ c̣n khắc phục được cái ǵ?

Phật không dạy chúng ta tuyệt thực hay tiết thực (ăn quá ít) như ngoại đạo đă dạy, hoặc dạy chúng ta ăn uống phi thời, đức Phật dạy: Thừa tự pháp không nên thừa tự thực phẩm. Xưa kia, Ngài đă tu khổ hạnh, tiết thực ăn uống quá ít, thấy cơ thể hao ṃn, tinh thần không c̣n sáng suốt nên Ngài bỏ. Đó là tu sai, không t́m được giải thoát. Cho nên, Ngài quyết định ăn ngày một bữa cho đủ sống, để cơ thể khỏe mạnh mà tu tập.

Chỉ ăn ngày một bữa mà đức Phật vẫn khoẻ mạnh và sống đến 80 tuổi mới chết. Chúng ta bây giờ cũng vậy, ăn mỗi ngày một bữa mà vẫn khỏe mạnh. Trong những ngày lao động quư Phật tử cũng vẫn tham gia lao động mà cơ thể vẫn b́nh thường. Quư vị cần xét kỹ dục ăn uống, rất là quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. Người ngoài đời v́ ăn uống mà sinh tâm tham lam nên người ta xâu xé lẫn nhau, giết hại nhau, chà đạp lên nhau không chút ḷng xót thương, so sánh với loài vật th́ chúng ta cũng không khác. Phải không quư vị?

V́ ăn uống mà người ta nghèo đói, khổ sở, nợ nần; v́ ăn uống mà người ta làm đủ điều gian lận, mánh khóe; v́ ăn uống mà sản nghiệp tiêu tan; v́ ăn uống mà cốt nhục tương tàn; v́ ăn uống mà phải dầm sương, dăi nắng, chạy xuôi, chạy ngược, buôn tảo, bán tần. Quư Phật tử có thấy không?

Cái dục về ăn uống đối với đời người nó mang đến sự khổ đau biết là dường nào! Vậy từ đây về sau, quư Phật tử phải dùng nghị lực dũng mănh chống lại cái dục về ăn uống. Chỉ ăn ngày một bữa mà thôi, ngon dở, nguội lạnh không màng. Chỉ cần giải quyết nghiệp đói của thân là đủ lắm rồi, đủ để thân yên ổn, thanh tịnh, tu tập Thiền Định, giải quyết luân hồi sinh tử. Đừng nghĩ rằng nay đ̣i ăn thứ này, mai đ̣i ăn thứ kia. Người tu hành ai cho ǵ ăn nấy, ngon cũng ăn, dở cũng ăn, không khen, không chê, không ham, không thích, chỉ ăn đủ no ḷng mà thôi. Đừng sinh tâm lư luận “Ăn như vậy thiếu chất bổ”. Đó là cái lư luận chạy theo ăn uống.

Quư Phật tử phải hiểu thân là một khối bất tịnh do các duyên hợp lại mà thành, nên không có cái ǵ trong thân là ta, là của ta, là bản ngă của ta, nó không thường hằng bất biến, mà thường vô thường thay đổi, nên luôn luôn đau khổ, phiền lụy. Vậy mà muôn đời người ta lầm chấp thân này là bản ngă chân thật của ḿnh. Lại có một số người cho rằng trong cái khối này có cái “Bản thể Chân Như Phật Tánh” của ḿnh. Chính v́ cái lầm chấp đó nên luôn luôn lo bảo vệ và giữ ǵn không cho ai chạm đến. V́ thế, mà “duyên sanh” sanh ra muôn ngàn thứ đau khổ, phiền lụy và luôn luôn tranh đấu để bảo vệ nó. Quư Phật tử cũng vậy, cũng lầm chấp như bao nhiêu người khác. Ngày nào các duyên tan ră th́ ô hô! C̣n lại cái ǵ là của quư vị đâu nữa? Chết chỉ c̣n một khối nghiệp lực nhân quả, thiện ác tiếp tục tái sanh mà quư Phật tử đă lầm chấp trong suốt cuộc đời của ḿnh, cho nó là linh hồn thần thức, Phật Tánh, Bản Lai v.v..

Sự tiếp diễn luân hồi này măi măi muôn đời muôn kiếp để trả vay vay trả, không bao giờ tàn phai. Quư Phật tử có biết rằng trong cuộc đời này không có một sự việc ǵ xảy ra ngẫu nhiên cả. Tất cả đều có nguyên nhân, đều có lư do. Đó là nhân quả, quư vị có biết không? Không phải như các nhà Nho ngày xưa và một số người ngày nay bài bác lư nhân quả. Họ cho rằng tất cả đều là ngẫu nhiên. Họ c̣n cho thí dụ là những chiếc lá vàng ở trên cây kia vô t́nh (do ngẫu nhiên đưa đẩy), gió thổi bay đi, cái rơi xuống đất, cái xuôi ḍng nước, cái rơi xuống bùn. Đời sống nghèo đói, giàu sang của con người cũng như vậy.

Thực ra gió nào có phải là ngẫu nhiên; mà chính là do nhân duyên mặt trời nung đốt không khí. Không khí bị cháy, trống đi một khoảng, các không khí chỗ khác ập vào, lấp vô chỗ trống, tạo thành cơn gió, cơn băo. Sự nghèo đói và giàu sang của chúng ta không thể do ngẫu nhiên mà có được. Hoả hoạn, thuỷ tai, giặc giă cướp mất sự giàu sang, để lại sự nghèo đói cho muôn người. Đây là những cận duyên trong hiện kiếp. C̣n những duyên sâu xa trong nhiều kiếp quá khứ nữa. Duyên nhân quả khởi trùng trùng tạo thành khối nghiệp nhân quả đi luân hồi sanh tử bất tận.

Đức Phật trong bài thuyết pháp Mười Hai Nhân Duyên đă chỉ rơ kiếp sống của một con người từ khi sanh ra, lớn lên cho đến khi tan ră. Chỉ là Vô Thường, Khổ, Vô Ngă. Không có ǵ tồn tại ngoài 12 Nhân Duyên này tiếp diễn nối nhau măi trong lộ tŕnh nhân quả (Thầy sẽ giảng rơ hơn về 12 Nhân Duyên vào một dịp khác). Thế nên, cuộc đời con người chẳng qua chỉ là một khối nhân duyên Vô Minh nhân quả trả vay, vay trả triền miên, cùng với duyên tan hợp mà thôi.

Cho nên, trong gia đ́nh, cha mẹ, vợ chồng, con cái luyến ái, gắn bó hoặc đau khổ, phân ly cũng là do nợ nần muôn đời muôn kiếp trong nghiệp lực nhân quả. Có ǵ đâu mà thương nhớ, tiếc mong. Bỏ xuống đi, hăy bỏ xuống đi! Đời chẳng có ǵ đáng cho ta lưu luyến cả.

“Quyết một đời tu tập không lui,

Giữ thân tâm thanh thản an vui.

Nhập Thiền Định xa ĺa nhân quả,

Đạo quả viên thành, độ chúng vui”.

Bây giờ quư Phật tử đă thấu rơ được hạnh ăn uống là đối tượng diệt ngă ác pháp. Từ nay về sau, quư vị cố gắng khắc phục nó để mỗi ngày ăn một bữa, đủ sống mà thôi, đừng bắt chước các vị thầy khác ăn uống phi thời mà con đường tu hành không đúng đạo Phật, nhưng cũng không nên ăn quá ít, hoặc ăn quá nhiều. Ăn ít là tiết thực, điều này tai hại cho sự tu tập v́ sức khoẻ yếu kém. Ăn nhiều là dư thừa, sanh dục, ham ngủ, mê muội, cũng hại cho đường tu. Phải sáng suốt, linh động.

Ăn đúng cách là tu. Tu đúng cách là làm chủ cái ăn. Đừng bắt chước những người khác mà ăn ít (v́ bản chất người ấy không ăn nhiều được), và cũng đừng ráng ăn nhiều (v́ sợ đói). Phải tùy ở thể tạng của ḿnh, và phải làm chủ ḿnh trong khi tu hạnh ăn uống.

2-       Hạnh Ngủ

Ngủ cũng là một đối tượng để chúng ta tu tập lập hạnh ngủ ly dục, mê muội. Ngủ là một nghiệp dục nặng của thân. Nếu không ngủ sẽ sinh ra bệnh, rồi chết; cũng như ăn vậy. Ngủ là một thói quen của nghiệp lực. Nó sinh ra vô minh, lười biếng, khiến cho thân tâm ta uể oải, bần thần, mỏi mệt, dă dượi. Thiếu ngủ con người thiếu nghị lực, không c̣n siêng năng, tinh tấn, làm việc, hay tu tập, học hành. Ngủ nhiều người sinh đần độn, ngu si, không thông minh, không bao giờ làm việc lớn, thường sống trong cảnh nghèo đói.

Ngủ là một dục lạc trong năm thứ dục lạc của thế gian, khiến người ta rất thích thú ham mê. Khi không ngủ là họ quá sợ, nhưng khi ngủ nhiều th́ lại ám độn, mê muội. Người tu hành cần phải khắc phục nó, chiến đấu trường kỳ với nó. Nó khiến chúng ta không tỉnh táo để phán xét mọi việc đúng sai, thiện ác trên bước đường ly dục, ly bất thiện pháp. Chính nó khiến tâm ta không tỉnh giác, nên tâm thường ở trong tà niệm, sanh ra nhiều duyên làm đau khổ cho ḿnh cho người. Chính nó khiến ta làm càn, làm bậy, thiếu suy tư, thiếu cẩn thận, nên thường mắc phải lỗi lầm. Chính nó khiến cho tâm ta mù mờ, không thanh thản, an lạc và vô sự, v́ thế sanh ra loạn tưởng, trạo hối. Chính nó khiến tâm ta mất b́nh tĩnh, thiếu sáng suốt, v́ thế dễ sinh ra hờn giận, đau khổ, nghi nan, phiền toái. Chính nó khiến cho tâm ta mù mờ, không thấu rơ các ác pháp. Chính nó khiến cho tâm ta rơi vào năm loại vô kư:

1/       Vô kư hôn trầm.

2/       Vô kư thùy miên.

3/       Vô kư mộng tưởng.

4/       Vô kư hôn tịch.

5/       Vô kư ngoan không.

Chính nó lặng đi, khiến ta tọa thiền mất tự chủ, thân nhúc nhích rung động, làm cho thân không bất động, khó nhập chánh định, rơi vào tà định.

Những điều Thầy nêu ở trên đây cho thấy ham ngủ tai hại đến sự tu tập biết là dường nào! Đă biết rơ nó, quư Phật tử phải cố gắng tu tập khắc phục cho được bằng:

1/       Đi kinh hành nhiều.

2/       Vừa đi kinh hành, vừa hướng dẫn tâm theo bước chân đi.

3/       Thường xuyên nhắc tâm tỉnh thức theo hành động của thân mà đức Phật gọi là Thân Hành Niệm.

4/       Thường xuyên hướng tâm như lư tác ư, nhắc tâm chớ ham ngủ.

5/       Khi gặp hôn trầm thùy miên nặng th́ phải cố gắng bằng mọi cách phá trừ cho được như:

-           Lấy kinh sách ra nghiên cứu về một điều ǵ để động năo th́ mới phá được ngủ.

-           Phải làm một việc ǵ để động thân.

-           Không được ngồi hoặc nằm yên một chỗ.

-           Chạy bộ, hoặc đi tắm.

-           Phải tập thể dục, tập vài thế dưỡng sinh, hoặc đi một bài quyền (vơ thuật).

-           Cử tạ, đào đất.

Quư vị nên nhớ kỹ: “Ngủ là một thứ dục lạc rất khó trị. Thế nên luôn luôn lúc nào cũng đề cao cảnh giác, chiến đấu với nó bằng tất cả nghị lực của ḿnh. Nếu quư vị không chiến đấu hết sức, chừng đó nó sẽ thành thói quen lười biếng, quư vị sẽ thất bại ê chề trong cuộc đời tu hành”. Biết bao nhiêu người tu hành đă qua, cũng v́ nó mà tu hành chẳng tới đâu. Quư vị nên nhớ ngủ là một thứ dục lạc trong thân nên phải thường xuyên tu tập đi kinh hành, và siêng năng hướng tâm như lư tác ư tỉnh táo mới ly nó được. Phải trường kỳ tranh đấu với nó. Đến khi nhập định xả bỏ thân tâm, nó mới hết được.

Ăn cũng vậy, phải nhập định xả bỏ thân tâm, nó mới hết. Hai thứ dục lạc này là cội gốc, mầm sống của thân; nếu không ngủ, không ăn th́ thân phải chết. C̣n ba thứ dục lạc kia (sắc dục, danh, lợi) là cội gốc của tâm nên chúng ta tu tập dễ ly hơn. Xa ĺa ăn ngủ nghiêm chỉnh, là xa ĺa được năm thứ dục lạc. Phải khéo léo, linh động, tuỳ theo sức ḿnh, tu tập dần dần lên. Không được ép chế không ngủ. Ngủ phải đúng giờ khắc, ngủ phải có tập luyện hướng tâm ngủ. Không được muốn ngủ hồi nào là ngủ, muốn tu hồi nào là tu. Ngủ đúng cách là tu tập đúng, ngủ không đúng cách là tu tập sai, cho nên tu tập đúng cách là làm chủ ngủ. Hành động làm chủ ngủ là tu, tức là tỉnh thức, hành động tu là làm chủ ngủ, tức là ly dục, ly ác pháp. Ly dục ly ác pháp tức là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là tâm định.

3-       Hạnh Độc Cư

Đây là một hạnh khó tu tập nhất trong ba hạnh ăn, ngủ, độc cư. Nghe nói đến nó th́ dễ, mà thực hành sống th́ khó khăn vô cùng. Độc cư là một phương tiện tu tập để bảo vệ, pḥng hộ, giữ ǵn, hộ tŕ, ngăn ngừa, che chở, bảo vệ sáu căn tức là bảo vệ thân tâm được an ổn, tránh các duyên bên ngoài, khiến cho tâm và cảnh an ổn, yên vui để tu tập dễ dàng hơn. Độc cư c̣n giúp cho tâm quư vị có dịp tuôn trào bao nhiêu những kư ức, những kỷ niệm khó quên. Độc cư cũng là dịp giúp cho quư vị nhận ra được dục lạc ham ngủ, ham vui là tai hại trên đường tu tập. Độc cư là đối tượng để quư vị dùng mọi phương tiện tu tập thu nhiếp thân tâm thành khối nội lực.

Người không sống trong hạnh độc cư được là người hay phân tâm. Người phân tâm là người không có sức tỉnh thức cao, không có sức tập trung mạnh, chỉ lo ức chế tâm bằng tưởng thức. Người thích quay ra ngoài thường rất sợ cô đơn, tâm thường bị phân tán theo các duyên. Tâm chúng ta có, vốn từ nhân quả mà ra, nên thường bị các duyên nhân quả chi phối. V́ thế, tâm lúc nào cũng bị phân chia ta nát, không hợp nhất lại được. Chỉ một vài giây hợp lại là bị phân ra liền theo các duyên trong ba thời gian: quá khứ, hiện tại, vị lai. Từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm kia, tâm chúng ta luôn luôn bị phân tán liên tục cho đến khi nằm xuống ḷng đất. Mục đích của người tu thiền là gom tâm lại, dù là thiền dưới bất cứ h́nh thức nào, chỉ trừ loại thiền do các nhà học giả sản xuất ra dùng để ức chế tâm. Bởi thế, người tu thiền mà không sống trong rừng núi thanh vắng, độc cư th́ không làm sao nhập định được. Tại sao vậy? Đó là v́ bốn lư do sau đây:

1/       Tâm phân tán.

2/       Tâm không thành khối.

3/       Tâm không nội lực.

4/       Tâm không tỉnh thức.

Muốn cho tâm thành khối, có nội lực dũng mănh, để đóng mở sáu căn và tiến vào giai đoạn II của Thiền định là DIỆT th́ phải sống độc cư một trăm phần trăm.

Muốn tu hạnh sống độc cư phải tu tập ba giai đoạn:

1/       Tập sống ít nói chuyện, chuyện ǵ đáng mới nói.

2/       Tập sống riêng, làm việc riêng một ḿnh.

3/       Tập sống, không làm việc, ngồi chơi vô sự.

Sau đây là phần thứ nhất của hạnh độc cư là tập sống ít nói chuyện.

Quư vị phải biết lựa chọn cái ǵ cần thiết mới nói, mới thưa hỏi; không cần thiết th́ không được nói, không được thưa hỏi. Duy nhất chỉ thưa hỏi về chuyện tu tập, và phải thưa hỏi riêng, không phải hỏi trước đại chúng v́ hỏi như thế quư vị sẽ bị phân tán tâm lo ngại, khó tập trung. Phải hỏi Thiện tri thức để chỉ cho rơ, hành cho đúng. Ngoài ra, những chuyện khác phải cẩn thận khi muốn nói ra. Không được hỏi linh tinh. Có hai mươi điều để giữ ǵn im lặng (tránh tiếp duyên):

1/       Tránh nói chuyện tào lao, nhảm nhí.

2/       Tránh kết t́nh nghĩa, kết bạn bè thân.

3/       Tránh nghe chuyện người khác, v́ chuyện người khác khiến tâm ta bị động, bất an, thường sanh ra nhiều chuyện và phải nói ra.

4/       Tránh gặp nhau, v́ gặp nhau dễ sanh nói chuyện. Nếu có gặp nhau th́ không nói chuyện là tốt nhất.

5/       Không nên đem sự hiểu biết cũng như kinh nghiệm về tu hành của ḿnh đi dạy người khác khi ḿnh tu chưa xong, tức là bị tâm tham danh khoe khoang.

6/       Thấy bạn ḿnh tu sai, không được đến dạy bảo, mà phải báo cho thiện tri thức chỉ dạy người ấy, v́ đến dạy bảo làm động ḿnh, động người và thành quen thuộc với nhau, nên không giữ hạnh độc cư được…

7/       Thấy bạn đồng tu buồn khổ, không được đến an ủi, chia sẻ. Chỉ cần báo thiện tri thức giúp là đủ.

8/       Tránh đổ lỗi người khác, v́ như thế sẽ tạo duyên bất an trong tâm, gây nên căi cọ, tranh tụng.

9/       Tránh đi đến thất của người khác v́ như thế là làm động ḿnh, và làm động tâm người.

10/   Làm lao động chung, tránh nói chuyện cười đùa.

11/   Khi giúp bạn đồng tu đang bệnh, tránh nói chuyện ngoài vấn đề thăm bệnh. Tốt hơn hết là chỉ hỏi thăm bệnh để dùng phương tiện trị liệu.

12/   Khi làm việc chung với người khác nên tuỳ thuận để tránh căi cọ, đổ thừa.

13/   Thường tập sống thơ thẩn một ḿnh để đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm.

14/   Luôn giữ tâm thanh thản, an lạc và hướng tâm đến thanh thản, an lạc.

15/   Thường giữ tâm vô sự, và hướng tâm đến vô sự.

16/   Thường tránh xa các duyên để giữ tâm không bị phân tán.

17/   Không nên đem tâm sự của ḿnh nói cùng ai, ngoài người Thiện hữu tri thức của ḿnh.

18/   Thấy việc làm nặng nhọc, cùng nhau chia sẻ làm, nhưng không được nói chuyện.

19/   Thấy ai làm chưa xong, cùng làm phụ, nhưng không nói chuyện.

20/   Thường sống im lặng trong và ngoài tâm, và hướng tâm đến sự im lặng.

Quư Phật tử phải ghi nhớ 20 điều kể trên để giữ tâm im lặng. Tốt nhất là tránh xa, tránh xảy ra các duyên, tránh tạo các duyên mới để tâm không bị phân tán. Càng tiếp duyên th́ càng tạo hoàn cảnh bất an, tâm bị phân chia, khó tu thành khối nội lực, và tu tập sẽ dậm chân tại chỗ, không tiến bộ được. Cố tránh duyên th́ hoàn cảnh mới thuận tiện, yên vui tu hành.

Quư vị nên nhớ độc cư ở giai đoạn I là Tịnh Khẩu. Tịnh khẩu là nói lời thanh tịnh, không nói lời bất tịnh. Tịnh khẩu là nói lời thiện, tức là nói lời làm vui ḷng ḿnh và vui ḷng người. Nói lời bất tịnh là nói lời ác, làm đau khổ ḿnh và đau khổ người. Tịnh khẩu là nói lời thiện, chứ không có nghĩa là á khẩu, v́ á khẩu là câm, không nói được. Thế nên, quư vị phải cẩn thận, kẻo rơi vào tu h́nh thức, ít nói mà thành nói rất nhiều. Chuyện ǵ cũng nói, khi tâm bung ra, phân tán nói thôi không hết, như nước vỡ bờ.

Hạnh độc cư khó lắm. Nó là bí quyết thành công của thiền định. Nó có ba nhiệm vụ:

1/       Bảo vệ tâm tránh các duyên.

2/       Gom tâm hợp nhất thành khối.

3/       Làm cho tâm tuôn tràn ra hết.

Sáu năm trời tu khổ hạnh của đức Phật Thích Ca Mâu Ni là sáu năm tu ly dục. Nhờ đó đức Phật tránh được các duyên, thu nhiếp thân tâm thành khối nội lực. Khi tâm đă thành khối có nội lực, đức Phật đă xả bỏ khổ hạnh tối đa, v́ khổ hạnh chỉ làm hại cho sức khoẻ, và trở lại đời sống b́nh thường của một tu sĩ đi khất thực ăn ngày một bữa và chỉ khác năm anh em ông Kiều Trần Như là Ngài đă nhận thêm sữa do cô bé chăn dê cúng dường. Trong 49 ngày dưới cội bồ đề, đức Phật dùng nội lực nơi tâm đă có, đem ra chiến đấu với nội tâm ḿnh để ly dục, ly bất thiện pháp. Lúc bấy giờ đức Phật gọi là hàng phục Ma Vương, kế đó đức Phật diệt tầm tứ, đóng mở sáu căn, nhập Nhị Thiền, sau khi nhập Nhị Thiền Ngài loại trừ tưởng thức nhập Tam Thiền, sau khi nhập Tam Thiền xong Ngài dừng các hành trong thân, nhập Tứ Thiền, nhập Tứ Thiền xong Ngài dẫn tâm đến Tam Minh, thành tựu giải thoát.

Tóm lại, ly dục là ĺa xa ư muốn của ḿnh. Nghe nói ly dục th́ rất dễ dàng, mà ĺa xa ư muốn của ḿnh th́ khó vô cùng. Bậc Thánh như Đức Khổng Phu Tử đến 70 tuổi mới dám tuyên bố: “Ta đến tuổi này mới làm theo ư muốn của mọi người”. Nghĩa là đến 70 tuổi, Ông mới ly dục và ác pháp nơi tâm Ông. Theo Thầy nghĩ, muốn ly dục ĺa ác pháp th́ ít ra phải ba năm rèn luyện. C̣n tu lơ mơ th́ 30 năm cũng chưa chắc đă làm được. Cái ư muốn của ḿnh là cái ǵ? Là Bản Ngă Ác Pháp. Bản ngă ác pháp không ly th́ làm sao có Niết Bàn? Vô Ngă Ác Pháp là Niết Bàn, chứ không phải vô ngă là Niết Bàn, v́ vô ngă ác lẫn thiện là cây đá.

Đi tu cũng như đi học. Người ngoài đời, nếu học không đến nơi đến chốn th́ chẳng có ích lợi ǵ cho ḿnh mà c̣n là gánh nặng cho xă hội. Người tu cũng vậy, tu không đến nơi, đến chốn sẽ làm bại hoại tôn giáo, như hiện giờ chúng ta thấy phần đông tu sĩ Phật giáo tu không đến nơi đến chốn làm hư hoại Phật giáo. Người tu đến nơi đến chốn làm sáng tỏ Phật Pháp qua gương hạnh sống của ḿnh, khiến cho mọi người quy ngưỡng và tôn kính Phật Pháp. Chúng ta quyết chọn con đường tu, th́ phải tu cho đến nơi đến chốn. Người tu lừng chừng không có ích cho ḿnh, cho người mà c̣n có hại cho tôn giáo. Đức Phật dạy: “Tu là phải ĺa xa ư muốn của ḿnh”. Tu là quyết tâm buông bỏ, bỏ để được giải thoát, thảnh thơi, an vui một đời. Bỏ cái ǵ? Bỏ ḷng ham muốn (ái dục).

Tóm lại, trong giai đoạn I của Thiền Định là giai đoạn Ly, dùng ba hạnh Ăn, Ngủ, Độc Cư làm đối tượng để tu tập, khắc phục cho được tâm ly dục. Quư vị nên nhớ, chúng ta là tu sĩ của đạo tu hạnh giải thoát th́ thời gian nào, ngày nào, tháng nào, năm nào cũng là mùa Xuân, mùa Xuân vĩnh cửu trong tâm hồn của chúng ta, mùa Xuân không có nhân quả, mùa Xuân không có diễn biến luân hồi. V́ thế, chúng ta không có chúc thọ, không có mừng tuổi mừng Xuân thế gian. Hăy sống b́nh thường, hăy giữ tâm b́nh thường trước mọi diễn biến của không gian và thời gian bằng một tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự th́ đó là mùa Xuân vĩnh cửu.

--o0o--

II-  PHẦN II: LY BẤT THIỆN PHÁP

Ly là ĺa xa, rời xa. Bất thiện pháp là tham, sân, si, mạn, nghi, những thói quen, tật xấu, những điều suy nghĩ, những lời nói, những hành động làm cho ḿnh khổ, người khác khổ. Bất thiện pháp c̣n gọi là pháp ác, pháp hung dữ, pháp làm khổ đau. Vậy, muốn ĺa xa pháp ác th́ quư Phật tử phải rèn luyện, tu tập ba đức: Nhẫn Nhục, Tùy Thuận, Bằng Ḷng. Quư vị nên lưu ư ba đức giải thoát này là để ĺa xa các pháp ác, rất là khó tu:

Nếu không biết tu đúng cách th́ sẽ hoài công, vô ích.

Không đủ nghị lực, bền chí, gan dạ, kiên tŕ, th́ cũng bỏ cuộc tu hành giữa đường.

Nếu không cầu xin pháp chỉ thẳng, đập thẳng mạnh mẽ của Thiện hữu tri thức th́ cũng khó mà tu được ba đức ba hạnh này vững vàng. Ba đức ba hạnh này là cốt tủy của Giới luật để thực hiện tâm ly dục ly ác pháp. Nếu Phật tử xem thường ba đức ba hạnh này th́ con đường tu tập tới đây dù tu tập bao lâu cũng không có kết quả.

1-       Nhẫn Nhục

Thầy thường nhắn nhủ với quư Phật tử cũng như đức Phật ngày xưa đă dạy: “Nhẫn một việc khó nhẫn, làm một việc khó làm”. Đó là nhắc nhở quư Phật tử ly dục, ly bất thiện pháp để nhập vào thiền định. Đây là một việc tu tập khó khăn vô cùng, chứ không phải ngồi tréo chân hít thở hoặc giữ tâm không vọng tưởng là thiền định. Nguyễn Thái Học đă nói: “Đường đi không khó v́ ngăn sông cách núi, mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông”. Đường đi không khó mà khó v́ người không biết đường. Quư Phật tử cũng vậy, khi tu không biết cách tu mà tu theo kiến giải của các nhà học giả Đại thừa, th́ đó là đường đi khó (v́ chưa biết đường). Cố gắng đi mà đường đi không thu ngắn lại, chỉ đi ḷng ṿng, không có lối ra, như con kiến ḅ trên miệng lu.

Khi đă biết đường, th́ dù cho khó đến đâu, chúng ta cũng đi đến đích, chỉ cần có ư chí là thành tựu. Cũng như quư Phật tử đă biết pháp tu th́ mỗi bước đi sẽ thu ngắn quăng đường. Trước khi bắt tay vào việc tu tập cụ thể ở phần II của giai đoạn I này, tức là Ly Ác Pháp th́ quư vị phải tu tập dứt điểm ở phần I là Ly Dục, hay ít ra quư vị cũng phải sống đúng Giới luật thấy những lỗi nhỏ nhặt đáng sợ, thấy lỗi ḿnh không thấy lỗi người. Quư Phật tử phải hoàn thành tâm ḿnh ly dục, nghĩa là hoàn toàn Ly Chấp Ngă.

Người chưa ly dục hoàn toàn mà vội ly ác pháp là một hành động điên đảo, tu tập như vậy là ức chế tâm, là nén tâm, chịu đựng, an phận. Cũng ví như người sống phạm giới, phá giới mà ngồi thiền nhập định th́ chẳng có ích lợi ǵ.

Nếu người đang sống trong cảnh dục lạc thế gian, tâm chưa ly dục mà theo học hỏi những thiện pháp trong kinh sách th́ chỉ mới gieo chủng tử ly dục, ly ác pháp của đạo giải thoát mà thôi. Không phải sự học hỏi, sự hiểu biết đó là ly dục, ly bất thiện pháp được mà c̣n phải tu tập nhiều nữa.

Nếu tâm chưa ly dục mà học hỏi kinh sách để tích luỹ giáo pháp giải thoát của đạo Phật th́ người này chỉ nuôi lớn lớn bản ngă ác pháp, chứ không ly dục, ly ác pháp được chút nào.

Nếu một người tâm chưa sống ly dục, mà thường học hỏi những thiện pháp trong kinh sách để làm kiến giải riêng của ḿnh, rồi dùng đó xả ly ác pháp và tâm ham muốn của ḿnh, th́ không bao giờ ly dục, ly ác pháp được, mà đó chỉ là lối tu tập đè nén tâm ḿnh, hoặc tránh né tâm ḿnh, hoặc trốn chạy tâm ham muốn và ác pháp mà thôi.

Người nào đang sống trong dục lạc thế gian mà tu Thiền định th́ chẳng bao giờ nhập được định cả. Nếu có nhập được th́ cũng chỉ rơi vào tà thiền, tà định mà thôi.

Nếu một người c̣n sống trong dục lạc mà tu đức Nhẫn nhục, th́ chẳng nhẫn nhục được ǵ, mà ngược lại, đó là lối tu tập nén tâm, ức chế tâm, làm cho tâm thêm đau khổ và thần kinh bị hưng phấn.

Nếu một người dùng h́nh thức bề ngoài để ly dục, mà trong tâm không ly dục, vội tu đức Nhẫn nhục, cũng chẳng tu nhẫn nhục được ǵ. Trái lại tâm hồn c̣n thêm đau khổ. Giống như quư Phật tử đă từng nói sự tu hành xả tâm phải “bằng máu và nước mắt”. Đó là sự tu sai, do nén tâm chịu đựng nên mới thấy sự khổ đau như vậy, chứ tu đúng th́ tâm bất động, dù bất cứ pháp ác nào cũng không làm nó động tâm được.

Nên nhớ, ly dục là ĺa xa cái tâm ham muốn, chứ không phải ly vật dụng, vật chất. Một người sống ở rừng núi không có vật dụng ǵ, như loài khỉ, vượn, người này ly vật dụng, chứ không ly tâm dục. Loài động vật cũng vậy, ly vật dụng, chứ không phải ly tâm dục của nó.

Người nghèo không có vật tùy thân, không phải là người ly dục. Người có đầy đủ vật chất trên thế gian mà không dính mắc vào những vật chất ấy, người ấy ly dục!

Người ăn thực phẩm dở mà không đ̣i thực phẩm ngon, không thích ngon, không chê dở, đó là người ly dục.

Người ăn thực phẩm ngon mà không đ̣i ăn thực phẩm dở, đó là người ly dục.

Người ăn thực phẩm dở mà đ̣i ăn thực phẩm ngon là người không ly dục. Ngược lại cũng vậy.

Người không thèm ăn thực phẩm này, thực phẩm khác là người ly dục.

Người c̣n thèm ăn thực phẩm này, thực phẩm khác là người chưa ly dục.

Ở cảnh động mà không đ̣i ở cảnh tịnh, là người ly dục.

Ở cảnh động mà đ̣i ở cảnh tịnh là người chưa ly dục.

Người mặc áo đạo, xuất gia tu hành mà tâm c̣n ham muốn cảnh thế gian là người chưa ly dục.

Người xuất gia tu hành mà tâm c̣n làm những chuyện cầu danh ở thế gian là người chưa ly dục.

Ở cảnh động, cảnh chướng tai gai mắt mà không bị động, không thấy chướng tai gai mắt là người ly dục.

Người nào luôn giữ tâm thanh thản là người ly dục.

Người nào luôn giữ tâm vô sự là người ly dục.

Người nào tâm không phóng dật là người ly dục.

Người nào tâm chưa vô sự là người chưa ly dục.

Người nào không giữ tâm thanh thản, tâm hay sanh chuyện này, chuyện kia, là người chưa ly dục.

Người thấy người khác có áo mới mà đ̣i hỏi áo mới là người chưa ly dục.

Người thấy người khác có áo mới mà không đ̣i áo mới là người sống an phận thủ thường, chưa phải là người ly dục.

Người thấy người khác có áo mới, ḿnh cũng có áo mới mà không ham thích, là người ly dục.

Người đứng núi này trông núi nọ là người chưa ly dục.

Người sống trong cảnh tu hành này mà đ̣i hỏi cảnh tu hành khác là người chưa ly dục.

Sống trong hoàn cảnh này mà vui với hoàn cảnh này là người ly dục.

Người sống trong hoàn cảnh này mà đ̣i hoàn cảnh khác là người chưa ly dục.

Cùng một công việc có nhiều người làm, nhưng hôm nay không ai làm chỉ có một ḿnh làm nên tâm sanh ra chướng ngại, đó là tâm chưa ly dục.

C̣n biết bao nhiêu điều so sánh về vấn đề ly dục và không ly dục. Ở đây, Thầy chỉ nêu ra một số vấn đề cụ thể để quư Phật tử hiểu rơ trong khi tu tập ly dục cho đúng cách.

2-       Tùy Thuận

Điều quan trọng trong sự tu tập là luôn luôn tỏ ḷng tôn kính ư kiến và việc làm của người khác. Đó là ư kiến và việc làm đúng, c̣n ư kiến và việc làm sai của người th́ ta tuỳ thuận để ly ác pháp, nhưng không để lôi cuốn. Bởi vậy, tu tập đức tuỳ thuận là một việc làm khó khăn vô cùng, không phải dễ làm. Chỉ có sống ly dục, tránh các duyên, và bảo vệ tâm giữ ǵn sáu căn th́ mới có thể ly dục, ly ác pháp dễ dàng mà thôi.

Tuỳ thuận có hai chiều, tùy thuận người và tùy thuận ḿnh.

Tuỳ thuận người là tôn kính mọi lời nói, việc làm của người khác.

Tuỳ thuận ḿnh mà tôn kính ḿnh th́ không khéo ḿnh chạy theo dục và nuôi ác pháp, nuôi ngă của ḿnh. Nên nhớ, tùy thuận ḿnh là tùy theo khả năng của ḿnh mà làm, tránh trường hợp nuôi dục, nuôi bản ngă. Tùy thuận là để ly dục, ly ác pháp và diệt ngă. Mục đích của nó không phải ở ư kiến và việc làm của ḿnh, mà chính là để được tâm hồn giải thoát, an vui, thanh thản. Đó cũng là bước đầu ngăn chặn và chấm dứt các duyên nhân quả, không cho tiếp diễn theo nghiệp lực của nó.

3-       Bằng Ḷng

Đức Bằng ḷng tu tập rất khó. Nếu tu được đức Tùy thuận, đức Nhẫn nhục mà tâm chưa bao giờ bằng ḷng th́ tâm chẳng được an ổn, yên vui.

1/       Tâm chưa an ổn yên vui th́ tâm c̣n trong ác pháp, trong tâm dục. Muốn tu tập đức Bằng ḷng th́ phải lập hạnh tôn kính, kính trọng mọi người. Xưa, Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát lập hạnh kính trọng mọi người, mỗi khi gặp ai dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, vua hay quan, Ngài cũng đều cúi đầu đảnh lễ như tôn kính Phật. Nhờ tu hạnh tôn kính nên tâm hồn Ngài lúc nào cũng thanh thản, an vui, bằng ḷng trước mọi cảnh, mọi việc, xa ĺa các ác pháp, được giải thoát thành Phật.

2/       Muốn tu tập đức Bằng ḷng th́ phải có chánh kiến. Muốn có chánh kiến th́ tâm phải ly dục, ly ác pháp. Nhưng bây giờ tâm quư Phật tử chưa ly dục, ly bất thiện pháp, c̣n đang tu tập đức Bằng ḷng để ly ác pháp th́ làm sao đây? Không có chánh kiến th́ làm sao phán xét mọi người, mọi việc đúng sai? Không có chánh kiến th́ làm sao hiểu người, hiểu ḿnh bằng chánh kiến được? Do đó, muốn được chánh kiến th́ ta phải can đảm, dũng mănh nh́n nhận tất cả ư tưởng, lời nói, việc làm của người khác là đúng, là tốt, là thiện. Nhờ đó ta thực hiện đức bằng ḷng dễ dàng. Dù là người hung ác, ngu khờ, đê hèn nhất trong xă hội, Thường Bất Khinh Bồ Tát vẫn kính trọng mọi người như tôn kính đức Phật. Đó là hạnh bằng ḷng, để thực hiện sự giải thoát trong tâm của ḿnh. Khi thực hiện hạnh bằng ḷng là quư Phật tử ly được ác pháp trong và ngoài tâm. Ly được ác pháp trong và ngoài tâm, quư vị mới có chánh kiến. Nên nhớ: chỉ có tâm Ly Dục, Ly Bất Thiện Pháp ta mới hiểu được ḿnh và người bằng Chánh Kiến.

Tóm lại, phải tu tập ba đức (nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng), và ba hạnh (ăn, ngủ, độc cư) để ly dục, ly bất thiện pháp. Điều cần thiết và quan trọng nhất là phải triển khai trí tuệ vô sư, ly dục, ly bất thiện pháp.

Trong đạo Phật có ba loại trí tuệ: văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ:

a.    Văn Tuệ: Trí tuệ hiểu biết bằng cách tích lũy kiến giải, tưởng giải của cổ nhân trong kinh sách, hoặc nghe thuyết giảng, hay học thuộc ḷng. Trí tuệ này là trí tuệ tránh né, trốn chạy các dục, các ác pháp. Nó c̣n gọi là trí tuệ sở tri chướng. Càng học tập, càng tích luỹ nhiều th́ kiến chấp, ngă chấp càng thêm sâu dày (bản ngă to lớn). Trí tuệ này rất nguy hại cho người tu hành đạo giải thoát của đạo Phật. Xưa Ông A Nan v́ có trí tuệ này mà sự tu hành trở nên chậm chạp.

b.   Tư Tuệ: Trí tuệ suy tư, nghĩ ngợi, t́m ṭi, triển khai sự hiểu biết của riêng ḿnh, không vay mượn trong kinh sách. Nó c̣n gọi là trí thông minh. Tư tuệ là trí tuệ thông minh của ḿnh để phát minh những điều chưa ai làm được để hoá giải những sân hận, tỵ hiềm, nhỏ nhen, ích kỷ, để thực hiện ba đức, ba hạnh cho rốt ráo. Bởi vậy, tư tuệ là trí tuệ thông minh rất cần thiết cho sự tu tập ở giai đoạn I, tu ly dục, ly bất thiện pháp. Nếu quư Phật tử không chịu triển khai trí tuệ này th́ khó mà thực hiện được ba đức, ba hạnh. Nếu không thực hiện được ba đức, ba hạnh th́ làm sao ly dục, ly ác pháp được? Đó là trí tuệ thông minh, vô sư trí của mọi con người, nên phải động năo, làm việc th́ mới triển khai được nó.

c.    Tu Tuệ: Là trí tuệ do tu tập thiền định mà có. Nó c̣n gọi là Trí Tuệ Vô Sư Tam Minh; gọi tắt là Trí Tuệ Vô Lậu. Đây là trí tuệ siêu đẳng, viên măn, thành tựu đạo giải thoát của đức Phật. Nó được khai mở khi nhập Tứ Thiền, nó là một loại thiền định viên măn đủ để dẫn tâm về Tam Minh, cho nên nó được xem là trí tuệ cuối cùng của đạo Phật. Nó chứng minh rơ ràng sự làm chủ, nó chấm dứt sự khổ đau trong sanh tử luân hồi của chúng ta. Nó không giúp ích ǵ cho sự tu tập ly dục, ly bất thiện pháp. Nó chỉ là một sự minh xác chân thật, kiểm nghiệm lại sự thành tựu tu tập của chúng ta mà thôi. Tóm lại, trong ba thứ trí tuệ: Văn, Tư, Tu, chỉ có Tư Tuệ là trí tuệ cần thiết cho ta để tu tập ly dục, ly ác pháp ở giai đoạn thiền thứ nhất. Nếu một người chưa ly dục, ly bất thiện pháp, th́ không nhập định được. Nếu không nhập định được th́ làm sao khai mở trí tuệ vô sư vô lậu được? Sư cô Minh Cảnh hiểu lầm là tu tập thiền định, rồi từ thiền định phát sinh ra trí tuệ vô sư, từ trí tuệ vô sư sẽ diệt sạch bản ngă, không c̣n lậu hoặc nữa. Đó là kiến giải của những nhà học giả Đại thừa, chứ không phải của hành giả, của người tu theo Phật giáo.

Chỉ có Tư Tuệ là quan trọng và ích lợi cho sự tu tập của chúng ta, c̣n Văn Tuệ là sở tri chướng, Tu Tuệ chỉ là kết quả của sự tu tập để xác minh sự tu tập đă chứng quả rơ ràng. Nếu một người tu tập cẩn thận, có ư tứ, thận trọng giữ ǵn từng lời nói, hành động; trong việc làm biết sống hoà hợp thương yêu và tha thứ cho nhau, không tỵ hiềm ganh ghét, không tranh đua hơn thiệt, không châm biếm mỉa mai, giữ ǵn kỷ luật tu viện nghiêm túc, không vi phạm lỗi lầm, người đó là người ly dục, ly bất thiện pháp. Sống như vậy là tạo điều kiện, hoàn cảnh yên tịnh, thanh nhàn để cùng nhau tu hành. Sống mà nay tạo duyên này, mai tạo cảnh khác, khiến cho hoàn cảnh bất an, mất thanh tịnh th́ ḿnh tu khó, mà người khác tu cũng khó.

Đến đây Thầy xin chấm dứt bài pháp hôm nay. Quư Phật tử hăy ghi nhớ và cố gắng tu tập. “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Sự giải thoát đang chờ quư vị ở phía trước nếu quư vị tu tập đúng lời Thầy đă dạy.

Đến đây là Thầy đă giảng xong nội dung việc tu thiền giai đoạn thứ nhất. Khi nào quư Phật tử tu xong, Thầy sẽ giảng giai đoạn thứ hai, thứ ba như Thầy đă hứa, c̣n bây giờ Thầy bổ túc thêm sơ đồ đường lối tu tập để bổ sung cho giai đoạn tu thiền phần thứ nhất (ly dục ly ác pháp).

 

42 GIAI ĐOẠN TU TẬP
(CON ĐƯỜNG TU TẬP GIỚI, ĐỊNH, TUỆ)

1/       Phải luôn luôn cảnh giác, dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm.

2/       Dẫn tâm vào đạo bằng cách sống lập ba đức, ba hạnh. Ba hạnh là: Ăn, Ngủ, Độc cư. Ba đức là: Nhẫn nhục, Tuỳ thuận, Bằng ḷng.

3/       Ba đức, ba hạnh là phương tiện tu tập ly dục, ly bất thiện pháp.

4/       Chỉ có tâm ly dục, ly bất thiện pháp mới hiểu được ḿnh, được người bằng tâm Chánh kiến.

5/       Hiểu được ḿnh, được người th́ mới hiểu được Phật pháp chân chính.

6/       Hiểu được Phật pháp chân chính là tâm thường ở trong Chánh niệm.

7/       Tâm thường ở trong Chánh niệm là tâm Tỉnh giác.

8/       Tâm tỉnh giác là tâm sáng suốt và b́nh tĩnh.

9/       Tâm sáng suốt và b́nh tĩnh là tâm chủ động điều khiển nhân quả thân, khẩu, ư.

10/   Tâm chủ động điều khiển nhân quả thân, khẩu, ư là tâm không c̣n tham, sân, si, mạn, nghi.

11/   Tâm không c̣n tham, sân, si, mạn, nghi là tâm hết chướng ngại.

12/   Tâm hết chướng ngại là tâm giải thoát.

13/   Giải thoát tâm là tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

14/   Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là tâm ly dục, ly bất thiện pháp.

15/   Tâm ly dục, ly bất thiện pháp là tâm nhập Tứ Niệm Xứ. Sau khi nhập Tứ Niệm Xứ xong ta mới Ly Dục, Ly Ác Pháp nhập Sơ Thiền.

16/   Tâm nhập Sơ Thiền là tâm ĺa ư muốn và diệt Tầm ác.

17/   Tâm ĺa ư muốn và diệt Tầm ác là tâm thanh tịnh.

18/   Tâm thường thanh tịnh là tâm tuỳ tức.

19/   Tâm tùy tức là tâm diệt Tầm ác.

20/   Tâm diệt Tầm ác là tâm dừng được sáu thức.

21/   Tâm dừng được sáu thức là tâm diệt Tứ.

22/   Tâm diệt Tứ là tâm nhập Nhị Thiền.

23/   Tâm nhập Nhị Thiền là tâm chủ động điều khiển sáu Thức.

24/   Tâm chủ động điều khiển sáu Thức là tâm đóng mở sáu Căn.

25/   Tâm đóng mở sáu Căn là tâm chủ động điều khiển Sắc ấm (thân tứ đại).

26/   Tâm chủ động điều khiển Sắc ấm là tâm điều khiển vượt qua sáu trạng thái Tưởng ấm: sắc tưởng, thinh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

27/   Tâm điều khiển vượt qua sáu trạng thái Tưởng ấm là tâm ly Hỷ.

28/   Tâm ly Hỷ là tâm hết chiêm bao.

29/   Tâm hết chiêm bao là tâm nhập Tam Thiền.

30/   Tâm nhập Tam Thiền là tâm mới đủ sức điều khiển xả Thọ ấm.

31/   Tâm điều khiển xả Thọ ấm là tâm có nội lực.

32/   Tâm có nội lực là tâm chủ động điều hành Thọ ấm.

33/   Tâm điều hành Thọ ấm là tâm có Định lực.

34/   Tâm có Định lực là tâm diệt Thọ ấm.

35/   Tâm diệt Thọ ấm là tâm điều khiển Thức ấm.

36/   Tâm chủ động điều khiển Thức ấm là tâm xả Hành ấm.

37/   Tâm xả Hành ấm là tâm nhập Tứ Thiền.

38/   Tâm nhập Tứ Thiền là tâm xả Thức ấm.

39/   Tâm xả Thức ấm là tâm nhu nhuyễn dễ sử dụng hướng đến Tam Minh.

40/   Tâm hướng về Tam Minh là tâm nhập trí tuệ vô lậu.

41/   Tâm nhập trí tuệ vô lậu là tâm nhập trí tuệ giải thoát.

42/   Tâm nhập trí tuệ giải thoát là tâm chấm dứt đau khổ và sanh tử luân hồi.

Trên đây là “Sơ Đồ 42 Giai Đoạn Tu Tập” để giải thoát đời người, chấm dứt đau khổ, sinh tử, luân hồi. Thầy sẽ giảng trạch sự tu tập và rèn luyện của từng giai đoạn cho quư vị tu tập. Giảng đến đâu, quư vị tu tập đến đó. Tu tập xong giai đoạn đó, Thầy sẽ giảng dạy tu tập giai đoạn tiếp theo.

 

TỔNG KẾT GIAI ĐOẠN I

Phải luôn luôn cảnh giác dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm. Câu này dạy người mới bắt đầu tu tập phải đề pḥng cảnh giác, cẩn thận, không được đụng pháp môn nào là tu theo pháp môn ấy, mà phải dè dặt chọn lựa pháp môn tu tập để đạt được giải thoát làm chủ sự sống chết. Nếu đă chọn lựa pháp môn và tu tập không đúng, tu thành thói quen rồi th́ về sau sửa lại thật là khó khăn, có khi không c̣n sửa lại được nữa. Thí dụ, có người lạc vào tà thiền, ức chế tâm, gây rối loạn thần kinh, điên khùng, không c̣n tỉnh táo, và không thể nào sửa lại được, đă trở thành phế nhân tàn tật. Cũng như người học nhiều giáo lư, tích luỹ kiến thức thế gian quá nhiều cũng khó sửa lại: Họ đă nuôi lớn bản ngă bằng trời. Đó là do huân tập sở tri chướng quá nhiều. Con đường tu tập của họ qua những kiến thức này đă chấm dứt đời tu của họ. Nếu một người tu tập có thần thông bùa chú cũng không sửa lại được v́ kiến chấp của họ chết cứng trong lớp vỏ này. Nếu người tu lạc vào Thiền Định Tưởng, có trạng thái khinh an, hỷ lạc, người này cũng khó sửa lại và chết cứng trong lớp vỏ này.

Bởi vậy, trong giai đoạn I này, Thầy luôn luôn nhắc nhở quư vị phải đề cao cảnh giác, nếu không tu th́ thôi, mà đă tu th́ phải tu cho đúng pháp, nếu tu hành sai, thành thói quen lười biếng, mất hết nghị lực, khó tiến vào Định. Đó là những người muốn tu mà không được sự hướng dẫn cặn kẽ, tu tập theo ư muốn của ḿnh, sinh tâm lười biếng làm tiêu hao nghị lực, lại c̣n lạc vào trạng thái của định tưởng, khiến cho đời tu chẳng đi đến đâu. Tu hành phải biết giờ giấc nghiêm chỉnh, giờ nào việc ấy. Phải luôn luôn cảnh giác năm điều sau đây:

1/       Giữ ǵn tâm bất động, chuyên ṛng một hơi thở, không được xen tạp niệm.

2/       Khi tọa thiền, phải giữ thân bất động, không nhúc nhích, lắc qua lắc lại. Không được ngồi thẳng quá (ưỡn ngực), không được ngồi chùng quá (kḥm lưng).

3/       Không được huân tập, học nhiều các pháp không phải là Phật pháp.

4/       Không được học lối lư luận, hư luận của các pháp, mà phải học pháp chuyên ṛng, tu tập và rèn luyện làm chủ thân tâm.

5/       Không được học pháp ở đầu môi chót lưỡi, cật vấn thiên hạ, tranh chấp hơn thua để nuôi lớn bản ngă.

Quư vị phải luôn luôn đề cao cảnh giác những loại tà sư thường hay cật vấn ngoài vấn đề tu tập, cố ư để tranh hơn thua. Hăy luôn luôn phải học tập đức Phật. Khi có tà sư ngoại đạo đến cật vấn đường lối tu tập giải thoát ngoài vấn đề đức Phật đă dạy th́ không trả lời; v́ hỏi không đúng đường lối tu tập giải thoát mà hỏi những điều trên trời dưới đất th́ không đáp, hoặc làm thinh, hoặc trả lời: Đó không phải là vấn đề của Ta, không phải là đường lối của Ta. Đức Phật không để th́ giờ lư luận, tranh đua với thiên hạ, vô ích. Vậy từ nay về sau quư vị phải học tập theo đức Phật. Nếu có ai thật ḷng tha thiết, muốn cầu pháp tu học, kính trọng thưa hỏi th́ quư vị nên chỉ dạy. C̣n những người hiu hiu tự đắc, cật vấn, hỏi điều này điều kia th́ quư vị sáng suốt làm thinh, hoặc bảo: “Những điều quư vị hỏi không đúng cách thức tu tập ở đây, chúng tôi xin miễn nói v́ ở đây chỉ biết tu tập để được giải thoát khổ đau, chứ không tranh luận hơn thua. Xin quư vị thông cảm”. Đó là điều nên cảnh giác đối với những loại người này. Khi thưa hỏi pháp tu, không được đ̣i hỏi phải giải thích chữ nghĩa, v́ giải thích chữ nghĩa sẽ làm mất th́ giờ vô ích. Bởi trí vô sư của quư vị do tu tập để làm chủ tâm ḿnh, chứ không phải để ra giải thích những chuyện linh tinh. Người giải thích cho dễ hiểu là Giảng sư, người không giải thích là Thiền sư. Tuỳ ở Thiện hữu tri thức, khi cần giải thích th́ họ giải thích, không cần th́ họ không giải thích. Thiện hữu phải biết linh động, khéo léo, lúc đóng, lúc mở. Lúc đóng là để cho đệ tử khai triển trí tuệ, lúc mở là để khích lệ, sách tấn nỗ lực tu tập. Những điều này phải luôn luôn cảnh giác.

Tập ít nói, không nói chuyện tào lao, không bàn đến chuyện người khác. Luôn luôn giữ tâm thanh thản, và hướng đến thanh thản.

Thường sống một ḿnh và hướng tâm sống độc cư một ḿnh. Luôn giữ tâm vô sự và hướng tâm đến vô sự. Đó là phải luôn luôn cảnh giác.

Thường giữ ǵn ư tứ khi làm công việc hay tiếp xúc với mọi người. Hăy dè dặt, cẩn thận từng lời nói, hành động. Luôn luôn phải giữ ǵn, ôn tồn, nhă nhặn, từ ái với mọi người. Những hành động này phải luôn luôn giữ ǵn, cảnh giác. Tu tập như vậy là dẫn tâm vào đạo. Nhờ có tu tập dẫn tâm vào đạo ta mới ly dục, ly bất thiện pháp, tâm được giải thoát, an vui, thanh thản, an lạc và vô sự.

Từ nay, hàng ngày quư vị phải tu tập thường xuyên không nên gián đoạn. Lúc nào, giờ nào, ngày nào, tháng nào, năm nào, luôn luôn phải cảnh giác giữ ǵn tâm, dẫn tâm vào đạo. Có như vậy mới ly dục, ly ác pháp được. Như quư vị đă biết trong lần chuyển pháp luân lần đầu tiên, đức Phật thuyết về Tứ Diệu Đế, nguyên nhân đau khổ của con người là tâm ái dục. Ái dục là ḷng tham muốn, ưa thích, say đắm, đam mê. Vậy, muốn xa ĺa nó, phải dẫn tâm vào đạo, đừng dẫn đạo vào tâm.

Thế nào là đừng dẫn đạo vào tâm? Là nghe nhiều, học nhiều kinh sách mà không có thực hành, hoặc có thực hành th́ cũng chỉ là h́nh thức, lấy lệ. Càng học nhiều, bản ngă càng to lớn th́ tâm tham danh, thích lợi càng nhiều, nên bít mất đường lối tu tập của họ. Cho nên, suốt đời của họ không có sự giải thoát mà chỉ có sự đam mê. Cô Diệu Quang không giải thích là để các con tự xả ngă, diệt tâm và tự triển khai trí vô sư của tư tuệ. Phần nhiều ngày nay người ta dẫn đạo vào tâm, ít có ai biết cách dẫn tâm vào đạo. Trong kinh Nguyên Thủy, Phật dạy Như Lư Tác Ư, đó là dẫn tâm vào đạo. Trong kinh Tiểu Thừa, Phật dạy Pháp Hướng Tâm, tức là pháp dẫn tâm.

Xưa, đức Phật c̣n tại thế không cho viết kinh sách v́ sợ các đệ tử dẫn đạo vào tâm, nên Ngài chỉ nói cho tu tập, mà không cho ghi chép lại. Đến sau này, kiết tập mới có ghi chép. Nhưng từ khi có ghi chép, người ta khó chứng đạo chỉ v́ họ dẫn đạo vào tâm quá nhiều. Rồi phát triển những kiến giải, tưởng giải, viết rất nhiều kinh sách, làm lệch con đường của đức Phật. Đạo Phật bây giờ là đạo Phật triết lư, đạo Phật khoa học, đạo Phật siêu việt, đạo Phật tâm lư, đạo Phật mê tín... Đạo Phật nhiều như vậy nên không có một tôn giáo nào hơn đạo Phật được! Thật ra, đạo Phật không có dạy triết lư, không có dạy mê tín, không có dạy khoa học, không có dạy siêu việt, không có dạy tâm lư. Đạo Phật chỉ là một Đạo Đức Nhân Bản - Nhân Quả thuần túy của con người để hướng dẫn con người trên thế gian này có một đạo đức thoát ra bản chất của loài động vật, cầm thú.

Nhưng chỉ có những người phải biết sống một đời sống an vui, không làm khổ ḿnh, khổ người, sống thanh thản trước những diễn biến của nhân quả, và luôn luôn lúc nào cũng làm chủ nhân quả.

Từ đây quư vị hăy cố gắng tu tập để khắc phục tâm ḿnh. Khi nào khắc phục được tâm ḿnh th́ Thầy sẽ giảng tiếp những giai đoạn sau này, c̣n bây giờ chúng ta tạm dừng ở đây để trả lời những câu hỏi của quư vị.

 

 

 

 

 

 

 

 

HỎI ĐẠO CỦA TU SINH

       Hải Tâm

Hỏi: Phân tích, hiểu thấu suốt, quán sắc bén, thưa Thầy đó có phải là pháp tu xả tâm không?

Đáp: Phân tích, hiểu thấu suốt, quán sắc bén là pháp môn Quán Vô Lậu tự triển khai tri kiến giải thoát, để ly dục, ly bất thiện pháp mà cô Út Diệu Quang đă từng chỉ thẳng, đập mạnh, tức cô dùng để quư vị tự triển khai tri kiến giải thoát đó để xả tâm.

Hỏi: Xin Thầy chỉ dạy thêm về sự quan trọng của tịnh khẩu.

Đáp: Là một tu sĩ Phật giáo phải làm chủ thân, miệng, ư nên khi nói không được cười đùa; nên khi nói không được nói tếu; nên khi nói không được nói châm chọc; nên khi nói không nói mỉa mai; nên khi nói không nói móc ḷ. Nói phải suy nghĩ kỹ rồi mới nói. V́ thế, lời nói rất quan trọng trong việc tu tập xả tâm. Nếu không suy nghĩ, lời nói ra sẽ làm khổ ḿnh, khổ người và khổ cả hai và lời nói có thể nói ra làm mất mạng chúng sinh; có thể làm hại mạng người; có thể làm mất giá trị đạo đức của người nói. Cho nên, con phải cẩn ngôn, thường im lặng là tốt nhất (ít nói). Lời nói ra càng nuôi dưỡng bản ngă thêm to lớn, v́ thế khi có chướng ngại pháp nghịch ư trái ḷng con dễ sinh ra ác pháp. Nên cẩn thận ư tứ, tư duy lời nói đó cũng là để diệt ngă, xả tâm, ly dục ly ác pháp, chứ không phải tịnh khẩu là không nói. Tịnh khẩu là ít nói, nói ra không làm khổ ḿnh, khổ người và nói ra có lợi ích cho ḿnh, cho người.

--o0o--

       Diệu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy, trước kia con hay khoe khoang, không chân thật, giận dữ hay phiền năo, nhờ cô Diệu Quang chỉ thẳng đập mạnh nên nay con có tiến bộ rất nhiều, nhất là về hơi thở con nhiếp tâm rất tốt, vậy xin nhờ Thầy chỉ dạy thêm cho con để con tu tập cho đúng.

Đáp: Sau thời gian tu tập, con được cô Út Diệu Quang chỉ thẳng đập mạnh, phá vỡ màn vô minh đen tối ngă chấp, hôm nay con đă tiến bộ nhiều trong sự giữ ǵn, không đi đây đó, trong sự không khoe khoang, trong sự không xảo trá, luôn chân thật, không giận dữ, không phiền năo đau khổ; mọi mặt đều có tiến bộ. Vậy từ nay con ráng tu học kỹ lưỡng hơn để trở thành người chân thật, ôn tồn, khiêm hạ, nhă nhặn, v.v.. đầy đủ đạo đức và đạo hạnh của người tu sĩ Phật giáo. Con hăy nghe kỹ lời dặn trong băng để thiết lập đường lối tu hành trước sau rơ ràng.

Về phần tu tập hơi thở, con đă nhiếp tâm tốt. Nên thưa hỏi cô Diệu Quang để được kiểm tra kỹ, rồi mới tiến lên giữ thân tâm bất động. Cô Diệu Quang đang chọn người tu tập tốt về đức hạnh cũng như về hơi thở để đưa lên lớp Thiền định thứ hai. Trước khi tu tập đóng mở sáu căn, con hăy cố gắng giữ ǵn, tu tập xả tâm, diệt ngă, lập đức, lập hạnh cho rốt ráo để được tuyển chọn lên tu ở lớp cao hơn. Con đừng nên tự măn ở sự tu tập của ḿnh v́ sự tu tập c̣n xa lắm. Sự ly dục, ly ác pháp của con c̣n nhiều, không phải có bao nhiêu đó là hết được. Phải cố gắng, và cố gắng nhiều hơn nữa con ạ!

--o0o--

       Minh Cảnh

Hỏi: Kính thưa Thầy, tại sao con diệt ngă, xả tâm măi mà không sạch?

Đáp: Cô Út thương con như một bà mẹ, biết rơ bản ngă con to lớn như núi. Nó to lớn theo sự công phu thiền định tu tập của con. V́ trong tu viện, con là người tu tập thiền định ngồi lâu, nhiếp tâm nhiều năm tháng nên có vững vàng hơn mọi người. Và do những điều kiện tu tập này mà con cứ ngỡ rằng ḿnh tu đúng nên bản ngă của con thêm lớn. Và v́ thế, ḷng tự đắc của con càng cao, con không bao giờ chịu nghe lời cô Út sửa sai. Cứ dựa vào Thầy, cho rằng cô Út Diệu Quang chẳng biết ǵ về pháp tu. Nhưng con phải biết một người mà Thầy đề nghị đứng ra để hướng dẫn quư vị tu tập là phải có đủ bản lĩnh. Nếu không, chắc là Thầy không giới thiệu cô Út Diệu Quang cho quư vị. Cô Út Diệu Quang rất biết tâm niệm con, nhưng không nản chí, cố t́m mọi kẽ hở của con để đập phá. Cái ngă chấp vô minh đen tối muôn đời mà con chẳng biết, thường lư luận, che đậy diệt ngă, xả tâm. Càng đập phá th́ tâm con càng bị nén, rồi dùng hạnh không nói tức là á khẩu mà người không hiểu gọi là hạnh độc cư chứ hạnh độc cư mà Thầy đă dạy là pháp pḥng hộ sáu căn.

Con chưa nhận rơ đường lối tu tập của đức Phật là xả tâm, nên thay v́ xả tâm, con lại cố nhiếp tâm tĩnh giác. Trong lúc Thầy đang dạy quư vị tu tập là ở giai đoạn đầu “ngăn ác diệt ác pháp” để ly dục, ly bất thiện pháp, th́ con không tu tập mà lại tu ở giai đoạn II và III. Đó là những giai đoạn Thiền định và Lậu Tận Minh. Do sự hiểu biết lầm lẫn này, con đă tu sai pháp nên bị ức chế tâm luôn chịu đựng, v́ thế vô t́nh con đă nuôi lớn bản ngă của ḿnh. Do ức chế tâm, chuyên tu tỉnh thức con đă rơi vào Định tưởng, pháp tưởng xuất hiện nên con sinh ra nhiều lư giải, nhiều lư luận, nói th́ hay, luận th́ giỏi, nhưng xả tâm th́ dở nên bản ngă to lớn, v́ thế oai nghi, tế hạnh của con không được trọn vẹn, lời nói thiếu ôn tồn ḥa nhă, êm dịu, chỉ làm thinh im lặng chịu đựng, v́ thế oai nghi tế hạnh không đầy đủ nên con cần phải sửa chữa lại nhiều hơn, tốt hơn.

Con nên, biết toàn bộ giáo lư đạo Phật, hơn chín mươi phần trăm, đều dạy ly dục, ly bất thiện pháp chớ không phải tu thiền điên, tu thiền khùng như con, chỉ lo ức chế tâm, nhiếp tâm an trú tâm; chỉ biết nhiếp tâm ở giai đoạn Thiền định và để thực hiện giai đoạn trí tuệ vô sư, vô lậu Tam Minh. Đức Phật luôn xả tâm, không nén tâm, v́ thế Ngài đă sống khổ hạnh sáu năm, ly dục, ly bất thiện pháp. Con hăy xét lại kỹ, từ ngày tu theo Phật, con thường sống theo ư muốn của ḿnh từ cái ăn, cái mặc, cái ngủ, cái ở, đều theo ư muốn của con. V́ vậy, càng nuôi lớn dục. H́nh thức bên ngoài, con ly ư muốn, vật dụng, nhưng nội tâm bên trong con không ly ư muốn của ḿnh. Ư muốn là tâm dục của con. Con hăy nghe lời dạy trong băng, mà thiết lập đường lối tu tập có đầu, có đuôi, có dễ, có khó, chớ không phải tu lộn xộn như thế này được nữa. Đừng có nhắm vào Thiền định mà không có Định ǵ được cả, mà phải nhắm vào Đức hạnh và Giới luật của Phật để xả tâm, để ly ác pháp. Tu tập phải biết phương pháp và cách thức. Tu cái ǵ trước? Tu cái ǵ sau? Làm cái ǵ trước? Làm cái ǵ sau? Xả cái ǵ trước? Xả cái ǵ sau? Đương đầu với cái ǵ trước? Đương đầu với cái ǵ sau? Ly như thế nào? Diệt như thế nào? Xả như thế nào?

Những bức thư con đă tŕnh bày trong tập nhật kư thời khoá về sự ly dục, về hơi thở, cách thức tu tập c̣n lộn xộn, đầu đuôi chưa phân minh. Cũng v́ thế mà mỗi lần bị động, hay bị trắc nghiệm th́ con thấy bất an, thường nén tâm chịu đựng, hoặc ôm hơi thở chịu đựng, hoặc dùng ư niệm thiện pháp, và nhờ thời gian làm giảm đi sự bất an đó. V́ thế, con cần phải được thiết lập đường lối, cách thức tu tập rơ ràng để đương đầu với mọi sự, mọi việc khó khăn và nghiệp chướng, khiến cho nó có thể hoá giải ngay, không thể nén tâm, tức nước vỡ bờ như đă xảy ra trong những lần trắc nghiệm tuyển thi trước. Mỗi lần Thầy nhắc cô Diệu Quang hăy xem cô Minh Cảnh nhiếp tâm tốt mà tuyển thi, chọn cô tu tập lên lớp trên. Nhưng mỗi lần tuyển thi, con đều rớt. Cuối cùng con tưởng rằng ḿnh đă xả tâm, diệt ngă, không ngờ tâm ngă c̣n chấp khư khư.

Bây giờ con không nên quan tâm về việc tọa thiền, mà phải nỗ lực tu tập về ly dục, ly bất thiện pháp. Cốt tủy Thiền định, hay nói một cách khác, nền tảng Thiền định của đạo Phật, là chỗ ly dục, ly bất thiện pháp. Nếu không hiểu th́ con nên hỏi kỹ lại cô Diệu Quang để tu tập xây dựng một con người đạo đức chân thật, giải thoát trong đạo Phật. Đừng thưa hỏi ḷng ṿng, mà phải thưa hỏi đúng cách, đúng pháp, đúng giai đoạn tu tập th́ tu tập mới có kết quả tốt. Thưa hỏi ḷng ṿng là đem kiến giải, tưởng giải trong kinh sách ra thưa hỏi th́ không đúng; phải thưa hỏi ngay chỗ tu của ḿnh, chỗ xả tâm làm sai, chỗ không đúng thời khóa tu tập của ḿnh, th́ được Thầy giảng dạy ngay. C̣n hỏi ḷng ṿng không đúng cách th́ không được giảng dạy.

--o0o--

       Huệ Ân

Hỏi: Thưa Thầy và cô Út, diệt ngă có phải là khi nghe bài học thử thách của ai, con tưởng đó là của ḿnh, nên lấy đó quán xét lỗi ḿnh và vui vẻ nhận lỗi ấy để xả tâm, diệt ngă có được không?

Đáp: Đúng vậy, đó là lấy lỗi người tự sửa lỗi ḿnh, hoặc ngừa lỗi ḿnh để tiến tu, diệt ngă ác, xả tâm, ly dục, ly ác pháp. C̣n trực tiếp ngay lỗi ḿnh, cũng phải tự quán xét, tự nhận ra lỗi ḿnh. Nhận ra điều sai quấy để sửa ḿnh, diệt ngă xả tâm. Mới bắt đầu tu tập ba đức, ba hạnh để diệt ngă, xả tâm ly dục, ly bất thiện pháp, th́ pháp quán về nhân quả rất là cần thiết. V́ càng quán về nhân quả th́ tri kiến giải thoát (tư tuệ) của chúng ta càng phát triển, thấy rơ đường đi lối về của nhân quả. C̣n nếu không chịu quán mà cứ bám theo lời dạy của Thầy th́ không rơ đường đi của nhân quả, không rơ sự diễn biến các nhân quả đang trùng trùng duyên khởi xung quanh chúng ta. Cho nên, muốn tu tập ba đức, ba hạnh để ly dục, diệt ngă xả tâm, ly dục, ly ác pháp th́ phải khai triển tri kiến nhân quả, phải suy xét tư duy thấu đáo nhân quả. Từ đó, pháp mà Thầy chưa dạy quư vị đă thông suốt, và thông suốt hơn những điều Thầy đă dạy nữa. V́ vậy, mới gọi là thấu rơ đường đi lối về của nhân quả.

Khi thấu rơ đường đi lối về của nhân quả th́ tâm chúng ta mới xả được mọi chướng ngại pháp, mọi nghiệp lực, nhờ đó tâm mới được thanh thản, an lạc và vô sự. Chính lúc đó mới được gọi là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ. Tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ là chân lư hiện tiền.

Tu hành như vậy mới gọi là hộ tŕ và bảo vệ chân lư.

--o0o--

       An Tịnh (Diệu Tịnh)

Đáp: Xét về việc tu tập của con, buổi khuya là giờ tu tập kém nhất. Do đó, từ nay con phải dậy sớm, đúng giờ. Phải động thân, đi kinh hành nhiều, không nên lười biếng, phải luôn thức khuya dậy sớm và nhớ hướng tâm tỉnh giác. Phải dẫn tâm vào một đối tượng mà tâm thích như đọc kinh, nghiên cứu các pháp tu, hay tư duy các lỗi lầm, hoặc quán xét các đề mục tu hành th́ mới mong chiến thắng được sự thùy miên, hôn trầm của con. Nhất là phải đi kinh hành pháp Thân Hành Niệm.

--o0o--

       Diệu Hảo

Đáp: Cần lấy tất cả lỗi lầm của các bạn đồng tu để quán xét, để tự triển khai trí tuệ xả tâm, diệt ngă ác, ly dục, ly ác pháp. Lấy những lỗi lầm của bạn đồng tu để ngăn ngừa tâm ḿnh, không c̣n phạm phải những lỗi lầm, đó là ly dục, ly ác pháp. Về tu tập hơi thở, con cần phải tập kỹ, tập hơi thở cho đúng. Tức là đầu tiên con tập nhiếp tâm cho được trong hơi thở rồi sau đó phải tu tập an trú trong hơi thở cho được. Nhớ tu tập cho có chất lượng, không nên tập trung cao. Không được tu lờ mờ, tu lấy lệ. Phải luôn nhắc tâm, không được để tâm mê mờ trong hơi thở. Phải tu cho thật là tu, tu cho có sức chủ động, điều khiển hơi thở và trụ tâm vững chắc. Tu ít chất lượng nhiều, không cần ngồi nhiều, chỉ cần tu một phút có chất lượng chủ động điều khiển tâm và hơi thở nhiếp phục nhau cho tốt. Diệu Hảo, con phải nhớ kỹ điều này: Đừng thích ngồi nhiều mà tu sai con đường mà Thầy đă dạy. Tu ít mà chất lượng cao, c̣n tu lờ mờ th́ phí thời gian vô ích. Tuổi con cũng quá già yếu, chết nay, chết mai, nên phải tu cho đúng, để thời gian tu ngắn lại và tu mau có kết quả.

--o0o--

       Tú (Mỹ Linh)

Đáp: Mười hơi thở trong nửa phút thời công phu nào cũng tốt. Đó là một sự tu tập có tiến bộ, có nhiếp tâm được, phải cố gắng hơn để nhiếp tâm trong hơi thở được 30’ rồi mới chuyển qua an trú tâm cho được trong hơi thở 30’. Đó là kết quả ban đầu để đẩy lui bệnh khổ ra khỏi thân. Về phần xả tâm, con c̣n yếu lắm. Cần tư duy quán xét để xả tâm nhiều hơn. Muốn được vậy con cần phải hệ thống cách thức tu tập như Thầy đă dạy, cái nào tu trước, cái nào tu sau, một ngày tu bao nhiêu thứ? Tu cái ǵ? Tập cái ǵ? Muốn tu tập ly dục, ly bất thiện pháp th́ phải diệt ngă xả tâm, con phải luôn luôn dè dặt từng ư tứ, từng lời nói. Khi nói th́ phải tư duy quán xét rồi mới nói. Đối với người khác không được nói, cười đùa. Không được nói mỉa mai, không được nói móc ḷ. Phải cẩn thận trong lời nói. Phải tập suy nghĩ kỹ rồi mới nói. Lời nói rất quan trọng, nếu không suy tư kỹ, lỡ nói ra không lấy lại được và nó sẽ làm mất giá trị đạo đức của con. Nên phải cẩn ngôn, lời nói ra càng nuôi dưỡng bản ngă thêm lớn. Nên cần phải ư tứ tư duy lời nói để ly ngă xả tâm, ly dục, ly ác pháp. Đây là phương pháp cách thức bảo vệ tâm qua khẩu nghiệp để xả tâm, ly dục, ly ác pháp. Con cần phải tịnh tu khẩu nghiệp để diệt ngă ác, xả tâm rốt ráo.

Con phải nhớ đây là con đường tu tập Định Vô Lậu, luôn luôn nhờ vào tri kiến giải thoát. V́ chính tu tập pháp này xả tâm đi đến chỗ rốt ráo để hộ tŕ và bảo vệ chân lư. Khi nào chân lư hiện tiền th́ lúc bấy giờ quư vị đă chứng đạo.

--o0o--

       Diệu Hồng

Đáp: Về phần diệt ngă, xả tâm, con đă được cô Út Diệu Quang tuyển thi. Con đă ly được ác pháp, xả được ngă ác, nhưng chưa trọn vẹn, coi chừng con nén tâm. Con c̣n cần cố gắng nhiều hơn để xả cho thật rốt ráo. Trong tập nhật kư thời khóa con đă tŕnh, từ ngày được cô Út Diệu Quang đập vỡ màn vô minh, con đă nhận ra ánh sáng giải thoát, niềm tin mănh liệt. Nhưng từ đây về sau, con phải nhận tất cả mọi người là Thiện hữu tri thức, không phải chỉ có một cô Út Diệu Quang, mà tất cả đều là cô Út Diệu Quang. Có như thế tâm con mới xả ngă ác và ly ác pháp rốt ráo. Về hơi thở, con tu rất tốt, nhưng phải cẩn thận tĩnh giác từng hơi thở. Phải siêng năng hướng tâm, giữ ǵn thân bất động, trụ tâm tại một điểm duy nhất. Từ bắt đầu tọa thiền cho đến xả thiền, phải tĩnh giác hoàn toàn trong hơi thở bằng ư thức, coi chừng rơi vào tưởng thức mà con không biết. Một trạng thái an lạc trong hơi thở là đă rơi vào tưởng thức, phải không có một trạng thái ǵ trong hơi thở, th́ mới thật sự là Định Niệm Hơi Thở, khi chưa hướng tâm: An tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra, an tịnh thân hành tôi biết tôi hít vômà có an là sai. Có ǵ chưa rơ về hơi thở con nên thưa hỏi cô Diệu Quang để được chỉ dạy cặn kẽ cách thức tu tập. Muốn biết cách thức sống độc cư cũng nên thưa hỏi cô Diệu Quang, hoặc nghe lời dạy trong băng của Thầy. Nhớ kỹ, thực hành đúng, không tu sai cách độc cư như con đă biết. Thời gian đối với con thật là quư báu, v́ tuổi càng cao, sức càng yếu, đường tu tập của con càng xa, phải hỏi kỹ để tu đúng, thu ngắn được thời gian làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

--o0o--

       Giác Quang

Hỏi: Kính bạch Trưởng Lăo Thích Thông Lạc!

Xin Thầy cho phép con được hỏi: Kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy: “Không cho phép một vị tu sĩ nói ḿnh tu chứng quả, dù vị đó đă thật chứng cũng phải giữ bí mật mà không được nói ra cho tín đồ biết”. Con được biết Trưởng Lăo đă làm chủ được sinh, lăo, bệnh, tử trong những thời pháp được phát hành trong đĩa, như vậy có trái lời Phật dạy không, hay là do kinh sách phát triển của mấy tổ biên soạn cấm chế?

Thành kính đảnh lễ Trưởng Lăo - Con, Giác Quang.

Đáp: Kinh Thủ Lăng Nghiêm dựng lên một Phật tánh ảo tưởng (tánh thấy, tánh nghe, tánh biết) của ba Thức trong nhóm sáu Thức của thân tứ đại. V́ thế, làm sao người ta tu chứng được, do không ai tu chứng nên kinh khéo che đậy: “Người nào tu chứng mà nói ḿnh tu chứng là chưa tu chứng”.

Xưa, đức Phật tu chứng Ngài đă tuyên bố ngay liền:

Thiên thượng thiên hạ.

Duy ngă độc tôn.

 Nhất thiết thế gian.

Sinh lăo bệnh tử”.

Tạm dịch:

Trên trời dưới trời.

Khắp trong thế gian.

Ta (là) người duy nhất.

(Làm chủ) sinh, già, bệnh, chết”.

Đức Phật đă xác định pháp môn tu tập của Ngài chứng đạt làm chủ thân tâm cụ thể thiết thực lợi ích cho loài người như vậy, chứ đâu như “Kiến tánh thành Phật” của Thiền tông và Đại thừa. Cho nên, qua lời xác định này của Phật, các Tổ Đại thừa quá sợ hăi bốn câu kệ trên. Các Tổ hữu ư nên chỉ lấy hai câu đầu trong bài kệ bốn câu dựng lên huyền thoại Phật đản sinh: “Khi đức Phật vừa sinh ra đi bẩy bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất và nói:

Thiên thượng thiên hạ.

Duy ngă độc tôn”.

Đó là một điều đă làm của các Tổ, dám cắt xén lời Phật dạy thành câu chuyện không thực tế, thiếu thiết thực, không khoa học.

Đạo Phật ra đời không dạy người tu làm Tiên, làm Phật, không dạy người tu thần thông phép thuật để làm tṛ du hư, không ích lợi, lừa đảo người.

Đạo Phật ra đời dạy người sống không làm khổ ḿnh, không làm khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh: “Chư ác mạc tác chúng thiện phụng hành” hoặc “Ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp”, hoặc “Ly dục, ly ác pháp, nhập Sơ thiền” hoặc “Thấy lỗi ḿnh không thấy lỗi người”... Con đường tu tập theo giáo pháp nguyên thủy của đức Phật mà trong kinh Nikaya dạy là làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sinh luân hồi một cách cụ thể rơ ràng. Từng bước tu tập có pháp dẫn tâm, có tri kiến chỉ đạo hẳn hoi, chứ không như kinh sách Đại thừa và Thiền tông dạy tu tập nhiếp tâm ức chế tâm một cách chung chung, tu mà không biết ḿnh tu tới đâu, giống như người đi trong đêm tối không đèn đuốc mờ mịt. Pháp môn nguyên thủy của đạo Phật luôn đem lại sự lợi ích cho loài người một cách thiết thực cụ thể, không mơ hồ trừu tượng như kinh sách phát triển.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm là một loại kinh tưởng, kinh không phải Phật thuyết mà do các Tổ biên soạn mượn danh Phật thuyết để mọi người lầm lẫn tin tưởng. Cho nên, kinh khéo léo che đậy bưng bít, khiến cho Phật tử không biết vị tỳ kheo nào tu chứng, vị tỳ kheo nào tu chưa chứng: “Kẻ nào tu hành c̣n thấy ḿnh tu chứng là chưa chứng!” (Vô sở đắc).

Người tu chứng nói ra ḿnh tu chứng là nói sự thật th́ có mắc tội ǵ trong Giới luật của đạo Phật đâu! Phải không quư Phật tử? Ngày xưa khi đức Phật tu chứng, Ngài cũng tuyên bố cho mọi người biết, như vậy có sai chỗ nào đâu? Chỉ có những người chưa tu chứng mà nói ḿnh tu chứng mới là mắc tội vọng ngữ trong Giới luật Phật. Có đúng không quư Phật tử?

Do kinh sách Đại thừa để lại những điều phi Phật pháp khiến chúng ta mới thấy sự cố ư diệt Phật giáo của các Tổ. Các Tổ đă để lại một pháp môn làm hao tài tốn của, tốn công sức của bao nhiêu thế hệ mai sau, tu hành chẳng ra ǵ. H́nh ảnh đau đớn nhất của Phật giáo hiện nay là các sư thầy không sống đúng Giới luật, không lo tu chứng đạo mà người nào cũng tu danh (bằng cấp), tu lợi (tiền bạc), tu xây chùa to, tu đúc tượng Phật lớn, và chạy theo ngũ dục lạc ăn ngủ phi thời. Cho nên, thời nay t́m một vị tu hành làm chủ sinh, già, bệnh, chết rất khó.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm là một loại kinh chịu ảnh hưởng kinh sách Vệ Đà do kiến giải của các Tổ Bà La Môn. Xin quư Phật tử hăy trở về nghiên cứu những kinh điển nguyên thủy của Phật giáo được Ḥa thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali sang tiếng Việt với đầy đủ nghĩa lư v́ bản dịch của Ngài c̣n giữ song ngữ để đối chiếu.

Đây là lời nói chân thật của một người tu hành đă làm chủ được sanh, già, bệnh, chết, nếu quư vị tin th́ sẽ có lợi ích cho quư vị c̣n không tin th́ thôi chẳng có sao cả.

Thăm và chúc Giác Quang mạnh khỏe, nhớ sống đúng Giới đức hiếu sinh, không làm khổ ḿnh, không làm khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh th́ ngay đó là giải thoát.

--o0o--

       Thiện Tâm

Sáu Cái Biết Có Phải Là Tánh Biết Không?

Thưa Đức Trưởng Lăo Thông Lạc!

Có nhiều điều con muốn hỏi Thầy, nhưng con ngại mất thời gian của Thầy và con thấy sức tu của con c̣n kém, cho nên con sẽ cố gắng suy tư nhiều hơn trước khi hỏi. Nhưng con cũng xin phép Thầy cho con ghi những câu hỏi ra đây để khi nào có dịp con sẽ gởi những câu hỏi này cho Thầy. c̣n chuyện trả lời th́ tùy Thầy, v́ Thầy biết lúc nào trả lời, lúc nào không. Có lẽ cái tính ham muốn hiểu biết của con mạnh quá, cho nên hay thắc mắc.

Xin Thầy hoan hỷ tha tội cho con.

Câu hỏi 1: Đức Phật có dạy: “Cái thấy, cái nghe không phải của ta, không phải là của ta và không phải là bản ngă của ta”.

Vậy cái thấy ở đây có phải là cái biết của tính thấy hay không?

Cái nghe ở đây có phải là cái biết của tính nghe hay không?

Cái biết ở đây có phải là cái biết của ư thức hay không?

Nếu phải th́ có thể gộp chung là cái biết không phải là ta, không phải là của ta và không phải là bản ngă của ta? Cái biết ở đây là cái biết của 6 thức. Vậy tại sao không thấy đức Phật nói về cái biết của mùi, vị và xúc?

Xin Thầy giải thích rơ hơn cho con về điều này.

Đáp: Đức Phật đă dạy sáu thức rơ ràng:

1/       Cái thấy ở đây là cái thấy của mắt gọi là cái thấy của nhăn căn, chứ không phải cái biết của tính thấy nào cả.

Cái thấy biết ở đây là cái thấy biết của mắt gọi là nhăn thức.

2/       Cái nghe ở đây là cái thấy của tai gọi là cái nghe của nhĩ căn, chứ không phải cái biết của tính nghe nào cả.

Cái nghe biết ở đây là cái nghe biết của tai gọi là nhĩ thức.

3/       Cái biết ở đây là cái biết của ư thức, chứ không phải cái biết ở đây là cái biết của tính biết nào cả.

Cái biết ở đây là cái biết của ư căn nên gọi là ư thức.

Phật thường day: Sáu căn, sáu trần và sáu thức, nhưng quư vị không lưu ư nên không nhớ. Sáu căn, sáu thức, sáu trần gồm có:

1/       Nhăn căn là con mắt. Nhăn thức là cái biết của con mắt. Nhăn trần là h́nh sắc của vạn vật.

2/       Nhĩ căn là lỗ tai. Nhĩ thức là cái biết của lỗ tai. Nhĩ trần là âm thanh của vạn vật.

3/       Tỷ căn là lỗ mũi. Tỷ thức là cái biết của lỗ mũi. Tỷ trần là hương vị của vạn vật.

4/       Thiệt căn là miệng lưỡi. Thiệt thức là cái biết của miệng lưỡi. Thiệt trần là mùi vị của vạn vật.

5/       Thân căn là cơ thể. Thân thức là cái cảm giác của cơ thể. Thân trần là tính mềm, cứng, nóng, lạnh của vạn vật.

6/       Ư căn là bộ óc (tri thức). Ư thức là sự phân biệt của bộ óc. Ư trần là từng tâm niệm quá khứ, vị lai và hiện tại.

Sáu căn, sáu trần, sáu thức mới đầy đủ 18 giới của Phật giáo để tạo thành duyên những Xúc, Hữu, Thủ, Sinh, Ưu bi sầu khổ già chết. Muốn biết rơ các duyên này, nên đọc Thập Nhị Nhân Duyên. Người ta ít nói về Mùi, Vị và Xúc, th́ đó là một sự thiếu sót, chứ trong kinh Phật dạy rất đầy đủ. Nhưng khi chúng ta học th́ hay nhắc đến Sắc, Thinh, Hương (mùi) là xong, c̣n ít ai nói đến Vị (cay, đắng, ngọt, bùi), Xúc (cảm giác êm, ấm, cứng, mềm), Pháp (những niệm trong tâm, vọng niệm).

Câu hỏi 2: Khi ăn cơm có phải bắt buộc phải ngồi dưới đất hay không? V́ con thấy mỗi lần ngồi dưới đất ăn cơm th́ kiến nhiều quá, cho nên con chuyển sang ngồi trên ghế, con không biết có phạm giới hay không?

Đáp: Ngồi dưới đất ăn là khất sĩ v́ đức Phật đă buông xả sạch, sống không nhà cửa, không gia đ́nh, không có của cải tài sản tiền bạc, chỉ c̣n ba y một bát, đi xin về ăn hàng ngày. V́ thế, khi xin có thức ăn, liền t́m nơi nào có bóng mát ngồi ăn cho tiện, c̣n ngồi ăn trên bàn ghế lại thêm có bàn ghế th́ đâu gọi là đời sống ba y một bát. Khi có Phật tử cúng dường tại nhà mời Phật và chúng Thánh Tăng đến thọ trai th́ Phật và chúng Thánh Tăng vẫn ngồi trên bàn ăn uống hẳn hoi, nhưng ăn rồi th́ đi về, c̣n bàn ghế th́ chủ nhà sẽ dọn dẹp. Cho nên, ăn ngồi dưới đất tiện hơn ngồi trên bàn, v́ ăn rồi chỉ có đi rửa bát là xong, không có lau bàn, lau ghế, cho nên rất tiện lợi, không thêm bận rộn, khiến cho đời sống luôn luôn vô sự. Mục đích sống giải thoát ra khỏi cuộc đời này là tâm phải Vô Sự. Ngồi dưới đất hay ngồi trên bàn ghế không có phạm giới, nhưng ngồi dưới đất ăn cũng là Phạm hạnh của người tu. Đó là một oai nghi diệt ngă xả tâm. Một tế hạnh buông xả. Có bàn ghế mà ngồi dưới đất ăn là không thức thời, cố chấp.

Câu hỏi 3: Nhân quả của một người đặt t́nh thương không đúng chỗ là ǵ?

Đáp: Đặt t́nh thương không đúng chỗ là đặt t́nh thương theo thất t́nh, lục dục. Đó là đặt t́nh thương theo ác pháp, t́nh thương đó là t́nh thương trong đau khổ, khổ ḿnh, khổ người. Con có biết thất t́nh, lục dục là ǵ chưa?

Thất t́nh gồm có: Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc, Dục.

Lục dục gồm có: Nhăn dục, Nhĩ dục, Tỷ dục, Thiệt dục, Thân dục, Ư dục.

Khi đặt ḷng yêu thương phải quan sát kỹ ḷng yêu thương ấy có rơi vào bảy t́nh sáu dục này không? Nếu rơi vào th́ ḷng yêu thương này sẽ có sự khổ đau.

Ví dụ: Ḷng ghen tuông cũng là ḷng yêu thương do ái dục, nên làm ḿnh khổ, người khác khổ. Ḷng yêu thương ấy gọi là ḷng yêu thương khổ.

Câu hỏi 4: Ví dụ, bố thí sai th́ nhân quả là ǵ? Bố thí v́ ḷng yêu thương, nhưng sau đó biết rằng bố thí nhầm cho đối tượng th́ nhân quả là ǵ? Ví dụ một lần con đang chạy xe ở thành phố Vũng Tàu, con thấy một anh thanh niên nằm bên lề đường quằn quại ôm bụng trông rất tội nghiệp như người đau dạ dày. Con ngừng xe lại và quay lại ân cần hỏi thăm và tính chở anh ta đi bệnh viện, anh ta không đi mà vẫn nằm ôm bụng rên la. Đến giờ con phải đi làm, cho nên con cho anh ta tiền gọi xe đến bệnh viện và tiền chữa bệnh, và nhờ ông chủ nước ngay đó nếu cần th́ gọi xe dùm, rồi con đi làm. Sau vài tháng con thấy anh ta ở Sài G̣n cũng với t́nh trạng như vậy. Lần này con đặt câu hỏi không biết thật hay giả đây? Nhưng con nghĩ thôi, thật hay giả th́ coi như đă giúp một lần và tự an ủi rằng ít ra ḿnh không thờ ơ trước những cảnh khổ của người khác và con tiếp tục đi không dừng lại nữa. Con đặt giả thuyết nếu như anh ta đóng kịch th́ coi như việc con làm là đặt t́nh thương không đúng chỗ, sai lệch. Vậy th́ có đáng trách là con thiếu tĩnh giác hay không?

Đáp: Bố thí không đúng pháp là bị người lừa gạt, nên không làm lợi ích cho ḿnh, v́ ḿnh bị gạt; không làm lợi ích cho người v́ tạo duyên cho người làm ác nhiều hơn (lường gạt người khác).

Trong đức bố thí đều do ḷng yêu thương, nó là nhân quả thiện, nhưng nếu thiếu trí tuệ quan sát đối tượng được bố thí không thiện mà bố thí th́ đó là nhân quả ác v́ tạo duyên cho người làm ác nhiều hơn. Trường hợp của con bố thí bị lừa gạt như đem hạt giống tốt gieo trên đất xấu khô cằn cỗi.

Theo Phật giáo Nguyên Thủy, bố thí phải có trí tuệ nhân quả. Khi thấy một người tàn tật hay gặp một người bị tai nạn, hoặc một người ốm đau không tiền thang thuốc, đi bác sỹ, hay đi bệnh viện. Đây là nhân quả của những người này, họ đang trả vay, nhưng có nhân duyên kiếp trước nên kiếp này mới gặp ta trong hoàn cảnh này. Vậy ta nên giúp đỡ họ như thế nào cho đúng pháp?

Thấy người tàn tật biết rơ họ thật sự tàn tật th́ giúp đỡ, c̣n gặp họ ở giữa đường th́ ta nên tránh, v́ người tàn tật đều có chỗ ở do các nhà từ thiện hoặc nhà nước, c̣n tàn tật ở ngoài đường là giả dối, người tàn tật ở ngoài đường đi xin ăn làm nhục đất nước đó. Chúng ta không nên cho những người ăn xin ngồi đường. Người tàn tật bất hạnh trong xă hội đều có nhà dưỡng lăo, nhà nuôi trẻ mồ côi, nhà nuôi những người khuyết tật, nhà t́nh thương nuôi dạy trẻ lang thang v.v.. Đó là trách nhiệm của Nhà nước, của những nhà từ thiện. Như vậy, đâu có cớ nào lại có người ăn xin ngoài đường. Người bố thí cho kẻ ăn xin ngồi đường là không đúng pháp, đó là bố thí vô t́nh tạo thêm những người lừa gạt người khác và cũng vô t́nh làm nhục đất nước (đất nước ăn mày).

C̣n bố thí cho người bệnh tật th́ không nên trao tiền cho họ mà đưa họ vào bệnh viện, đi bác sỹ, nếu bác sỹ bảo đó là bệnh thật th́ chúng ta mới bỏ tiền ra bố thí, c̣n nếu chúng ta bận việc không đưa đi bác sỹ hay bệnh viện th́ không nên bố thí. Bố thí là giúp người mà giúp người th́ phải đem hết ḷng ra giúp, chứ không thể bố thí theo kiểu lấy có. Bố thí như vậy là tạo duyên cho kẻ ác làm ác thêm (lừa đảo).

Câu hỏi 5: Thật ra mà nói, con chưa hiểu rơ cách làm sao để tránh trường hợp đặt t́nh thương không đúng chỗ. Ví dụ, trong tu viện có 2 người con thấy rất thương họ, đó là cô Nguyên Thanh và sư Chơn Niệm. Tại sao con thương họ? V́ con thấy mọi người ai cũng không thích hai người này.

Đáp: Đặt t́nh thương đúng chỗ là đặt t́nh thương trong thiện pháp, nhưng t́nh thương của Phật giáo là t́nh thương đa hướng, nên hướng thiện hay hướng ác đều đặt t́nh thương được cả. Thương yêu, thương xót, thương hại mọi người, chứ không phải thương nhân quả của mọi người. Cho nên, nhân quả họ làm là họ phải gánh chịu, c̣n riêng chúng ta thương th́ chúng ta chỉ mong họ thấy được nhân quả để đừng sử dụng nhân quả ác làm khổ ḿnh, khổ người. Nguyên Thanh và Chơn Niệm đều đáng thương v́ chúng ta biết chắc là hai người chuyển ḿnh theo không kịp lớp tu học, nên có những cảm nghĩ và hành động sai lệch khiến cho họ phải ĺa xa các lớp học, v́ vậy mà mọi người không thương.

Câu hỏi 6: Con chỉ có dịp học chung với sư Chơn Niệm khóa đạo đức này thôi, nhưng con không xem trọng những ǵ Sư làm sai, nói sai mà chỉ để ư đến những mặt tốt của Sư để học hỏi thôi và lấy Sư làm đối tượng trong lớp để xả tâm. Nhưng h́nh như con đặt t́nh thương không đúng chỗ th́ phải v́ con thấy mọi người đều khuyên Sư sửa cái này sửa cái kia, c̣n con th́ không nói trước lớp mà chỉ gặp riêng thôi để tránh làm mất sự đoàn kết trong lớp. Và con thấy rất tội nghiệp cho Sư khi bị Thầy đưa ra quyết định vừa rồi.

Xin Thầy chỉ dạy cho con biết làm sao để biết là ḿnh đặt t́nh thương không đúng chỗ và sai lệch. Thật t́nh mà nói, ai con cũng thấy thương hết, và con không muốn để trong tâm h́nh ảnh xấu về ai cả.

Đáp: H́nh ảnh xấu xa của họ là h́nh ảnh của nhân quả ác. Đă biết là nhân quả th́ c̣n để ư hành động ác đó để làm ǵ. Cho nên, thương người mà thấy cái xấu của người khác th́ làm sao thương người được, cái khó nhất là thấy cái tốt của người khác, cái dễ nhất là thấy cái xấu của người khác.

Học đạo đức mới thấy rơ ḿnh là người thiện hay là người ác, nếu ḿnh thấy lỗi người, nói lỗi người th́ ḿnh là người bất thiện, người ác; nếu thấy lỗi người mà không nói lỗi người, không bới móc lỗi người khác là người thiện.

Câu hỏi 7: Giới đức và giới hạnh phân biệt như thế nào?

Đáp: Muốn phân biệt giới đức và giới hạnh th́ nên phân biệt đức và hạnh. Đức là chỉ cho những tính thiện, c̣n hạnh chỉ cho những oai nghi tế hạnh thuộc về hành động thiện. Cùng một danh từ đạo đức, có lúc ta gọi là đức, có lúc ta gọi là hạnh, do sự công dụng đạo đức lúc ở đức hay lúc ở hạnh mà gọi; do sử dụng danh từ đạo đức lúc dùng làm chủ từ th́ gọi là Đức; lúc dùng làm động từ th́ gọi là Hạnh. Cho nên, phân biệt giới đức và giới hạnh đ̣i hỏi chúng ta phải có tri kiến thấm nhuần đức hạnh th́ biết lúc nào là đức và lúc nào là hạnh. Cho nên, chúng ta càng học đạo đức th́ càng thấm nhuần.

Ví dụ 1: “Thương người như thể thương thân”, câu này dạy Đức Hiếu Sinh khẩu hành...

Ví dụ 2: Chúng ta nên thương yêu mọi người v́ mọi người quá đau khổ trong cơn băo số 9 vừa qua. Câu này dạy Đức Hiếu Sinh khẩu hành...

Hai câu trên là lời kêu gọi nên nó mang tính chất đạo đức, nên gọi là Đức.

Ví dụ 3: Chúng ta đem thực phẩm, quần áo cứu trợ cho đồng bào bị hỏa hoạn tại chợ Quy Nhơn. Câu này dạy Hạnh Hiếu Sinh thân hành.

Tại sao câu này gọi là Hạnh Hiếu Sinh? V́ đó là hành động đi cứu trợ.

Câu hỏi 8: Nằm giường cao là sao? Trong pḥng con có cái giường, khi con ngồi lên th́ “hổng chân”, vậy th́ có phải gọi là cao không Thầy?

Đáp: Để biết giường cao hay thấp, trong Giới luật có dạy kích cỡ rơ ràng: Giường cao là giường làm cao hơn tám ngón Như Lai. Mỗi ngón Như Lai bằng 1 tấc, vậy tám ngón Như Lai là tám tấc, giường làm cao hơn tám tấc là giường cao, người tu sĩ không được nằm. Trong Giới luật, có người dịch là tám lóng tay Như Lai, mỗi lóng tay 2 phân. Như vậy giường chỉ cao có 1 tấc 6 phân. Giường cao có 1 tấc 6 th́ không thể gọi là giường mà gọi là phản. Cho nên, theo Thầy nghĩ tám ngón Như Lai là đúng, c̣n tám lóng Như Lai là sai.

Câu hỏi 9: Xin Thầy cho con biết khi 2 người cúi chào nhau, con thấy có người chào rất sâu (90 độ), có người (20 - 30 độ), c̣n con chào nghiêng đầu 45 độ, vậy th́ chào sâu là chào bao nhiêu độ vậy hả Thầy?

Đáp: Chào nhau 45 độ là vừa.

Câu hỏi 10: Xin Thầy chỉ dạy cho con hiểu rơ đoạn văn cuối trong bài “Có sống đạo mới vui đời” có nghĩa là ǵ?

Đáp: Đạo Phật lấy Giới luật đức hạnh làm cuộc sống của ḿnh, cho nên người nào sống Đạo đức Nhân Bản - Nhân Quả không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ tất cả chúng sinh th́ cuộc đời họ mới có sự an vui chân thật, v́ thế câu kinh này dạy: “Có sống đạo mới vui đời”. Đạo đức là giới luật đức hạnh.

Câu hỏi 11: “Nh́n nhận sự tương quan sinh tồn, chí nhân khổ cái khổ của người, vui cái vui của muôn loài, nên lợi người trước ḿnh. Cái vui này là cái vui vô lượng”.

Theo con hiểu khi thấy ai khổ ḿnh cố gắng giúp người ta hết khổ trước và khi thấy ai vui th́ lúc đó ḿnh mới vui, nghĩa là chỉ nên nghĩ đến người trước. Tâm ḿnh đă thanh thản rồi, bất động rồi th́ đâu c̣n vui buồn ǵ nữa, nhưng ḿnh lấy các đối tượng khổ vui của người khác để sống ḥa đồng biết thương yêu người, giúp đỡ họ và an vui với họ. Có sống với người, tạo thêm niềm vui cho người cho ḿnh th́ cuộc sống thêm vui chứ sao phải không Thầy? Đâu phải nói là tu xong rồi không c̣n biết vui buồn ǵ nữa th́ có lẽ trở thành cây đá rồi. Xin Thầy giải thích rơ cho con thêm.

Đáp: Đúng! Con nói rất đúng. Người tu sĩ Phật giáo thấy cái ác, cái khổ của người liền t́m cách khuyên ngăn đừng làm ác và giúp cho người thoát khổ, để đem lại cho người nguồn vui hạnh phúc, chứ không làm cho người khổ hoặc bới móc chuyện xấu của người, hoặc nói xấu hoặc nói thêu dệt, thêm bớt hoặc nói ly gián v.v.. Cho nên, người tu sĩ Phật giáo lấy cái vui của người và lấy cái thiện để chuyển hóa cái khổ của người để làm nguồn vui chung cho ḿnh, cho người. Người tu sĩ Phật giáo không có cái vui riêng cho ḿnh. V́ vui buồn đối với người tu sĩ Phật giáo chỉ là pháp vô thường nên chẳng vui cũng chẳng buồn, lúc nào thân tâm cũng thanh thản, an lạc và vô sự mà thôi.

Câu hỏi 12: V́ Phật dạy không làm khổ ḿnh, khổ người. Khi ḿnh hy sinh cứu người và cứu vật, bị tật nguyền hay hy sinh mà không muốn làm khổ ḿnh th́ ḿnh phải quán xét làm sao?

Đáp: Người tu sĩ Phật giáo đă biết thân, thọ, tâm và pháp là vô thường, không có cái nào là ta, là của ta, là bản ngă của ta th́ hy sinh giúp người thoát khổ, thoát chết, nhưng tâm vẫn bất động. Mà tâm bất động th́ thân này có chết, có tật nguyền, có sao đi nữa th́ họ có buồn khổ đâu. Cho nên, họ dám xông pha vào lửa đỏ, vào sóng to lũ lụt để cứu người mà không hề sợ hiểm nguy đến tính mạng của ḿnh như những câu chuyện: Vết thẹo của người mẹ, Con chim ưng của Thành Cát Tư Hăn, và cái chết thản nhiên của cô gái Evin trong chiếc tàu từ từ ch́m xuống đáy biển mang theo cô... Khi quán xét các pháp vô thường th́ vết thẹo trên gương mặt của người mẹ, cái chết của con chim ưng và cái chết của cô Evin th́ đâu có nghĩa ǵ nữa. C̣n những người không hiểu các pháp vô thường th́ cho đó là làm khổ ḿnh, nhưng khi họ hiểu các pháp vô thường, vô ngă th́ tâm họ bất động. Tâm họ bất động th́ cái thọ khổ không tác động vào tinh thần sắt đá của họ.

Tu hành muốn đạt được chỗ tâm bất động không phải dễ, nhất là khi chúng ta đứng trước các loại cảm thọ của thân mà tâm bất động, đó là một loại Thiền định xả cảm thọ th́ tâm mới bất động dễ dàng. Chỗ này nói th́ dễ nhưng tu tập cho đúng pháp mới đạt được.

Tâm bất động có hai phần:

-       Tâm bất động thuộc về tâm do tri kiến giới luật đức hạnh.    

-       Tâm bất động thuộc về thân do tri kiến tỉnh thức Định Tứ Thiền...

Nhờ nhập vào Tứ Thiền, sức định lực của Tứ Thiền quét sạch các cảm thọ nên tâm không c̣n cảm nhận thọ khổ, v́ thế tâm mới bất động dễ dàng.

C̣n có một tâm bất động, đó là ư chí ngút ngàn xem thường các cảm thọ, mặc dù tâm chưa có Thiền định nhưng nhờ Tín lực “chết bỏ” không sợ các cảm thọ nên thản nhiên trước sự đau đớn tận cùng của sức chịu đựng bản thân.

Câu hỏi 13: Phải chăng ḿnh nghĩ rằng ḿnh rất tự hào về những điều ḿnh đă làm, không hối tiếc, không coi trọng cái thân này. Dù cho cái thân có tàn tật th́ cũng không sao. Nhưng nếu cái thân này bị tàn tật do cứu người mà làm khổ gia đ́nh ḿnh phải chăm sóc cho ḿnh th́ ḿnh lại làm khổ người thân của ḿnh, vậy th́ làm sao đây? Xin Thầy chỉ dạy rơ cho con biết. V́ đức Phật nói “phải hùng lực cứu người, cứu vật”. Vậy trước khi cứu người cứu vật có phải tư duy suy nghĩ hay không?

Đáp: Người tu sĩ Phật giáo bao giờ cũng trang bị tri kiến hiểu biết của ḿnh đầy đủ, để khi lâm trận chỉ c̣n chiến đấu và giành phần thắng về ḿnh... Như quư vị đă biết: Lớp học Giới luật đức hạnh là lớp trang bị kiến thức không những để học những bài học và c̣n áp dụng những bài học đạo đức đó vào đời sống hàng ngày để khi hữu sự tức là có sự việc xảy ra là tự ứng phó một cách tự nhiên tức là phản xạ tự nhiên, chứ không cần phải quán xét suy tư, v́ quán xét suy tư th́ quá chậm.

Trang bị đức hiếu sinh cho các con, khi các con hy sinh cứu người, thân các con có tàn tật hay nằm bệnh viện, những người thân có nuôi các con, có giúp đỡ cho các con bất cứ sự nặng nhọc nào th́ họ cũng vui sướng có người con hay người thân có tâm hồn yêu thương cao cả, biết hy sinh v́ mọi người; tuy cơ thể có các cảm thọ khổ, song tinh thần các con hạnh phúc vô cùng. Một cháu bé 13 tuổi cứu thoát 11 người chết đuối. Một chàng thanh niên xông vào lửa đỏ cứu 6 người thoát chết thiêu, chàng bị phỏng nặng nhưng tinh thần chàng rất hạnh phúc và mọi người ai cũng quư trọng. Trong thời gian chữa trị, mọi chi phí thuốc men chàng đều được mọi người lo lắng đầy đủ.

Làm việc thiện trong hoàn cảnh nào cũng có đầy đủ phước báo, cho nên nhân nào quả nấy, chúng ta cứ hành thiện, cứ thương yêu mọi người rồi mọi người sẽ thương yêu chúng ta.

 

KẾT LUẬN

Để kết thúc buổi giảng hôm nay, Thầy tóm lược: Phàm là con người, tất yếu ai cũng có sai lầm, nhưng biết được sai lầm mà tu sửa là trở thành bậc Thánh nhân. Đạo Phật là một tôn giáo không có chỗ để cho linh hồn con người nương tựa. Chỉ có những người biết tự ḿnh tu sửa theo giáo pháp mà đức Phật đă vạch ra. Nhờ tu tập đúng mà con người có thể tự cứu ḿnh khỏi những khổ đau, và hưởng được sự an vui, hạnh phúc. Nếu một lần, hai lần mà chưa tu sửa được th́ mười lần, một trăm lần, một ngàn lần, rồi cũng phải sửa được, chỉ cần có quyết tâm tu sửa th́ sẽ có kết quả tốt. Đừng thấy tu sửa một vài lần chưa được mà bỏ cuộc, th́ đó là người hèn kém, thiếu nghị lực, thiếu bền chí. Trong đời chúng ta đă có biết bao nhiêu người tu sửa được. Cái ǵ cũng do chúng ta tập thành thói quen, thói quen th́ có xấu và tốt. Tu sửa có nghĩa là bỏ thói quen xấu mà hằng sống thói quen tốt. Từ ngàn xưa, đức Phật và các đệ tử của Ngài cũng vậy đă tu sửa như vậy nên Ngài bảo: Tu hành giống như người huấn luyện voi”. Ngày nay, cũng có nhiều người tu sửa được th́ tất nhiên quư vị cũng tu sửa được, không có ǵ phải nản chí. Phải bền chí tu tập con đường giải thoát đang chờ quư vị ở phía trước, phải không hỡi quư vị?

 

LY BẤT THIỆN PHÁP

Bây giờ Thầy trở lại bài giảng Ly Bất Thiện Pháp để bổ túc thêm cho được đầy đủ các pháp hành. Muốn tu tập ly bất thiện pháp th́ ta phải dùng ba đức: Nhẫn nhục, Tuỳ thuận, Bằng ḷng. Nghĩa là đứng trước mọi hoàn cảnh, mọi sự vật, mọi đối tượng, quư vị phải tu tập Pháp hướng tâm. Pháp hướng tâm c̣n gọi là Pháp dẫn tâm. Dẫn tâm như thế nào? Dẫn tâm cũng như dẫn một đứa bé con c̣n thơ, nếu dẫn nó vào chỗ sạch sẽ không dơ bẩn (đạo đức) th́ nó chơi sạch sẽ, nếu dẫn nó vào chỗ dơ bẩn th́ nó dơ bẩn, ô nhiễm (thiếu đạo đức). Cũng vậy dẫn tâm vào chân lư giải thoát của đạo th́ tâm sẽ giải thoát. Chân lư giải thoát của đạo là chỉ thẳng vào mọi duyên, mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng, mọi sự việc để biết rơ nó là vô thường, khổ, và không có thực thể bản ngă trong đó. Tất cả đều do các duyên hợp lại mà thành, và duyên tan là mất hết, không c̣n có cái ǵ tồn tại. Khi đă hiểu rơ như vậy và thấy rơ như vậy, th́ dùng Pháp Hướng Tâm mà nhắc tâm như vầy:

1.        Như lư tác ư: Cái tâm từ đây về sau không được kiến chấp cái tâm là có thật, mà phải thấy nó không phải của ta, không phải là ta, không phải bản ngă của ta. V́ quán xét như vậy nên ta không c̣n chấp ngă, do không chấp ngă nên đau khổ, phiền năo trong tâm không c̣n nữa.

2.        Như lư tác ư: Các duyên tan hợp theo nhân quả, diễn biến luân hồi nên không có thật thể bản ngă, toàn là vô thường, khổ, vô ngă.

3.        Như lư tác ư: Đời sống của con người là duyên tan hợp của nhân quả, cho nên không có bản ngă chân thật, toàn là vô thường và đau khổ. Từ đây cái tâm phải bỏ xuống, không được chấp cái ta nữa, v́ chấp cái ta là tạo thêm đau khổ và ác pháp trong tâm.

4.        Như lư tác ư: Ai theo cái duyên nhân quả, tạo ác, là phải thọ lấy cái quả khổ, ta không dại ǵ đem khổ vào thân. Từ nay, cái tâm hăy bỏ xuống đi để được an vui, thanh thản và vô sự.

Quư vị hăy cố gắng động năo, triển khai những trí tuệ nhân quả, duyên tan hợp để thấu rơ lư Vô Thường, Khổ, Vô Ngă của đạo giải thoát th́ chừng đó quư vị mới nhẫn nhục, tuỳ thuận, bằng ḷng được. Đây là pháp dẫn tâm, lập đức nhẫn nhục, vào tâm ấn của đức Phật theo duyên tan hợp, diễn biến luân hồi của nhân quả. Khi có một niệm khởi ra trong đầu th́ quư vị mau dẫn tâm vào lư giải thoát, để tâm hồn được thanh thản, an lạc, và vô sự. Muốn giữ tâm cho được thanh thản, an lạc và vô sự th́ khi có một niệm tào lao nổi lên, quư vị phải nhắc tâm như thế này:

1.        Như lư tác ư: Cái tâm phải thanh thản, không được nghĩ ngợi tào lao, v́ nghĩ ngợi tào lao th́ tâm bị phân chia ra tan nát khó mà vào thiền định được.

2.        Khi biết tâm ḿnh thường giận hờn, phiền năo, đau khổ th́ dẫn tâm theo pháp Như lư tác ư thế này: Cái tâm phải thanh thản, an lạc và vô sự, không được giận hờn, đau khổ, phiền năo nữa, v́ đau khổ, phiền năo là các pháp ác.

3.        Khi có một niệm thương nhớ, lo sợ th́ phải dẫn tâm tác ư như sau: Cái tâm thanh thản, không được thương nhớ, lo sợ v́ các pháp đều là do duyên tan hợp theo nhân quả nên không có ǵ là của ḿnh. Vậy hăy bỏ xuống, đừng thương nhớ lo sợ, v́ thương nhớ lo sợ là ác pháp, là pháp làm đau khổ trong tâm hồn của ta.

4.        Khi tâm không có niệm khởi, đang ở trong trạng thái thanh thản, th́ hăy dẫn tâm như thế này: Cái tâm phải thanh thản trong trạng thái thanh thản, v́ có thanh thản th́ tâm mới có nội lực. Tâm có nội lực th́ mới nhập thiền định.

Trên đây là pháp hướng Như lư tác ư để giữ tâm thanh thản. Muốn giữ tâm thanh thản th́ phải nương vào hơi thở tuỳ tức, tuỳ tức mà không ức chế tâm mới gọi là Định Niệm Hơi Thở. Thỉnh thoảng lại nhắc tâm thanh thản một lần. Đó là giữ tâm thanh thản trong hơi thở. Lúc nào, ngày nào, giờ nào, hễ có rảnh là dẫn tâm vào thanh thản. Đó là tu pháp An trú tâm thanh thản, an lạc và vô sự bằng phương pháp dẫn tâm vào trong trạng thái thanh thản. Dẫn tâm vào trạng thái thanh thản là dẫn tâm tập nhập Sơ Thiền, dẫn tâm nhập Sơ Thiền là để lập đức nhẫn nhục, tuỳ thuận, bằng ḷng. Lập đức nhẫn nhục, tuỳ thuận, bằng ḷng là để ly dục ly ác pháp. Tâm có thanh thản th́ tâm mới có b́nh tĩnh, sáng suốt. Tâm có b́nh tĩnh sáng suốt th́ tâm mới có nhẫn nhục. Tâm nhẫn nhục th́ tâm mới tuỳ thuận. Tâm có tùy thuận th́ tâm mới bằng ḷng. Tâm có bằng ḷng th́ tâm mới xả được. Tâm có xả được th́ tâm mới ly dục ly ác pháp. Tâm có ly dục ly ác pháp th́ tâm mới có an vui, hạnh phúc. Tâm có an vui hạnh phúc là tâm nhập Sơ Thiền, tâm nhập Sơ Thiền là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

 

TU TRONG BA NGHIỆP

Bây giờ Thầy dạy quư vị tu tập pháp ư tứ, ly ác pháp, lập đức nhẫn nhục.

I-   ĐỨC NHẪN NHỤC

1/       Bắt đầu quư vị nên tu tập ư tứ, ư hành niệm. Khi tâm khởi lên một niệm, quư vị phải quan sát niệm đó, phân tích, t́m ra nguyên nhân và mục đích của nó, nó đến với quư vị là có sự việc ǵ trong tâm. Khi thấu rơ đó là pháp ác th́ nó liền tan biến. Đây gọi là tu tập ư tứ, ư hành niệm, ly ác pháp, lập đức nhẫn nhục.

2/       Khi quư vị muốn nói ra một lời nào đó, quư vị phải khởi ra một ư niệm trước. Khi ư niệm khởi xong, quư vị quan sát ư niệm đó, t́m nguyên nhân, mục đích của nó. Khi thấu rơ ư niệm đó quư vị mới nói ra lời. Đây là tu tập ư tứ khẩu hành niệm để ly bất thiện pháp lập đức nhẫn nhục.

3/       Khi tâm quư vị muốn làm một điều ǵ quư vị phải khởi ra ư niệm của việc làm đó, rồi cũng t́m ra nguyên nhân, mục đích của nó. Khi đă t́m xong, biết nó là thiện pháp th́ thân mới bắt đầu hành động. Đó là tu tập ư tứ thân hành niệm để ly các ác pháp, để lập đức nhẫn nhục.

Khi thân làm việc ǵ, phải ư tứ cẩn thận, kỹ lưỡng trong việc làm đó, không làm bừa băi, không làm dối trá. Đây là tu tập cẩn thận ư tứ kỹ lưỡng thân hành niệm để ly bất thiện pháp, thực hiện đức nhẫn nhục.

Khi tu tập ư tứ ư hành niệm, khẩu hành niệm, và thân hành niệm th́ dùng tư tuệ quán sát ư niệm, lời nói, việc làm, biết rơ đúng sai, thiện ác, có lỗi không lỗi, phạm giới không phạm giới, diệt hay nuôi ngă, xả tâm hay dính mắc v.v.. Đây là tu tập triển khai tư tuệ trong ư hành niệm, khẩu hành niệm, thân hành niệm để ly dục, ly ác pháp, để tu luyện tập đức nhẫn nhục.

Tóm lại, đức nhẫn nhục giúp cho quư vị trở thành người hiền hoà, b́nh tĩnh và sáng suốt, ôn tồn, nhă nhặn và từ ái. Nó giúp cho con người từ phàm phu trở thành Thánh Nhân. Đức nhẫn nhục giúp quư vị xa ĺa các ác pháp trong và ngoài tâm, diệt sạch bản ngă, tiêu trừ tánh hung ác, nham hiểm, tỵ hiềm, ganh ghét. Đức nhẫn nhục c̣n mang đến cho quư vị niềm an vui, an lạc hạnh phúc đời đời, không c̣n biết sợ hăi, oán thù ai cả. Đức nhẫn nhục c̣n mang đến cho quư vị những lời nói hiền ḥa, những hành động nhẹ nhàng, êm ái; những ánh mắt dịu hiền, đầy ḷng thương yêu đối với mọi người. Đức nhẫn nhục đi đến đâu th́ chuyện lớn thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ mất tiêu và thường mang đến nguồn an vui ở đó. Đức nhẫn nhục đi đến đâu th́ an lạc đi đến đó cho mọi người.

II-  ĐỨC TUỲ THUẬN

Đức tùy thuận là một phương tiện ly bất thiện pháp, xả ngă rốt ráo. Nếu một người c̣n chấp một chút ác ngă cũng không tu tập đức tùy thuận đúng cách được. Ở đời, ai cũng muốn làm thầy thiên hạ, chỉ huy thiên hạ, luôn luôn thấy ḿnh hay, giỏi hơn thiên hạ, ít ai tùy thuận ai được. Bởi tùy thuận là một đức hạnh cao quư để xây dựng, rèn luyện con người trở thành người khiêm hạ, luôn luôn biết làm cho người khác vui ḷng. Nó cũng xây dựng, rèn luyện cho con người thành người ư tứ trong công việc làm, không để cho thất bại. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người thành người biết tôn trọng ư kiến người khác. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người thành người học hỏi cái hay và biết cái dở của người khác. Nó cũng xây dựng, rèn luyện con người trở thành người sáng suốt và b́nh tĩnh trước mọi ư kiến của người khác.

Điều quan trọng nhất trong sự tu tập đức tùy thuận là xây dựng rèn luyện con người thành người đầy đủ nghị lực, gan dạ, chấp nhận mọi ư kiến người khác để trở thành người nhỏ nhất, mà cũng là người lớn nhất. Vậy, đức tùy thuận là ǵ?

Tùy là dựa theo, làm theo. Thuận là ḥa thuận, không chống trái nhau. Tùy thuận là dựa theo, làm ḥa hợp ư kiến, việc làm của người khác, mà không chống trái nhau. Ở đời, v́ thiếu đức tùy thuận lẫn nhau, ai cũng cố chấp ngă, chấp kiến nên mới sanh ra biết bao sự chống trái lẫn nhau, tạo nên cảnh nghịch ư trái ḷng. Do đó, gây ra biết bao ác pháp, khiến cho ḿnh khổ, người khổ. V́ thế, chúng ta là tu sĩ của đạo Phật, phải cố gắng tu tập và rèn luyện đức tùy thuận. Muốn tu tập và rèn luyện đức tùy thuận để ly ác pháp và diệt bản ngă ác th́ quư vị phải luôn luôn thực hiện:

1/       Luôn luôn làm theo ư kiến người khác, bất cứ người nào, dù ở giới nào, giai cấp nào, già hay trẻ, bé hay lớn, nam hay nữ, sang hay hèn, hay vua quan trong xă hội. Đó là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, xả ngă diệt ác pháp.

2/       Không làm theo ư kiến của ḿnh, dù ư kiến của ḿnh có đúng một trăm phần trăm. Đó là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, diệt ngă xả tâm.

3/       Làm theo ư muốn của thiện hữu tri thức mà không làm theo ư muốn mọi người, đó không phải là tùy thuận, ly ác pháp. Đó là tâm sợ hăi (làm theo lệnh chỉ huy). Làm theo ư muốn của thiện tri thức, và cũng làm theo ư muốn mọi người mới là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, xả ngă.

4/       Trước khi muốn làm một việc ǵ th́ phải hỏi ư kiến của thiện hữu tri thức và của mọi người. Nếu tùy tiện làm theo ư của ḿnh là hành động theo bản ngă, nuôi dưỡng bản ngă và các ác pháp. Như thế th́ không thể nào tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, xả ngă ác.

5/       Khi thưa hỏi xong, phải làm đúng theo ư kiến mọi người. Đó là tu tập đức tùy thuận, ly ác pháp, diệt ngă ác.

6/       Khi thi hành có sơ sót, bị la rầy, liền tức khắc chuyển sự tu tập tùy thuận sang tu tập nhẫn nhục, để ly ác pháp. Có như vậy mới gọi là tu tập đức tùy thuận trong đức nhẫn nhục.

7/       Luôn luôn phải tôn kính ư kiến của mọi người, v́ có tôn kính ư kiến của người khác ta mới tùy thuận được ư kiến người khác mà không làm theo ư kiến của ḿnh. Đó là ly dục, ly bất thiện pháp.

8/       Luôn luôn phải hạ ḿnh kính trọng mọi người, v́ có kính trọng mọi người th́ mới có tùy thuận được người.

9/       Muốn ly ác pháp và diệt ngă th́ phải tu tập nhận thấy ḿnh là nhỏ nhất, kém nhất.

10/   Muốn trở thành bậc Thánh hiền th́ phải tu tập thấy ḿnh nhỏ nhất, kém nhất.

Tùy thuận, nhưng không bị lôi cuốn vào ác pháp, quư vị nên lưu ư, có nhiều khi chúng ta tùy thuận mà thiếu trí phán xét những ư kiến ác của người khác để biến chúng ta thành ṭng phạm.

Khi tu hạnh đức tùy thuận, đối với ác pháp ta nên tránh né và tránh xa những kẻ ác, ư kiến ác th́ tùy thuận mà không bị lôi cuốn. Nhớ kỹ: Tùy thuận mà không bị lôi cuốn trong ác pháp, như vậy mới thật là tùy thuận. Muốn tùy thuận được như vậy th́ phải triển khai tri kiến nhân quả cho thông suốt, nhờ có triển khai như vậy mới có tùy thuận vững vàng trước các ác pháp.

 

TÂM THƯ GỬI QUƯ CƯ SĨ

Chơn Như, ngày 28 - 4 - 2000.

Kính gửi: Quư cư sĩ.

Hôm nay Thầy đă nhuận xong tập sách “Thiền Căn Bản”. Cách đây bốn năm Thầy đă giảng dạy thiền nhưng chẳng mấy người biết. Do sợ nội dung khác ư với kinh sách phát triển có thể làm buồn ḷng Thầy Tổ của ḿnh, nên Thầy không cho lưu hành rộng răi. Cho tới gần đây, Thầy nhận được một băng trên mạng toàn cầu từ một quư cư sĩ có nhiệt tâm muốn làm sống lại Thiền Định của đạo Phật mà lâu nay tín đồ Phật giáo lại xem thường, cho nó là Thiền Phàm Phu, Tiểu Thừa, ngoại đạo thiền...

Sau khi nhuận xong Thầy nhờ cô Châu đưa lên mạng để quư cư sĩ mọi nơi trên toàn cầu nhận được và “tuỳ ư in thành sách” để trợ giúp cho những ai quyết chí tu hành theo Thiền Định của Phật giáo Nguyên Thuỷ.

Nguyện ước mong sao quư cư sĩ gặp được pháp bảo này áp dụng thực hiện có kết quả ngay liền trong cuộc sống hàng ngày để minh chứng giáo pháp của đức Phật không lừa đảo dối người, v́ có tu đúng mới có kết quả giải thoát, sống đúng một đời sống đức hạnh làm người, không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ tất cả chúng sinh, đây là sự giải thoát chân thật của đạo Phật.

Nếu cuộc sống hàng ngày không kiểm soát được và làm chủ được thân, miệng, ư của ḿnh th́ dù có ngồi thiền hai, ba tháng hoặc niệm Phật nhất tâm bất loạn bảy, tám ngày mà tâm tham, sân, si vẫn c̣n th́ phỏng có ích lợi ǵ.

Thiền định của đạo Phật không khó mà khó là ở chỗ sống đúng Giới luật, Đức hạnh làm người không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ cả hai. V́ thế, khi mới vào đạo tu hành th́ đức Phật dạy: Năm giới và thường nhắc nhở chúng ta: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” hoặc khuyên răn: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”.

Những lời dạy trên đây là những lời dạy đạo đức nhân bản làm người, không làm khổ ḿnh, khổ người; những lời dạy này quá thiết thực và cụ thể lợi ích cho ḿnh, cho người, cho xă hội và cho loài người trên hành tinh này; nó mang đến cho con người một hạnh phúc, an vui của kiếp sống làm người tuyệt vời, mà đức Phật gọi là giải thoát. Cho nên, đạo Phật là đạo giải thoát là vậy. Có đúng không quư vị?

Quư vị cư sĩ cứ suy ngẫm những lời dạy trên đây trong kinh sách của đức Phật có đúng đây là Thiền định của đức Phật không? Nếu đúng có lợi ích thiết thực cho đời sống của quư vị và mọi người th́ quư vị tin, bằng ngược lại th́ không nên tin. Tin hay không tin đều không sao cả. Bởi v́ tin là một điều cần phải hiểu rơ, phải thấy được lợi ích thiết thực cụ thể cho đời sống, c̣n tin mà không hiểu rơ là tin mù quáng. Tin mù quáng giống như người đi trong đêm tối, không đèn, không đuốc.

Cuối cùng Thầy xin có lời thăm và chúc quư Phật tử được gặp nhiều may mắn trên đường tu tập, hẹn gặp lại quư vị khi quư vị trở về thăm quê hương Tu viện Chơn Như, Thầy có nhiều điều tâm sự và gửi gắm lại quư vị.

HẾT

 

GIỚI THIỆU SÁCH

 

1-      Đạo Đức Làm Người (tập I, II - 2011)

2-      Sống Mười Điều Lành (2011 - Quư IV)

3-      Những Lời Gốc Phật Dạy (4 tập - 2011)

4-      Đường Về Xứ Phật (10 tập - 2011)

5-      Văn Hóa Phật Giáo Truyền Thống (2 tập - 2011)

6-      Ḷng Yêu Thương - tập II (2011)

7-      Ḷng Yêu Thương (2009, 2011)

8-      Linh Hồn Không Có (2010 - Quư IV)

9-      Người Phật Tử Cần Biết (2 tập - 2011)

10-    Những Chặng Đường Tu Học Của Người Cư Sĩ (2011)

11-    Giới Đức Làm Người (2 tập - 2010)

12-    Thanh Quy Tu Viện Chơn Như (2010)

13-    Mười Hai Cửa Vào Đạo (2012)

14-    Sống Một Ḿnh Như Con Tê Ngưu (2010)

15-    Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo (2010)

16-    Muốn Chứng Đạo Phải Tu Pháp Môn Nào (2010)

17-    Hỏi Đáp Oai Nghi Chánh Hạnh (2011)

18-    Tạo Duyên Giáo Hóa Chúng Sinh (2011)

19-    Lịch Sử Chùa Am (2010)

20-    Thiền Căn Bản - tập I

21-    Thời Khóa Tu Tập Trong Thời Đức Phật

22-    Giáo Án Rèn Nhân Cách Lớp Ngũ Giới: Đức Hiếu Sinh (tập I, II, III - 2012)

23-    Giáo Án Rèn Nhân Cách Lớp Ngũ Giới: Đức Ly Tham (tập I)

24-    Giáo Án Rèn Nhân Cách Lớp Ngũ Giới: Đạo Đức Gia Đ́nh (tập I)

25-    Mười Giới Thánh Đức Sa Di (tập I, II)

26-    Giới Đức Thánh Tăng, Thánh Ni

27-    Phật Giáo Có Đường Lối Riêng Biệt

28-    Định Niệm Hơi Thở

29-    Những Lời Tâm Huyết (tập I, II)

30-    Pháp Môn Niệm Phật Tứ Bất Hoại Tịnh

31-    Nghi Thức Thọ Trai

32-    Thọ Tam Quy Ngũ Giới (2012)

...

 

 

 

Ấn bản điện tử cuốn sách này được đăng tải trên trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

Ước mong mọi người sống không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ chúng sinh.