VĂN HÓA PHẬT GIÁO

ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT

TẬP III

 

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Qúy bạn đọc có thể thỉnh sách tại TU VIỆN CHƠN NHƯ.

Ấn bản điện tử được đăng tải tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

GIỚI LUẬT

Giới luật như chiếc ch́a khóa để mở cửa thiền định, người tu sĩ cũng như người cư sĩ  tu tập thiền định mà không giữ ǵn giới luật th́ không bao giờ bước vào cửa thiền định được. Thiền định của Phật giáo chỉ giành cho những người giới luật nghiêm chỉnh. Xin các bạn lưu ư!

 

MỤC LỤC

           

Mục lục  1

Lời nói đầu. 2

Pháp hướng tâm.. 3

Thú chơi hoa kiểng. 5

Chẳng thương, chẳng ghét 5

Cách thức gom tâm.. 6

Tâm bung ra hoặc rơi vào vô kư. 7

Hôn trầm và lười biếng. 7

Buồn chán. 8

Muốn xả những lỗi lầm.. 8

Tu định vô lậu trong  tất cả hành động và việc làm.. 8

Có sự điều khiển trong hơi thở là chưa nhập định. 9

Trạng thái an ổn không có liên tục. 9

Có trạng thái an ổn rồi mới nhập định. 10

Ngồi thiền lưng đau,  nhức và chân tê cứng. 10

Lưng thụng. 10

Ngồi thiền bị kiến ḅ. 11

Sự tỉnh thức tự nhiên là định. 11

Hạnh độc cư. 11

Hơi thở thiền định. 12

Làm say mê quên hướng tâm có mất tỉnh thức không?. 12

Một người chứng tứ thiền, đắc tam minh có khi nào chết bất ngờ không?. 12

Con cái là nhờ đức cha mẹ. 12

Lỡ tay làm chúng sanh  chết th́ phải làm sao?. 13

Bằng cách nào kiếp sau gặp được chánh Phật pháp. 14

Nhập tam thiền có hết lậu hoặc chưa?. 14

Người giảng thiền thâm sâu có phải vượt qua năm ấm chưa?. 14

Tam minh. 15

Tầm tứ. 16

Bồ tát quan âm do tưởng sao có sự linh thiêng?. 17

Có cơi trời không?. 17

Chánh kiến. 18

Sau khi nhập diệt chư Phật c̣n trở lại thế gian nữa không?. 18

Khi nhập diệt đức Phật  đă trở thành sóng ánh sáng?. 19

Có phải phật là trí tuệ của một vị minh sư không?. 19

Ánh sáng trí tuệ. 20

Diệt ngă. 20

Thiểu dục tri túc. 20

Tỉnh giác. 21

Thế giới siêu h́nh. 21

Tu tập có đối tượng. 22

Xả sạch. 23

Tâm như đất 23

Độc cư. 24

Về kết quả bản thân. 24

Trai hay là chay. 25

Ức chế tâm.. 25

Kinh năm ba. 25

Phương pháp tu tập cho người già. 26

Tu tập giới chưa đủ. 26

Duyên nhân quả. 26

Hồn về nhập cô đồng. 27

Xin quẻ. 27

Nhà ngoại cảm.. 28

Sự lừa đảo của đồng cốt 28

Tưởng lực. 28

Thần giao cách cảm.. 29

Tưởng ấm.. 29

Thấy ma. 29

Năng lực của tưởng. 30

Câu chuyện liêu trai 30

Sống là tu. 30

Con người từ đâu sanh?. 31

Tưởng tri và thật tri 32

Phạm hạnh. 32

Thế giới siêu h́nh không có. 32

Gọi hồn. 35

Ṃ t́m trong bí ẩn những thông tin đáng tin cậy. 38

Khám phá sự bí ẩn. 40

Thay lời kết luận. 40

Nơi xuất phát thế giới siêu h́nh. 40

Để trả lời những câu hỏi của  giáo sư trần phương về thế giới siêu h́nh. 40

Linh hồn là do tưởng tri của con người c̣n sống. 41

Khám phá sự bí ẩn của anh N. 42

Khám phá sự bí ẩn về cháu Bích Hằng. 43

Phụ chú I

Tử biệt sanh ly là một sự đau khổ của kiếp người 44

Phụ chú II

Tu tập tứ niệm xứ. 45

Tưởng uẩn. 45

Trong khi tu tập tứ niệm xứ có học tập hay làm một việc ǵ khác được không?. 46

Kiêu mạn. 46

Bị trạo cử phải  khắc phục như thế nào?. 46

Tâm bất động không  phải là tâm kham nhẫn. 46

Tâm không chướng ngại pháp th́ tác ư: tâm thanh thản, an, lạc và vô sự, c̣n có chướng ngại pháp  th́ tác ư: ác pháp lui!. 47

Khi tác ư bệnh lui đi  có phải là tưởng không?. 47

Tu tứ niệm xứ có cần ngồi kiết già hay không?. 48

Phụ chú III

Sống tẻ nhạt, đơn điệu, buồn chán, lăng phí thời gian. 48

Vị  A la hán từ tuệ sinh đức hay từ đức sinh tuệ. 48

Khẩu khí A la hán. 49

Khả năng làm việc phi thường. 50

Mang lấy nghiệp thảm hại 50

Hai tâm đó có khác nhau không?. 50

Duy tŕ tuổi thọ. 50

Góp phần vào việc giữ ǵn và xây dựng chánh pháp. 51

Bất ḱ tôn giáo nào đều có những lư luận: “Đây là trực đạo,  đây là chánh đạo…”. 51

Con người khổ v́ thiếu nền đạo đức nhân bản - nhân quả. 51

Bài xin sám hối của N.C

 

LỜI NÓI ĐẦU

Đường Về Xứ Phật tập 3 ra đời sẽ chỉ thẳng cho quư vị biết rất rơ về thế giới siêu h́nh mà từ xưa cho đến ngày nay, con người trên hành tinh này từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc và tất cả các tôn giáo khác có mặt trên hành tinh này, ngoại trừ Phật giáo ra, đều chấp nhận có thế giới siêu h́nh. Thế giới siêu h́nh có thật hay không? Xin thưa quư bạn hăy đọc Đường Về Xứ Phật tập ba th́ sẽ rơ.

Về vấn đề giải quyết thế giới siêu h́nh là một vấn đề nan giải của loài người, v́ từ xưa cho đến ngày nay, nhất là khoa học hiện đại đang truy t́m để xác chứng có hay là không có, nhưng các nhà khoa học hiện giờ đều điên đầu với những hiện tượng siêu h́nh mà không thể lư giải chứng minh bằng khoa học được.

Chúng tôi là những hành giả của đạo Phật, lấy giới luật và giáo pháp của đức Phật làm hành trang và vũ khí để tiến bước vào tâm linh của ḿnh, nói cách khác cho dễ hiểu hơn là chúng tôi dùng giới luật và giáo pháp của đức Phật điều khiển và khai mở thân ngũ uẩn. Khi khai mở thân ngũ uẩn tức là khai mở bộ óc của con người, khai mở bộ óc của con người tức là khám phá thế giới linh hồn của người chết.

Thưa quư vị, thân ngũ uẩn là một bộ máy rất tinh vi mà tất cả các nhà khoa học trên thế giới đều phải chấp nhận. V́ khoa học chưa có thể sáng tạo ra con người thật con người được, nhất là về phần tâm linh.

Khoa học hiện đại đă phát minh ra bộ máy vi tính tuyệt vời làm việc đa năng, nhưng sánh với bộ máy thân ngũ uẩn của con người th́ nó c̣n kém quá xa, v́ máy vi tính không có phần t́nh cảm thương, yêu, ghét, giận, hờn, phiền năo, khổ đau v.v.. Nếu khoa học chịu khó không ngừng tiến triển th́ chắc chắn bộ máy vi tính sẽ thay thế năo bộ của con người để khám phá bộ năo của con người, th́ chừng đó thế giới linh hồn của người chết mới lư giải và minh chứng được sự thật thế giới siêu h́nh là không có.

Ngày xưa, ông Galilé bảo rằng quả đất tṛn, th́ Giáo Hội La Mă cho rằng ông nói sai, v́ Thiên Chúa bảo rằng quả đất  vuông, cho nên ông bị kết tội tử h́nh. Ngày nay khoa học đă xác minh đúng là quả đất tṛn th́ mọi người ai cũng đều thương tiếc ông. (Nhưng có thuyết cho rằng ông Galilé bảo trái đất đi quanh mặt trời ngược lại kinh thánh Thiên Chúa cho rằng Mặt trời đi quanh trái đất).

Cách đây 2545 năm, có một người Ấn Độ tên là Sĩ Đạt Ta (đức Phật) bảo rằng: “Thế giới siêu h́nh không có, nó chỉ là một thế giới tưởng (tưởng tri) mà thôi. Cho đến ngày nay người ta cũng vẫn không tin lời nói này.

Khi đức Phật tu tập xong và cảm nhận bộ máy thân ngũ uẩn thật là vi diệu và tuyệt vời, Ngài đă điều khiển nó bắt gặp các tần số âm thanh, sắc tướng và tất cả những hành động của những sự việc đă qua của những người chết c̣n lưu lại trong không gian. Bất kỳ thời gian quá khứ nào Ngài cũng bắt gặp lại được dễ dàng, những danh từ trong thời Ngài được gọi, đó là “Túc Mạng Minh”.

Những h́nh ảnh, âm thanh và những hành động đă qua của con người c̣n giữ lại trong không gian này bất kỳ nơi đâu, khi điều khiển thân ngũ uẩn, nó đều bắt gặp các tần số h́nh ảnh và âm thanh một cách dễ dàng, danh từ trong thời Đức Phật gọi đó là “ Thiên Nhăn Minh”.

Khi Đức Phật tu xong, Ngài truy t́m con người từ đâu sanh ra? Với chiếc máy thân ngũ uẩn Ngài đă điều khiển và t́m thấy được nguyên nhân sanh ra con người đó là “nghiệp lực nhân quả" mà danh từ trong thời Đức Phật gọi là “Lậu Tận Minh”.

Sau khi chứng đạt chân lí xong Ngài dùng bộ máy thân ngũ uẩn truy t́m linh hồn con người tái sanh nơi đâu? Nhưng Ngài không bắt gặp linh hồn mà lại bắt gặp nghiệp lực nhân quả tái sanh luân hồi. Do đó trong bài kinh Pháp Môn Căn Bản Ngài quả quyết xác định thế giới siêu h́nh và hữu h́nh không có thật, chỉ là tưởng tri của con người dựng lên. Do sự dựng lên và chấp chặt mà loài người phải chịu khổ đau từ đời này sang đời khác; do sự dựng lên và chấp chặt con người đă đánh mất đạo đức làm người. V́ con người tin và nghĩ rằng: “Trong cuộc sống hiện hữu của họ c̣n có thế giới vô h́nh ngự trị, gia hộ bảo bọc cho họ (Dù cho tạo tội như núi cả. Diệu pháp Liên Hoa tụng mấy hàng). V́ tư tưởng dựa lưng vào Thần Thánh biến dần họ trở thành những ác thú và c̣n hơn thế nữa, họ là những ác quỷ. Hiện nay có một số người dựa lưng vào thế giới siêu h́nh khủng bố, giết hại người vô tội thật đáng thương.

V́ thế, Đức Phật nói sáu cơi luân hồi tức là nói sáu đẳng cấp sống của muôn loài vạn vật trên hành tinh này, trong đó có con người, v́ con người được xem như một loài động vật.

Nói đến cơi Trời tức là nói đến hành động thiện của con người, chứ không phải nói đến thế giới siêu h́nh, v́ thế Đức Phật nói: “Ta đến cơi Phạm Thiên như duỗi  cánh tay”. Lời nói này chúng ta phải hiểu đó là một trạng thái, một từ trường thiện hay ác, dục hay vô dục.

Bởi vậy, Niết Bàn là một chân lư có thật, v́ thế trong Tứ Thánh Đế, Diệt Đế là Niết Bàn, Niết Bàn là một trạng thái tâm diệt dục, chứ không có cơi giới Niết Bàn như các nhà Đại Thừa tưởng, vẽ ra và dựng lên nhiều cơi như: Nhị chủng Niết Bàn, Tứ Chủng Niết Bàn, Ngũ chủng Niết Bàn, v.v..

- Nhị Chủng Niết Bàn gồm có:

1- Hữu dư Niết Bàn

2- Vô dư Niết Bàn

- Tứ Chủng Niết Bàn gồm có:

1- Bản lai tự tính thanh tịnh Niết Bàn.

2- Hữu dư y Niết Bàn.

3- Vô dư y Niết Bàn.

4- Vô trụ xứ Niết Bàn.

- Ngũ Chủng Niết Bàn gồm có:

1- Cơi dục giới là nơi chứng quả mà mến mộ là Niết Bàn phàm phu thứ nhất.

2- Mến mộ tính vô ái của Sơ Thiền là Niết Bàn phàm phu thứ hai.

3- Mến mộ tâm vô khổ Nhị Thiền là Niết Bàn phàm phu thứ ba.

4- Mến mộ sự cực duyệt của Tam Thiền là Niết Bàn phàm phu thứ tư.

5- Mến mộ sự khổ lạc đều quên của Tứ Thiền là Niết Bàn phàm phu thứ năm.

Bởi vậy mùi vị giải thoát chỉ có một, chứ không hai, nó cũng giống như nước biển chỉ duy nhất có một mùi vị mặn mà thôi, nhưng các Tổ sau này bày vẽ và chia chẻ Niết Bàn ra nhiều loại để lừa đảo mọi người rằng ḿnh cũng chứng trong những trạng thái Niết Bàn.

 Làm sao bốn trạng thái Bốn Thiền là bốn Niết Bàn được, trong khi kinh sách Phật đă xác định rơ ràng: “Bốn trạng thái Tứ Thánh Định là bốn trạng thái cơi Trời” như:

1- Sơ Thiền Thiên

2- Nhị Thiền Thiên

3- Tam Thiền Thiên

4- Tứ Thiền Thiên

Thật sự các nhà học giả phát triển có nhiều ư thâm độc ác để đánh lừa Phật tử bằng nhiều cảnh giới Niết Bàn để biến dần trạng thái Niết Bàn thành cơi giới siêu h́nh Niết Bàn.

Trong kinh Duy Ma Cật, khi Thiên nữ rải hoa tán thán pháp môn bất nhị th́ hàng Bồ Tát như: Ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Thế Chí, Quan Âm th́ hoa không dính, c̣n ngược lại hàng Thanh Văn như: Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, Ca Chiên Diên, A Na Luật đều bị hoa dính đầy áo, đó là một việc làm của các Tổ soạn viết kinh sách phát triển với thâm ư hạ bệ các vị đại đệ tử của đức Phật, để làm sống lại thế giới siêu h́nh mà đă bị đức Phật  bóp chết từ khi đạo Phật có mặt trên hành tinh này.

Các vị đại đệ tử của Phật là một chứng cứ trạng thái Niết Bàn hiện tại trong cuộc sống hằng ngày và đến khi nhập diệt trạng thái đó vẫn không sai khác.

V́ có một chứng cứ cụ thể như vậy cho nên thế giới siêu h́nh bị diệt mất, thế giới siêu h́nh bị diệt mất th́ các tôn giáo trên hành tinh này không c̣n đất đứng, có nghĩa là không c̣n lừa đảo ai được nữa.

Hiểu biết rất rơ điều này nên các giáo sĩ Bà La Môn thừa nước đục thả câu, tức là thừa lúc Phật giáo không có người tu chứng, nên soạn viết kinh sách lồng vào giáo pháp của Phật để biến tu sĩ Phật giáo thành các tu sĩ Bà La Môn mà không hay biết, các tu sĩ này cứ ngỡ tưởng ḿnh là tu sĩ Phật giáo. Chúng tôi nói đến đây quư vị cứ suy ngẫm có đúng vậy không? Nếu đúng th́ quư vị tin, c̣n không th́ quư vị xem như đây là chúng tôi chưa từng nói những lời này.

Người ta hạ bệ các vị đại đệ tử của đức Phật bằng nhiều cách, trên đây là một cách trong kinh Duy Ma Cật và các kinh khác c̣n rất nhiều.

Như quư vị đă biết, giới luật của Phật là dạy sống trong những hành động đạo đức làm Người, làm Thánh. Ánh sáng đạo đức của Phật giáo như ánh hào quang khiến cho người đời đều tôn kính và quư trọng.

V́ thế, đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, nếu các Thầy giữ ǵn giới luật nghiêm túc th́ hàng cư sĩ Phật tử sẽ trải tóc cho các Thầy đi trên đó”. Thời nào cũng vậy con người ai cũng quư trọng và tôn kính đạo đức, chỉ có những tu sĩ phạm giới, phá giới sống bừa băi, ăn uống ngủ nghỉ phi thời, thường có những hành động vô đạo đức, nên mới lư luận phá giới luật của Phật, nhất là dựa vào những lời thêm bớt của các Tổ trong kinh sách, lấy cớ là Phật thuyết để mặc t́nh theo đó sống phóng dật chạy theo dục, thọ hưởng lạc thế gian mà các nhà học giả gọi đó là hợp thời.

Giới luật của Phật khiến cho hàng bạch y (cư sĩ) quá kính trọng. V́ thế, các giáo sĩ Bà La Môn ganh tị, muốn diệt giới luật của Phật, nên khi đức Phật tịch th́ họ lồng thêm vào những lời di chúc của đức Phật bằng câu kinh rất phi lư: “Này Ananda từ nay trở đi cho phép các Tỳ kheo tùy nghi bỏ các giới nhỏ nhặt” . Lời dạy này thật là phi lư, giới luật của Phật là những hành động đạo đức giải thoát cho ḿnh cho người, th́ có giới luật nhỏ nhặt nào phải bỏ, chỉ có những tu sĩ phóng dật chạy theo dục lạc thế gian, tham ăn tham ngủ mới dựa vào những lời di chúc giả mạo của Bà La Môn mà ngang nhiên sống phạm giới phá giới luật.

Người tu sĩ cũng như cư sĩ đệ tử của Phật sống mà không giới luật hay nói cách khác là khi thọ giới luật mà luôn lúc nào cũng sống phạm giới, phá giới th́ làm đệ tử của Phật làm ǵ ? Thà là đừng quy y Tam Bảo, đừng xuất gia, đă quy y Tam Bảo và xuất gia mà giới luật vi phạm th́ thử hỏi quư vị c̣n tu pháp môn ǵ của đạo Phật mà gọi là đạo Phật?

 Như đức Phật đă dạy: “Giới luật là trí tuệ, trí tuệ là giới luật”, đó là đức Phật nói đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người. Ngài dạy tiếp: “Ta nói giới luật là nói tâm ly dục ly ác pháp, Ta nói tâm ly dục ly ác pháp, đó là Ta nói thiền định”. Cho nên, “Ta nói giới luật là nói tâm không phóng dật, Ta nói tâm không phóng dật đó là Ta nói Niết Bàn”. Do đó, trước giờ phút lâm chung đức Phật di chúc: “Ta thành Chánh giác là nhờ tâm không phóng dật”. Như vậy, đức Phật thành đạo không phải là do giới luật hay sao? Vậy mà tu theo đạo Phật, giới luật không nghiêm túc th́ tu theo để làm ǵ? Có ích lợi ǵ? Có giải thoát ǵ đâu?

Giới luật là một pháp môn sống đúng, tu tập đúng là con người có đạo đức, có trí tuệ, có thiền định và có sự giải thoát ngay liền như những lời trên đức Phật đă xác định.

Nh́n lại sự tu tập của quư vị, quư vị có thấy ḿnh tu hành đúng hay không? Đúng sao quư vị không nếm được mùi giải thoát? Mùi vị giải thoát của đạo Phật như thế nào?

Sống không làm khổ ḿnh, khổ người là giải thoát; sống ly dục ly ác pháp là giải thoát; sống tâm không phóng dật là giải thoát. Những sự giải thoát trên đây không phải do giới luật mà có hay sao?

Thế mà thời nay người ta tu hành chỉ biết Thiền, Mật, Tịnh mà không biết giới luật th́ tu hành như vậy không thể nào đúng đạo Phật được. Người tu hành có giới luật là người có đạo đức, người có đạo đức  th́ không chấp nhận thế giới siêu h́nh, v́ thế giới siêu h́nh là thế giới phi đạo đức. Nếu tất cả tín đồ của Phật giáo đều sống đúng đạo đức th́ có cần ǵ phải cầu khẩn, phải cúng tế những ông Thần, ông Thánh tưởng tượng đó.

Người đệ tử của Phật sống đúng giới luật th́ c̣n ai lừa đảo họ được, v́ giới luật là trí tuệ “Giới luật ở đâu trí tuệ ở đó”, chỉ v́ tín đồ Phật Giáo sống không đúng giới luật, do sống không đúng giới luật nên ngu si không trí tuệ, mê muội bị ngoại đạo lừa đảo. Đến giờ này họ c̣n chưa thức tỉnh, chưa biết đâu là nẻo chánh nẻo tà, luôn luôn không thấy Thầy Tổ của họ sống không đúng giới luật, sống không trí tuệ, đang sống trong cảnh giới mơ hồ ảo tưởng (bùa chú thần thông, Phật tánh ảo tưởng, Cực Lạc Thiên Đường mơ hồ).

Tập 3 Đường Về Xứ Phật ,Thầy sẽ cố gắng làm sáng tỏ để mọi người hiểu biết rằng thế giới siêu h́nh không có, tuy rằng Thầy đă nhiều lần giải thích, nhưng có một số người quá cố chấp (kiến chấp theo kiểu tà kiến kinh sách phát triển) theo ngôn ngữ kinh sách phát triển mà không hiểu ư Phật .

Những ǵ chúng tôi nói ở đây là một sự cố gắng làm sáng tỏ mọi vấn đề để đem lại sự lợi ích và giúp cho mọi người thoát khổ, sống một đời sống đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người. Đạo Phật đến với mọi người là như thế, một sự an vui hạnh phúc thực tế và cụ thể không có mơ hồ, trừu tượng, ảo giác chút nào cả.

Bước thứ nhất chúng ta đă đạt được, th́ bước thứ hai đâu có khó khăn ǵ. Đức Phật đă nói: “Khi tâm định tỉnh, nhu nhuyễn  dễ sử dụng th́ nhập định không có khó khăn, không mệt nhọc, không có phí sức”.

Ở đây tâm định tỉnh và nhu nhuyễn  như thế nào? Tâm định tỉnh, nhu nhuyễn  là tâm ly dục ly ác pháp, tâm ly dục ly ác pháp là tâm sống đúng giới luật nghiêm túc, không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào cả. Nhờ giới luật nghiêm túc không phạm nên nhập định không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, chứ không như các pháp môn khác, tu tập thiền định măi mà chẳng nhập được thiền định ǵ cả chỉ rơi vào trạng thái tưởng mà thôi. Cuối cùng th́ chẳng có làm chủ sanh, già, bịnh, chết và chấm dứt luân hồi được.

Nếu cuộc đời tu hành mà sống không đúng giới luật th́ đừng đi tu, dù đi tu cũng chẳng ích lợi ǵ, chỉ phí uổng một đời mà thôi.

Đi tu mà phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới là những người diệt Phật giáo, phá nền đạo đức của Phật giáo, những người có tội lớn với nhân loại. Ngày mai lịch sử sẽ ghi và kết án những người phá hoại nền đạo đức này.

Những ǵ trong tập sách này, chúng tôi đă nói ra có ǵ c̣n sơ sót, không vừa ư xin quư vị vui ḷng suy ngẫm lại và sẵn ḷng bỏ qua cho, chúng tôi rất biết ơn.

Kính ghi,

Trưởng Lăo Thích Thông Lạc

Ngày 20 tháng 3 năm 2001

PHÁP HƯỚNG TÂM

Câu hỏi của Huệ Ân

Hỏi: Kính thưa Thầy, theo lời cô Út Diệu Quang đă dạy con, phải dùng pháp hướng tịnh chỉ thân bệnh, con đă nghe lời và tin ở cô. Khi đau nhức bất cứ chỗ nào trong thân con đều hướng tâm ám thị một hai lần làm cơn đau giảm thấy rơ ràng và hết đau. Con thấy pháp hướng tâm cô Út Diệu Quang dạy rất hay và xin Thầy chỉ dạy thêm cho con được rơ?

Đáp: Pháp môn Phật dạy, pháp nào cũng đều có hiệu quả tốt, nhưng do ở ḷng tin và sự siêng năng tập luyện chuyên cần là thấy kết quả, cho nên trong kinh thường dạy: “Pháp là cụ thể thiết thực không có thời gian”. Nếu đặt trọn ḷng tin ở pháp đó mà nỗ lực tu tập th́ có kết quả thấy được ngay liền. Và kết quả đó là giúp cho các con có ḷng tin không lay chuyển, người tu tập không kết quả ḷng tin lần lần biến mất, mà hễ ḷng tin biến mất th́ tâm thối chuyển, tâm thối chuyển th́ dễ bị lọt vào tà pháp, dễ bị người khác lừa đảo.

V́ thế, trong kinh sách của đạo Phật, khi bắt đầu thực hành th́ đức Phật thường nhắc nhở “Tín lực” là trên hết. Tín lực là ḷng tin mạnh mẽ để người tu sẽ đạt được đạo, người không có ḷng tin th́ tu chẳng kết quả tốt. Trong Ngũ Lực, Tín lực là pháp tu hàng đầu, nếu không đặt trọn ḷng tin ở giáo pháp của Phật th́ sự tu hành trở thành vô ích chẳng có kết quả ǵ, có ḷng tin th́ mới cố gắng tu tập, không có ḷng tin th́ tu cho có h́nh thức, chứ không có kết quả nữa.

Ví dụ: Như hiện giờ quư Thầy nương theo Thầy tu hành, trong khi đó tâm quư Thầy khởi nghi về Thầy một điều ǵ như: “Thầy dạy như vậy không biết Thầy có tu chứng hay không? Sao không thấy Thầy thể hiện thần thông? Sao không thấy Thầy ngồi thiền nhập định một hai tháng cho ḿnh xem, hoặc tịnh chỉ hơi thở để ḿnh tin thiền định đó có đúng như kinh đă dạy không ???”

Khi đă có tâm nghi như vậy, dù quư Thầy có ở đây nỗ lực tu hành cũng không có kết quả ǵ. Tại sao vậy?

Tại v́ mục đích tu hành của quư thầy không phải cầu giải thoát mà cầu thần thông, cầu thiền định, cầu được sanh về Cực Lạc, Thiên Đàng, Niết Bàn.

Như Đức Phật đă xác định: “Mục đích của Đạo Ta không phải chỗ giới luật, không phải chỗ thiền định, không phải chỗ trí tuệ, không phải chỗ thần thông v.v.. mà chỗ bất động tâm”.

Khi chúng ta tu hành theo Đạo Phật mà không xác định đúng vị trí và mục đích của đạo Phật th́ chúng ta tu tập sẽ rơi vào ngoại đạo. Người ta thường mong muốn một vị Thầy phải thị hiện thần thông phép lạ th́ người ta mới tu hành theo, bằng ngược lại người ta bỏ đi. V́ thế, đức Phật đă trả lời cho một vị Tỳ Kheo: “Ta có bao giờ bảo ngươi theo Ta tu hành th́ Ta thể hiện thần thông cho ngươi xem chăng? Các ngươi có tu hành th́ các ngươi được giải thoát, c̣n không tu hành th́ các người phải chịu khổ đau, chứ có lợi ích ǵ cho Ta mà Ta phải dụ dỗ các ngươi bằng thần thông”. Lấy thần thông dụ dỗ các ngươi tu hành là dẫn dắt các ngươi đi vào tà đạo; lấy thần thông dụ dỗ các ngươi tu hành là tạo tâm tham đắm của các ngươi càng to lớn và nhiều hơn, như vậy là đă đi sai đường của Phật giáo rồi.

Người nào đến với Thầy mà tâm không tha thiết tu tập cầu giải thoát, mà chỉ biết tu tập cầu thần thông th́ người ấy sẽ không sống chung với Thầy lâu dài. Tại sao vậy?

Tại v́ Thầy đến với đạo Phật là đến với sự cầu tu tập cho được tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

Tại v́ Thầy đến với đạo Phật là cầu tu tập sống được một đời sống không làm khổ ḿnh, khổ người, chứ không phải đến với đạo Phật cầu cơm ăn áo mặc hoặc danh lợi chùa to Phật lớn.

Tại v́ Thầy đến với đạo Phật là cầu tu tập cho được một tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự, chứ không phải cầu thiền định, thần thông và trí tuệ siêu việt.

V́ thế, ḷng tin nơi đạo Phật là tin nơi đạo đức nhân bản của Phật, chúng Thánh Tăng và Thánh Ni. Và tin nơi giáo pháp dạy toàn thiện của đức Phật. Do ḷng tin ấy mà sự tu tập của chúng ta có kết quả ngay liền như con đă tŕnh bày trên.

Quư Thầy nghi ngờ vị Thầy dạy ḿnh tu tập, th́ ḷng tin của quư Thầy đă bị đánh mất rồi. Ḷng tin mất là tu không có kết quả. Chỉ v́ mục đích và hướng tu của quư Thầy nhắm vào thần thông, chứ không phải mục đích và hướng tu vào sự giải thoát, cũng như các cô bên nữ khi c̣n ḷng tin và kính trọng nơi cô Diệu Quang, lúc các cô bị cô Út Diệu Quang đập th́ tâm các con dễ buông xả, dễ thanh thản, an lạc hơn, thấy tâm ḿnh giải thoát rơ ràng. C̣n khi mất niềm tin và không c̣n kính trọng cô Út Diệu Quang nữa th́ lúc bị cô đập th́ các cô và các con dễ bị tức giận và đau khổ, rồi sanh ra thù hận, ghét cay ghét đắng. V́ thế, lấy kinh nghiệm tu hành nơi bản thân của ḿnh th́ thấu rơ.

 “Ḷng tin là quan trọng đệ nhất trên bước đường tu hành”, thiếu ḷng tin th́ dù pháp có mầu nhiệm cũng thành dở phải không hỡi các con?

Tại sao cũng một pháp môn hướng tâm như lư tác ư, mà có người tu có kết quả tốt, mà lại có người tu không kết quả, đó là như thế nào? Có hai nguyên nhân:

1- Người nghe pháp môn như lư tác ư mà có ḷng tin rất sâu, tin không ǵ lay chuyển được ḷng họ, đó là trường hợp của con, trường hợp này là v́ đời trước con có tu pháp như lư tác ư rồi nên đă có một thời gian huân nó, bây giờ tu tập trở lại, và v́ vậy mà nó có hiệu quả ngay tức thời.

2- Người nghe pháp môn như lư tác ư, cũng tin mà tin chưa sâu, cũng tập tu, nhưng tập tu lấy lệ, tu tập không có bền chí, không có cố gắng, không có ráng sức, không có quyết chí, không có gan dạ liều sống chết với pháp môn này nên không có hiệu quả. Vả lại kiếp trước không có huân tu, chỉ có hiện tại trong kiếp này mà thôi.

Người tu sĩ và người cư sĩ muốn ly dục ly ác pháp, để tâm ḿnh được an vui, thanh thản và vô sự, th́ phải đặt trọn ḷng tin ở người Thiện hữu tri thức thân cận, nếu không đặt trọn niềm tin ấy, người tu sĩ và người cư sĩ tu hành khó có kết quả. Các con cứ thử nghĩ, nếu không tin người hướng dẫn ḿnh, mà cứ tu hành theo người đó th́ có kết quả ǵ? Mất công sức và mất th́ giờ vô ích.

Người Thiện hữu tri thức thân cận, họ luôn để ư đến ḿnh, biết ḿnh tu sai, tu đúng để chỉ bảo thêm, v́ hàng ngày họ tiếp duyên với ḿnh, họ đều có gợi ư thử thách, để xem ḿnh tu đến đâu, mà t́m cách chỉ dạy buông xả cho hết tâm phiền năo, đau khổ. Ḿnh không đặt niềm tin ở họ, th́ ḿnh tu không giải thoát và phải chịu lấy mọi sự đau khổ, chứ đâu phải ḿnh tu đem lại ích lợi cho họ, ḿnh tu tập đúng th́ có giải thoát ḿnh nhờ, c̣n tu sai ḿnh phải gánh chịu hậu quả, chứ người hướng dẫn có lợi ích chỗ nào đâu?

Con đă đặt trọn ḷng tin ở cô Út nên tu tập có hiệu quả rất cụ thể. Con cũng có nhân duyên với cô Út, ngay từ khi cô Út dạy đâu con tu đó, đó là do ḷng tin chân thật không c̣n nghi ngờ. Cũng như gần đây, cô Út dạy con tu tập hơi thở, tùy theo mức, con thấy thân con được an lạc và tâm con buông xả không c̣n lo lắng cho mấy đứa con nhiều nữa.

Ở đây, Hải Tâm (Mười) cũng có ḷng tin ở cô Út, nó xả tâm rất tốt, theo cô Út dạy về Định Niệm Hơi Thở, nghe theo lời dạy của cô Út, nó không tăng thời gian, v́ thế, sức tỉnh thức cao dễ điều khiển pháp hướng tâm đi sâu vào định tỉnh xả tâm mà không bị tưởng ma, có nghĩa tỉnh thức trong niệm thiện ác, nhờ đó mà tâm có ly dục và ly ác pháp nên không bị tưởng ma quấy phá.

Tuy ở đây, Hải Tâm chưa xả sạch hoàn toàn nhưng về xả tâm và hơi thở nó đă tu có đúng cách, nếu nó tiếp tục cố gắng tu tập và ǵn giữ giới luật nghiêm chỉnh nhất là hạnh ăn, hạnh ngủ, hạnh độc cư th́ sẽ tốt hơn nhiều. Tu tập như vậy không mất thời giờ mà kết quả giải thoát sẽ không c̣n lâu nữa. Nhưng phải nhớ kỹ, càng tu cao th́ ma chướng càng nhiều, càng tu cao th́ sự đổ vỡ càng dễ dàng, nên phải đề pḥng cẩn thận, nhất là hạnh độc cư pḥng hộ sáu căn.

Qua những câu hỏi đạo của Hải Tâm chứng tỏ nó đă biết cách tu đúng theo sự hướng dẫn của cô Út Diệu Quang và rút ra được nhiều kinh nghiệm bản thân xả tâm của ḿnh, nhưng phải lưu ư điều này, sự xả tâm phải được xả tận cùng, xả cho đến khi nào tâm không c̣n phóng dật th́ mới có an ổn được, nếu tâm c̣n phóng dật th́ nên đề cao cảnh giác, chứ đừng lơi lỏng mà hỏng chân, thất bại và có thể bỏ cuộc, cuối cùng không c̣n tu tập được ǵ cả.

V́ chính không xả tâm tham, sân, si được th́ bị ức chế tâm và ức chế tâm th́ rất khổ đau, nên phải tu tập đi đến tận cùng con đường giải thoát, đừng tu tập bỏ lỡ giữa đường.

Trên bước đường tu tập theo đạo Phật, mỗi hành giả đều phải có những kinh nghiệm riêng tư, rút ra từ bản thân trau dồi rèn luyện thân tâm của ḿnh, nhờ đó mới có thể đi đến kết quả giải thoát hoàn toàn làm chủ sanh, già, bệnh, chết.

Con hăy cố gắng thực hành cho đúng lời dạy của Thầy và thường trao đổi thưa hỏi pháp tu th́ thời gian c̣n lại của đời con không quá trễ. Các con của con cũng đă tự lo lấy đời sống tu hành của nó. Con đừng bận tâm luôn luôn tập tu định vô lậu để đoạn trừ tất cả ái kiết sử, th́ con mới đạt được sự làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

Con đừng bận tâm lo cho các cháu, hiện giờ chúng nó đang theo Thầy tu tập, Thầy xem chúng nó như những đứa con thân thương của ḿnh, Thầy không bao giờ bỏ chúng nó, con hăy yên tâm mà lo tu hành cho đến ngày chết mà vẫn giữ tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ. Nhờ đó, luôn luôn con cảm thấy tâm hồn ḿnh thanh thản, an lạc và vô sự. Đó là trạng thái mà chư Phật sau khi bỏ thân này đều ở nơi đó. Nếu con giữ được tâm ấy, khi chết con sẽ gặp chư Phật và Thầy.

Con hăy nghe lời Thầy dạy mà cố gắng đẩy lui các chướng ngại pháp trên thân, thọ, tâm, pháp của con th́ tâm con sẽ thành tựu tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Chỉ cần hai mươi bốn tiếng đồng hồ, tâm con đạt được trạng thái như vậy là con đă tu xong rồi, đó là tâm con đă chứng đạt chân lí, tâm con sẽ không c̣n phóng dật. Con hăy nghe đức Phật nhắc nhở chúng ta trong lời dạy cuối cùng trước khi nhập Niết Bàn: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật”, con hăy ghi khắc và nhớ măi câu này đừng quên con ạ! Thầy chúc con thành công trên đường về xứ Phật.

THÚ CHƠI HOA KIỂNG

Câu hỏi của Từ Hạnh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Tánh con ưa thích chơi hoa kiểng, biết đó là sai nhưng sao con không dừng được? Thưa Thầy có phải tại con thiếu nghị lực không?

Đáp:  Đúng vậy, biết việc làm đó sai mà không bỏ được là thiếu nghị lực.

Người nghiện rượu biết rượu là chất độc, làm hại đến cơ thể, sanh ra bệnh tật nhưng không bỏ được là người thiếu nghị lực, thiếu sức kiên tŕ, bền chí và nhất là vô minh không trí tuệ minh mẫn. Nếu nói một cách thẳng thắn hơn, đó là người ngu si, biết khổ đau mà không chịu bỏ để chịu khổ đau, đó là người ngu dại số một.

Một người bỏ hết cuộc đời đi tu theo đạo Phật mà không bỏ được chuyện nhỏ nhặt như vậy th́ đi tu theo đạo Phật chẳng có ích lợi ǵ cả, cũng như chúng ta đi tu theo đạo Phật biết tham, sân, si là ác pháp là khổ đau mà không chịu bỏ cứ ôm ấp trong ḷng, để mang cái địa ngục khổ đau đó măi măi. Biết độc cư là bí quyết tu thiền định mà cứ đi nói chuyện với người này và đến nói chuyện với người khác, không chịu bỏ đó là người không có nghị lực, người không có nghị lực làm ǵ tu thiền định được, làm ǵ đi theo con của đường giải thoát của Phật giáo được. Biết nói chuyện là sanh ra nhiều chuyện, nhiều chuyện th́ sanh ra phiền toái, phiền toái th́ sanh ra nhiều đau khổ. Và như vậy tu theo đạo Phật mà không bỏ được những lỗi lầm sai trái th́ có ích lợi ǵ cho ḿnh thà đừng đi tu c̣n hơn.

Những người thích nói chuyện là những người không xứng đáng là đệ tử của Phật, ngoài đời người ưa đem chuyện người này nói cho người khác biết hoặc đem chuyện người khác nói cho người này biết là những người không tốt, người ác, người nhiều chuyện, chúng ta là những người tu theo đạo Phật th́ hăy tránh xa những hạng người này, họ là những loại vi trùng độc sẽ giết chúng ta trên đường đạo.

Chuyện chơi hoa kiểng cũng vậy, đó là một tṛ tiêu khiển làm vui cho người già, nhưng họ là những người ngu si, không muốn ḿnh là người vô sự, người thanh thản và an lạc mà biến họ trở thành người nô lệ cho hoa kiểng. Đối với đạo Phật đó là một người vô minh ngu si không biết t́m sự giải thoát an lạc mà chỉ làm khổ ḿnh mà không biết c̣n lại làm khổ cây kiểng nữa.

Chơi hoa kiểng là một việc làm rất tội lỗi. Một cây kia đang sống tự do nơi ḷng đất, rễ chúng đang tự do muốn đi hướng nào cũng được. Đó là một sự sống hồn nhiên của những loài thảo mộc. Thế mà người ta đào gốc nó lên, rồi đem trồng trong một chiếc chậu cũng giống như ta nhốt một con chim trong lồng, con cá trong lu. Chúng chỉ c̣n là một vật làm đẹp mắt cho chúng ta xem chơi, chứ đời chúng không c̣n ư nghĩa ǵ cả. Chúng ta nhốt chúng trong chậu để làm đẹp mắt cho ta mà cả một đời đau khổ của chúng.

Người tu hành theo đạo Phật tâm từ bi của chúng ta há nỡ đành ḷng nào nh́n cảnh cá chậu chim lồng sao? Mọi vật đều phải có quyền sống b́nh đẳng như nhau và hồn nhiên trong môi trường sống thiên nhiên. Không ai có quyền làm mất sự sống b́nh đẳng hồn nhiên của muôn loài vạn vật khác phải không hỡi các con?

V́ sự sống của ta, ta không thể không ăn uống, nhưng ăn uống ta phải có ḷng yêu thương muôn loài, trong ăn uống càng cố gắng tiết kiệm sự khổ đau, sự chết chóc của muôn loài vạn vật, đó là để thể hiện ḷng thương yêu đúng ư nghĩa của đạo đức nhân bản – nhân quả làm người.

V́ thế tṛ chơi cây kiểng là một thú vui tao nhă của con người từ xưa đến nay, nhưng xét cho tận cùng th́ thú vui ấy là một điều làm tội lỗi, v́ có sự khổ đau nào bằng thân cá chậu chim lồng, một cây kiểng được trồng trong chậu, cũng giống như chúng ta thân như bị tù tội, bị giam cầm trong ngục tù phải không hỡi các con?

Ví dụ: Hiện giờ con đang sống tự do, muốn đi Đông, đi Tây, đi Nam, đi Bắc th́ mặc t́nh, bỗng nhiên có người bắt con giam vào trong bốn vách tường th́ con có khổ đau buồn rầu không? Mặc dù họ cho con ăn đầy đủ.

Nếu con thấy đó là một sự đau khổ chân thật, th́ con không nên chơi cây kiểng nữa con ạ! Có vui đẹp ǵ đâu khi mà loài cây bị giam cầm trong chậu và có sung sướng ǵ đâu khi mà con phải mất th́ giờ quư báu để chăm sóc bón phân tưới nước phải không hỡi con? Bởi vậy, khi nào được rảnh rang Thầy sẽ giải phóng những cây kiểng mà cô Diệu Quang đă mua đem về, giải phóng là trả cho nó trở về thiên nhiên với đất trời, nó sẽ có một sự sống hồn nhiên trong muôn loài vạn vật khác, nó sẽ có hạnh phúc vô cùng trong môi trường sống thân thương.

Một người tu theo đạo Phật lấy cuộc sống b́nh đẳng tự do của muôn loài không làm khổ ḿnh, khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh làm cuộc sống của ḿnh th́ hạnh phúc biết bao phải không hỡi con ?

CHẲNG THƯƠNG, CHẲNG GHÉT

Câu hỏi của Từ Hạnh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thật sự tâm con chẳng ghét bỏ ai, hễ ai làm sai quấy, không đúng kỷ luật của tu viện cũng như phạm những lỗi trong giới luật của Phật hoặc có ư chán nản tu hành, con báo cho cô Diệu Quang biết, để hướng dẫn họ tu tập tốt, nhưng qua rồi tâm con bị trạo hối và tự hỏi lại thân tâm, ḿnh đă tốt trọn vẹn chưa mà lại đi vạch lỗi người? Bản thân ḿnh có làm đúng như lời Thầy dạy chưa mà góp ư kiến giúp đỡ người khác?

Thưa Thầy, những việc này đă làm tâm con trạo hối, và muốn làm cho tâm không trạo hối con phải làm sao?

Đáp: Muốn phá tâm trạo hối, con phải dùng trí tuệ tri kiến giải thoát, muốn có trí tuệ tri kiến giải thoát th́ phải dùng Định Vô Lậu quán xét, tức là đặt niệm trạo hối trước mặt quán xét và tư duy cho thấu suốt:

1- Nếu người đó không phạm kỷ luật của tu viện, không phạm vào giới luật Phật mà v́ ḷng ganh tị nhỏ mọn một việc ǵ đó mà con vu khống cho bạn, đó là con trạo hối về tội lỗi.

2- Nếu bạn của con tu hành đúng cách theo lời dạy của Thầy hoặc cô Diệu Quang mà con đặt điều nói xấu bạn để Thầy và cô Út rầy mắng bạn, th́ đó là con trạo hối về tội lỗi mà con đă gây ra.

3- Người bạn đó tu hành tốt được nhiều kết quả, Thầy khen. Nếu con đặt điều nói xấu cho bạn con phạm kỷ luật tu hành như thế này, thế khác. Khi người này bị rầy oan ức th́ tâm con bị trạo hối. Sự trạo hối này là sự trạo hối chân chánh, v́ thế con phải dùng pháp tự sám hối hoặc phát lồ sám hối:

1 - Tự sám hối, con quỳ trước tượng Phật phát lồ những điều làm sai, vu khống bạn, xin đức Phật chứng minh từ đây về sau con xin từ bỏ không tái phạm lỗi này nữa.

2- Phát lồ sám hối, con đến trước một vị Thầy thanh tịnh giới luật tỏ bày những lỗi lầm của ḿnh, xin Thầy chứng minh cho con sám hối, từ đây con xin chừa bỏ, quyết tâm không tái phạm lại nữa.

Nếu con có phạm kỷ luật hoặc lầm lỗi những điều ǵ, th́ đều đến xin phát lồ sám hối th́ con sẽ không c̣n trạo hối.

Nếu bạn con phạm kỷ luật, tu hành không đúng cách, không chịu xả tâm, khởi tâm nghĩ ác pháp, tự tạo ḿnh khổ không giải thoát luôn luôn phiền năo, bất toại nguyện, hoặc lười biếng, tu chơi, ngủ li b́ hoặc làm động người khác, thích nói chuyện tào lao, hoặc thích làm Thầy dạy người khác tu hành. Con đem những việc này tŕnh lại Thầy hoặc cô Diệu Quang để kịp thời ngăn chặn và hướng dẫn bạn con tu hành cho tốt lại.

Điều này, con không có lỗi ǵ cả mà phải trạo hối. Tất cả tu sĩ và cư sĩ trong tu viện đều phải giúp đỡ lẫn nhau, bằng cách khiến cho bạn ḿnh phải tu tốt, tu đúng, mặc dù hiện tại bạn ḿnh bị cảnh cáo hay bị phạt hoặc bị đuổi, con cũng vẫn không có lỗi, “một con sâu làm rầu nồi canh” nếu một người bạn xấu sẽ làm xấu tất cả. Một người không tu được sẽ làm cho nhiều người không tu được, một người tu sai sẽ làm cho nhiều người đều tu sai.

Những điều con đă làm, là điều làm tốt, giúp cho mọi người trong tu viện bạn con và con đều tu hành càng ngày càng tốt hơn. Ngược lại, con che giấu những lỗi lầm đó, tu viện mỗi ngày một tệ hơn, các bạn con và chính con sẽ xem thường kỷ luật tu viện. Đó là sự thương hại không đúng cách mà con đă tự hại ḿnh, hại người không thấy, không trạo hối.

C̣n bây giờ con bị trạo hối là v́ con thấy bạn con bị phạt hoặc bị đuổi, bị cô Út la rầy mà con không thấy lợi ích về sau đối với bạn con cũng như cả tu viện.

Con sẽ tư duy và quan sát cái nào thiện, cái nào ác, một ông Thầy giáo đánh học tṛ là muốn cho học tṛ nên người tốt hơn là ghét nó, đánh học tṛ không có nghĩa là ông thầy giáo ghét học tṛ, mà thương học tṛ muốn cho nó nên người tốt, người giỏi. Cô Út cũng vậy, nhân quả của cô và các con là để các con xả tâm “tâm như cục đất”. C̣n những người bản ngă ác to lớn th́ làm sao tu theo đạo Phật được. Đạo Phật là đạo vô ngă ác pháp, hữu ngă thiện pháp. V́ thế, họ phải đành ra đi, dù có nuông chiều họ, nhỏ nhẹ với họ th́ họ cũng không tu hành được ǵ cả. Người gặp ác pháp mà tâm  phiền năo sân hận khởi lên mà không khắc phục được th́ đi tu chẳng ích lợi ǵ. Đạo Phật là đạo diệt ngă ác, xả tâm ác thế mà họ không diệt ngă, xả tâm th́ họ tu cái ǵ? Thiền định ǵ? Chẳng qua là một lớp áo h́nh thức tu hành mà thôi. Đời chẳng ra Đời, Đạo chẳng ra Đạo, uổng phí một đời người.

Khi quán xét như vậy, con đă thấu rơ được việc con làm là thương chứ không phải ghét, là thiện chứ không phải ác th́ con đâu c̣n trạo hối nữa, mặc dù bây giờ con sẽ bị người khác nói con xấu bằng cách này hoặc bằng cách khác. Cũng như Thầy v́ muốn độ người khác được an vui hạnh phúc chân thật, th́ mang tiếng ḿnh là người ác, người dữ. Ai không biết “ngọt mật chết ruồi” nhưng tu theo đạo Phật như vậy có thật chân giải thoát không? Hay chỉ là trốn chạy sự đau khổ của cuộc đời?

Những điều con làm tốt, làm thiện cho ḿnh cho người mà bạn bè gắn cho ḿnh những danh từ “bất hảo” th́ con nên lấy đó mà xả tâm ḿnh và vui vẻ chờ thời gian trả lời ai là người bất hảo.

Đến khi họ đă được giải thoát, xả được tâm, ly được dục th́ họ biết ơn con chừng nào.

Trên đời tốt xấu có ǵ đâu, chỉ do tâm ḿnh mà thôi! Ḿnh cứ làm tốt th́ mọi việc tốt sẽ đến với ḿnh, ḿnh làm xấu mà mong việc tốt th́ không thể được.

Thánh phàm không thể nh́n tướng bên ngoài mà xác định được, Thánh phàm là phải tự người đó thể hiện qua thân hành, khẩu hành, ư hành th́ thấy rơ ràng, chứ người khác khó mà đánh giá trị được. Thánh phàm không thể lấy thần thông, bùa chú và ngồi thiền nhập định mà gọi là Thánh phàm. Chỉ người nào tâm hết tham, sân, si là Thánh, c̣n có tâm tham, sân, si th́ không phải Thánh, là phàm phu, đó là Phật giáo đă xác định như vậy.

Ḿnh biết xả tâm ḿnh, làm tốt cho người khác tu hành được giải thoát, đó là sự an vui, hạnh phúc giải thoát cho chính ḿnh.

Do sự tu tập không đúng pháp độc cư, không đúng cách pḥng hộ sáu căn, không đúng pháp môn ngăn ác, diệt ác pháp nên dẫn đến chỗ kết bè, kết bạn, chia phe, chia nhóm. Cũng từ đó muôn pháp ác sanh ra, khiến cho cuộc sống của người tu sĩ và người cư sĩ giống như cuộc sống thế gian, cũng danh lợi, cũng hơn thua, ganh tị, cũng tham lam, trộm cắp, v.v.. không khác ǵ như ở ngoài đời và c̣n tệ hơn nữa là mặc chiếc áo cà sa, bôi nhọ Phật Giáo.

Mỗi một tu sĩ cũng như cư sĩ là mỗi thành viên trong đại gia đ́nh Phật giáo đều phải có bổn phận và trách nhiệm bảo vệ Phật giáo, bất luận kẻ nào dù là H.T, T.T, Đ.Đ Tăng, Ni cho đến chú Sa Di, Sa Di Ni phạm giới, phá giới đều được quyền cảnh cáo và đuổi ra khỏi cổng chùa, nếu những người phạm giới, phá giới mà không chịu ra khỏi cổng chùa th́ mọi người cư sĩ không cúng dường và không đến chùa đó nữa.

Có như vậy th́ Phật giáo mới hưng thịnh và nhờ vậy th́ Phật giáo mới không c̣n ai dám nghi ngờ và khinh chê.

Cũng như con hiện giờ dám nói ra những lỗi lầm của chị em khác, để kịp thời sửa sai, khiến cho chị em trở thành những bậc chân tu chân chánh trong đạo Phật. Mỗi lần có nói ra khi thấy chị em bị la rầy, bị phạt có khi bị đuổi th́ con lại trạo hối, tâm con bất an mà con không thấy việc làm của con là đúng, là v́ Phật Pháp, là v́ những người tu hành giải thoát. Bởi v́ việc làm của con là việc làm đem lại sự lợi ích rất lớn cho bạn con, cho con và cho Phật giáo. Tại sao vậy?

V́ để những con sâu mọt này trong Phật giáo sẽ khiến cho các con không tu tập được và mọi người cũng không tu tập được.

Những người hay nói chuyện, kết bè, kết bạn, tụ năm, tụ ba là những người xấu những người không tốt. Người tu hành theo Phật giáo, các con cần nên tránh xa những hạng người này, những hạng người này là ác tri thức.

Những người nhiều chuyện, lắm mồm là những người không thể tu theo con đường của đạo Phật được, biết ḿnh là người nhiều chuyện, lắm mồm th́ đừng có vào chùa tu hành mà làm tội cho những người khác không tu hành được và làm cho Phật Pháp suy đồi th́ mang tội rất lớn.

Nếu thấy khả năng ḿnh sống độc cư được th́ vào chùa mà tu tập, c̣n thấy sống độc cư  không được th́ đừng vào chùa, v́ vào chùa sẽ sinh ra rối loạn trong chùa th́ rất tội nghiệp.

Tóm lại, những việc làm của con là tốt, đâu có ǵ con phải trạo hối chỉ trừ con nói xấu người khác được mà con không giữ ǵn được th́ đó mới là sự trạo hối. Mới là sự đáng trách, mới là đáng khinh chê và đáng phỉ nhổ vào mặt con.

Nói người mà con giữ ǵn đúng, không hề vi phạm những lỗi lầm, đó chính con mới là người xứng đáng trong đại gia đ́nh Phật giáo, con mới là người đệ tử thân cận của Phật, con mới là người đáng tin cậy của Thầy và cô Diệu Quang.

CÁCH THỨC GOM TÂM

Câu hỏi của Từ Hạnh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Lúc này con gom tâm rất chậm từ 10' đến 15' mới gom được là tại sao?

Đáp: Gom tâm chậm là pháp hướng tâm c̣n yếu, tỉnh thức chưa cao và chưa biết cách thức gom tâm.

Cách thức gom tâm cũng không khó khăn ǵ lắm, nhưng phải thường xuyên tu tập những cách sau đây:

1- Phải thường xuyên đi kinh hành, phải biết đi kinh hành đúng pháp môn, đúng cách đi kinh hành, làm mọi việc phải biết làm mọi việc, hoặc ngồi tại chỗ biết ngồi tại chỗ, trong lúc ấy thường hướng tâm nhắc: “Tâm phải gom về thân hành, thân làm cái ǵ th́ tâm phải biết làm cái nấy, không được phóng dật ra ngoài, không được đi lang thang, không được nghe ngóng, phải gom về thân hành cho thật chặt”. Con nên tu tập tỉnh thức bằng pháp hướng này th́ kết quả con gom tâm rất nhanh.

2- Con nên theo phương pháp thở hơi thở chậm này để gom tâm. Trước khi thở hơi thở chậm con hướng tâm: “Tâm phải tập trung vào hơi thở tại nhân trung”, hướng tâm xong con hít vô chậm chậm cho đến khi không c̣n hít vô được th́ con bắt đầu thở ra và thở ra cũng chậm chậm cho đến khi hết thở ra được, th́ con thở trở lại hơi thở b́nh thường, sau khi mười hơi thở b́nh thường con đă thở xong th́ con thở trở lại hơi thở chậm chậm và nhẹ, trước khi thở hơi thở chậm chậm th́ con lại hướng tâm một lần. Cứ như thế mà con tu đến 30' th́ xả nghỉ.

Tóm lại, khi dùng hơi thở chậm th́ con gom tâm rất dễ dàng, không c̣n khó khăn. Nếu 10 hơi thở con thấy sức gom tâm c̣n yếu th́ con nên tu năm hơi thở b́nh thường và một hơi thở chậm, khi nào tâm con gom được th́ con chỉ thở hơi thở b́nh thường mà không cần thở hơi thở chậm và nhẹ nữa.

Con nên cố gắng tu tập, rồi báo cáo cho Thầy biết để chỉnh đốn lại cho đúng, khi tu tập đúng là có kết quả ngay liền, c̣n ngược lại có trạng thái nặng đầu, căng mặt th́ con hăy ngưng sự tu tập và hỏi lại Thầy để tu tập cho đúng đặc tướng. Chúc con tu tập tốt và thành công.

TÂM BUNG RA HOẶC RƠI VÀO VÔ KƯ

Câu hỏi của Từ Hạnh

Hỏi:  Kính thưa Thầy! Con gom tâm yên lặng chỉ 15' hoặc 20' th́ tâm con lại bung ra hoặc rơi vào vô kư. Thưa Thầy có cách nào an trú trong yên lặng và đừng để rơi vào vô kư không?

Đáp: Định diệt tầm giữ tứ con tu chưa được thuần thục, phải tu trở lại, luôn luôn phải giữ tứ trong câu pháp hướng: “Tâm phải gom trong hơi thở, hơi thở chậm và nhẹ”, trong khi ngồi tu con luôn nhắc câu trên đây, không cần đếm. Tu như vậy tâm sẽ không bung ra và không rơi vào vô kư.

C̣n một cách khác nữa là tâm con sẽ không bung ra và không rơi vào vô kư, con hăy đứng dậy ngay liền đi kinh hành 20 bước và ngồi xuống đếm năm hơi thở rồi đứng dậy đi kinh hành 20 bước, cứ thế tiếp tục tu tập măi cho hết giờ xả nghỉ.

Tu như vậy con nên ghi nhớ trong mọi hành động khi ngồi, khi thở, khi đứng dậy, khi đi kinh hành và khi hướng tâm con không được quên, nếu thấy mệt th́ tu ít giờ trở lại, không được tu tập quá sức.

C̣n một cách nữa là lúc nào con cũng đẩy lui các ác pháp trên thân thọ, tâm và pháp của con th́ tâm con tự gom vào hơi thở nên không có khó khăn, không có mệt nhọc. Đó là tâm không phóng dật.

Có tu như vậy tâm con sẽ không bị bung ra và không rơi vào vô kư; tu như vậy sẽ có một sức tỉnh thức đầy đủ để xả tâm và tâm định tỉnh luôn ở trong chánh niệm tỉnh giác. V́ thế, không có dục và các ác pháp tác động vào thân tâm con được.

HÔN TRẦM VÀ LƯỜI BIẾNG

Câu hỏi của Từ Hạnh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Bị hôn trầm và lười biếng con phải phá như thế nào?

Đáp: Gặp bệnh này con phải hết sức chiến đấu với nó, biết có trạng thái muốn nằm ngủ th́ không nên ngồi mà phải đứng dậy đi kinh hành liền không được chậm trễ, v́ chậm trễ lười biếng sẽ lôi con nằm xuống và tâm con sẽ có những lư luận rất tinh vi, để lôi con nằm hoặc ngồi tu, rồi ngủ.

Gặp bệnh này:

1- Con phải hướng tâm nơi bước chân đi và tác ư to tiếng: “Tâm phải luôn tập trung vào bước chân đi, không được xao lăng”.

2- T́m một bài kệ, một câu thơ thường nhắc đến sự chết và tất cả sự vô thường đau khổ của thân người để cảnh giác. Từ đó con quán xét đường tu hành của con hiện giờ tu hành chưa đến đâu mà lỡ vô thường nhân quả đến th́ lấy ǵ tiếp tục tu đây. Mất thân rồi biết c̣n có được thân sau nữa hay không? Khi tư duy như vậy rồi con lại đem thân ra suy nghĩ kế tiếp về nghĩa lư vô lậu hoặc về thân vô thường, bất tịnh, vô ngă và đau khổ.

Hoặc nhớ lại người cha thân yêu của ḿnh đă mất, ḿnh phải siêng năng tinh tấn tu tập để t́m thấy cha ḿnh sanh về đâu.

Tốt nhất muốn phá tâm hôn trầm thùy miên và lười biếng th́ con nên đi kinh hành 20 bước rồi lại ngồi tu 5 hơi thở, cứ tu tập như vậy măi chừng nào hết hôn trầm thùy miên và lười biếng th́ mới thôi, tu 5 hơi thở rồi đứng dậy đi kinh hành là phương pháp phá và diệt sạch hôn trầm tuyệt vời. Các con nên cố gắng tu tập th́ sẽ chiến thắng trong tay. Nếu hôn trầm thùy miên quá nặng th́ mỗi bước đi th́ mỗi tác ư to tiếng kèm theo như truyền lệnh: “Chân mặt bước! Chân trái bước!!!!”. Cứ mỗi lệnh là một hành động làm theo đúng lệnh. Lệnh truyền như tiếng thét. Có tu tập như vậy con mới phá được hôn trầm, v́ hôn trầm rất khó phá. Đừng để gục rồi mới đi kinh hành là quá trễ, vừa thấy dạng hôn trầm là đứng dậy ngay liền, chiến đấu liền, không được xem thường nó. Ngay từ lúc đầu phải chiến đấu tận lực th́ mới mong thắng được nó. Hôn trầm thùy miên là trạng thái tâm si của con v́ vậy nó rất khó trị. Tu hành thường bị nó cản trở nên rất khó dẹp, phải bền chí kiên cường, giờ giấc phải nghiêm chỉnh. Lúc nào cũng đề cao cảnh giác trạng thái lười biếng, hôn trầm, thùy miên, vô kư, hôn tịch, ngoan không v.v..

DIỆT TẦM [1]

Câu hỏi của Từ Hạnh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Làm cách nào để diệt được tầm hết hẳn, không c̣n trở tới trở lui nữa?

Đáp: Muốn diệt được tầm hết hẳn trong thời gian 30' hoặc 1 giờ th́ tu “định diệt tầm giữ tứ”. Lâu lâu tầm vẫn c̣n tái diễn là tu định diệt tầm chưa thuần.

Định diệt tầm chưa thuần mà vội xả tứ[2] nó có hai trường hợp xảy ra:  

1- Tầm không dứt, thường tái diễn trở lại.

2- Tầm chưa dứt sạch mà bỏ tứ thường xảy ra vô kư.

Muốn diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền mà Sơ Thiền chưa nhập được th́ làm sao diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền. Bởi v́ Nhị Thiền là bắt đầu thân định. Trong pháp tu hành về thiền định, tâm chưa định mà thân định th́ không bao giờ có được, họa may có định cũng chỉ là định tưởng mà thôi.

Định ly dục ly ác pháp chưa nhập được mà lo tu tập định diệt tầm tứ th́ đó chỉ là mơ mộng mà thôi.

Một người nhập được chánh định th́ người ấy phải sống đúng giới luật không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào cả, bởi từ giới luật thanh tịnh nó mới có đủ Tứ Thần Túc. Có đủ Tứ Thần Túc th́ mới diệt được tầm tứ nhập Nhị Thiền. Cho nên, giới luật không thanh tịnh th́ không bao giờ nhập Sơ Thiền được huống là Nhị Thiền.

Tại sao các con không diệt được tầm tứ nhập Nhị Thiền?

Tại v́ tâm các con chưa ly dục ly ác pháp, nói cách khác cho dễ hiểu hơn, tại v́ các con c̣n phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới, tâm chưa thanh tịnh giới.

Lấy giới luật mà xét th́ biết người nào nhập định và không nhập định rất rơ ràng và cụ thể, dù cho họ có ngồi thiền một hai ba ngày hoặc bảy tám ngày th́ đó là thiền tưởng, tà thiền, chứ không phải là chánh định của Đạo Phật.

Khi tâm thanh tịnh tức là tâm ly dục ly ác pháp xong th́ người này tu định diệt tầm giữ tứ, tức là khi tâm họ không c̣n phóng dật th́ họ t́m nơi gốc cây bóng mát nơi vắng vẻ, nơi không có người lai văng, họ ngồi kiết già lưng thẳng và khi tâm họ bắt đầu an lạc thanh thản và vô sự th́ họ dùng pháp hướng tâm: “Tâm phải diệt tầm” đến khi ta thấy tầm không c̣n nữa, nghĩa là ta c̣n thấy rơ bốn chi thiền của Sơ Thiền: tứ hỷ, lạc và nhất tâm th́ lúc bây giờ chúng ta mới tu định diệt tầm tứ… như trên Thầy đă dạy.

Phần đông người tu thiền thời nay, tu chưa xong lớp thiền này th́ vội tu lớp thiền khác, tu như vậy là tu sai không có lớp lang, tu lộn xộn, tu theo kiến giải tưởng giải của người xưa, v.v..

Khi tu tập Tứ Niệm Xứ, bốn chỗ: thân, thọ, tâm, pháp được sung măn th́ Tứ Thần Túc xuất hiện. Tứ Thần Túc xuất hiện th́ dùng ngay Định Thần Túc nhập các định không c̣n khó khăn, mệt nhọc, không c̣n phí sức tu tập, nhập định dễ như trở bàn tay, như lấy đồ trong túi.

BUỒN CHÁN

Câu hỏi của Mỹ Linh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Làm sao ngăn chặn được tâm buồn chán?

Đáp: Buồn chán là một trạng thái bi quan. Buồn chán là một trạng thái ngao ngán cho một sự việc ḿnh đang làm mà gặp thất bại. Muốn hết buồn chán con nên t́m hiểu tâm con đang buồn chán cái ǵ?

Khi đă rơ sự việc buồn chán con đặt niệm đó tư duy quán xét theo như cách tu “Định Vô Lậu”.

Nên trao đổi tâm niệm buồn chán với một Thiện hữu tri thức thân thương, người ấy sẽ giúp xả tâm niệm đó.

Buồn chán là một trạng thái khổ đau, nó là ác pháp. Người tu hành theo Đạo Phật nhất định không để tâm buồn chán và t́m mọi cách đẩy lui nó ra khỏi tâm, giúp cho tâm thanh thản, an lạc và vô sự. V́ lời dạy của Đức Phật luôn luôn phải: “Ngăn ác, diệt ác pháp”. Buồn chán là một ác pháp, ác pháp này rất độc nó có thể khiến con đi đến tự tử. Tự tử để không c̣n buồn chán, nhưng sự thật nó không phải vậy. Bởi v́ tự tử gây ra một tội lỗi rất lớn, tội giết người. Người chết trong tự tử là người chết trong đau khổ, chết trong đau khổ là chết trong địa ngục có nghĩa là người này bỏ thân này tiếp nối thân khác ngay liền đều gặp thân đau khổ và c̣n đau khổ hơn trong kiếp này nữa.

V́ vậy, buồn chán là một ác pháp tối độc hại, người tu theo đạo Phật phải đề cao cảnh giác đừng để tâm buồn chán, vừa thấy tâm hơi buồn là chúng ta đă hóa giải nó ngay liền.

Trên đường tu hành theo đạo Phật “chúng ta nên tu tập để nhàm chán đời sống thế gian, chứ không nên buồn chán”, v́ nhàm chán khác với buồn chán, buồn chán là v́ không thỏa măn được ḷng ham muốn, c̣n nhàm chán có nghĩa là đă từng trải đời, thấy đời là một sự khổ đau chân thật không có ǵ vui chỉ là một chuỗi dài thời gian toàn là sự vô thường và khổ đau.

Cho nên, buồn chán là một ác pháp cần phải diệt, c̣n nhàm chán là một diệu pháp giúp chúng ta thoát ra khỏi cuộc đời đầy sóng gió, ba đào.

Người tu hành theo Phật giáo mà để tâm buồn chán là người ngu si ôm ác pháp trong tâm để rồi tự giết ḿnh trong ác pháp, chết trong ác pháp ấy, người như vậy không xứng đáng là đệ tử của Phật. Người đệ tử của Phật lúc nào tâm cũng thanh thản, an lạc và vô sự. Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là hạnh phúc nhất trần gian.

MUỐN XẢ NHỮNG LỖI LẦM

Câu hỏi của Mỹ Linh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Người lầm lỗi tại đây, hoặc ra đi th́ phải chịu nhân quả đó. Nhưng muốn vượt qua, làm chủ được những nhân quả này, th́ phải thường xuyên tu tập những pháp môn ǵ?

Đáp: Nhân quả do tâm tạo ra tội lỗi (nhất thiết do tâm tạo). Muốn chấm dứt nhân quả tội lỗi th́ phải diệt ngă xả tâm, muốn diệt ngă xả tâm th́ phải tu Định Vô Lậu và Định Chánh Niệm Tỉnh Giác...

Do diệt ngă xả tâm, nên nhân quả không tác dụng được tâm, v́ thế gọi là vượt qua hay làm chủ nhân quả.

Khi đă làm lỗi ở đây, mà quyết tâm ở đây để xả tâm bằng cách tự răn nhắc tâm ḿnh không lầm lỗi nữa hoặc phát lồ sám hối với một vị Thầy tâm đầy đủ thanh tịnh và hứa khả cố gắng giữ ǵn không cho vi phạm những lỗi lầm đó nữa, đó là sự diệt ngă xả tâm. C̣n đi nơi khác để tu tập xả tâm th́ đó là một sự tránh né và sự tránh né tức là nuôi ngă và các ác pháp. Do đó, tội lỗi càng lớn mạnh hơn.

Tóm lại, muốn vượt qua nhân quả tội lỗi này th́ điều thứ nhất là phải tự giác sám hối và hứa khả với tâm ḿnh là phải từ bỏ những lỗi lầm ḿnh đă gây ra không c̣n tái phạm lại nữa.

Điều thứ hai là đến trước một vị Thầy giới đức thanh tịnh, nghĩa là vị Thầy đó không hề vi phạm một lỗi lầm nhỏ nhặt nào cả, phát lồ tất cả những lỗi lầm của ḿnh và nhờ vị ấy chứng minh cho ḿnh sám hối những lỗi lầm và hứa khả từ đây ḿnh không c̣n tái phạm những lỗi lầm đó nữa.

Có sám hối những lỗi lầm đúng cách như vậy th́ những tội lỗi mới được hóa giải, tâm hồn mới thanh thản, an lạc và vô sự.

Pháp Phật vi diệu và đặc biệt dù bất cứ ở nơi đâu mà đă làm tội lỗi th́ chỉ có tự ḿnh sám hối ăn năn chừa cải, hoặc bằng cách phải phát lồ với một vị Thầy thanh tịnh giới đức th́ tội lỗi mới được hóa giải.

TU ĐỊNH VÔ LẬU TRONG
TẤT CẢ HÀNH ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

Câu hỏi của Mỹ Linh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Từ nay con tu tập Định Vô Lậu nhiều hơn, có khi ngay cả trong giờ làm việc và cả giờ tối tu Định Niệm Hơi Thở có được không thưa Thầy?

Đáp: Được, càng tu tập Định Vô Lậu càng xả tâm nhanh chóng, càng thấy kết quả nhanh hơn:

1- Thân được an vui, thanh thản.

2- Tâm bất động như cục đất trước các đối tượng.

3- Tâm được chánh định, không rơi vào tà định (tưởng định).

4- Pháp hướng có hiệu quả và hiệu quả mầu nhiệm siêu việt lạ lùng.

Nhưng có một điều con cần lưu ư tất cả pháp hành trong Phật Giáo đều nhắm vào một mục đích duy nhất là vô lậu. Vậy lúc nào tu Định Vô Lậu để quán vô lậu; lúc nào tu Định Niệm Hơi Thở để quán vô lậu; lúc nào đi kinh hành để quán vô lậu; lúc nào làm việc để quán vô lậu; lúc nào tu Định Niệm Hơi Thở để tác ư vô lậu; lúc nào đi kinh hành để tác ư vô lậu, lúc nào làm việc để tác ư vô lậu, đó là những điều cần thiết vừa đủ để tu tập tâm vô lậu nhưng phải rất thiện xảo và phải luôn nhớ đừng quên, đây là cốt lơi trên đường tu tập giải thoát của đạo Phật.

Đọc trong thư con, th́ sự hiểu biết của con về Phật pháp chỉ mới trang bị cho sự bắt đầu những điều chân chánh để tu tập, nhưng c̣n áp dụng vào cuộc sống th́ lại là một điều khác.

Muốn có kết quả giải thoát thân tâm th́ phải:

1- Thường xuyên thưa hỏi mọi tâm niệm xảy ra của ḿnh để được thông suốt và hóa giải do người thiện hữu trí thức thân cận.

2- Phải siêng năng tu tập chánh niệm tỉnh giác trong tất cả mọi hành động và trong tất cả việc làm, không chỉ riêng tu Định Niệm Hơi Thở, mà c̣n phải tu luôn cả Định Vô Lậu. Nhưng phải lưu ư tỉnh giác không phải chỉ biết có tỉnh giác trong thân hành niệm nội và ngoại mà c̣n phải tỉnh giác trong chánh niệm, tức là biết hành động của thân, khẩu, ư của ḿnh đang làm việc ǵ thiện hay ác. Lại c̣n phải biết các pháp bên ngoài thiện hay ác để ngăn chặn và diệt, c̣n thiện pháp th́ tăng trưởng. Có như vậy mới được gọi là tỉnh giác trong chánh niệm của cuộc sống.

3- Siêng năng tu tập Định Vô Lậu, quán xét tư duy về đời sống là khổ, ḷng ham muốn là khổ, nhân quả là khổ, ái dục là khổ, sân hận là khổ, nhớ thương là khổ. Thân, thọ, tâm, pháp vô thường bất tịnh là khổ, thực phẩm bất tịnh thường ăn vào sinh ra bệnh tật, ái dục bất tịnh sinh ra dục lạc khiến tâm mê mờ tạo nhiều ác nghiệp là khổ v.v.. Quán tưởng nhàm chán cuộc sống thế gian là khổ, v́ vui đó rồi lại khổ đó, khổ đó rồi lại vui. Cuộc sống của con người giống như một vở tuồng trên sân khấu, không có ǵ bảo đảm.

4- Phải dứt khoát xả tâm cho thật sạch (tâm như cục đất) th́ mới mong có sự thanh thản, an lạc và vô sự.

Đó chỉ là mới có sự bắt đầu cho một cuộc sống biết tu hành, chứ chưa phải là thấm nhuần sự giải thoát. Cho nên “hiểu biết chỉ là một sự mới bắt đầu tỉnh thức cho một điều kiện nhân quả thiện để chuyển đổi nhân quả ác”.

CÓ SỰ ĐIỀU KHIỂN TRONG
HƠI THỞ LÀ CHƯA NHẬP ĐỊNH

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi hơi thở thật nhẹ, rất thông và dài, nhưng cũng có sự điều khiển phải không thưa Thầy?

Đáp: Khi hơi thở thông nhẹ và dài mà c̣n có sự điều khiển bằng pháp hướng hoặc bằng sự vận dụng th́ đó là đang tập tu nhiếp tâm, chứ không phải nhập định. Nhất là đang tu định diệt tầm giữ tứ th́ mọi sự điều khiển và sự hướng tâm là rất cần thiết cho định này.

Hơi thở nhẹ, dài và thông suốt, phải coi chừng hơi thở này là hơi thở tưởng, tức là tưởng tức, khi có tưởng tức xuất hiện ngay liền th́ có trạng thái khinh an. Đó là do công phu ức chế tâm mà rơi vào trạng thái của định tưởng.

Khi gặp hơi thở này th́ chúng ta cố nhớ tác ư: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra” hay “Quán tâm như đất tôi biết tôi hít vô, quán tâm như đất tôi biết tôi thở ra” hay “Tâm hăy ly dục ly ác pháp bất động tâm”

Nhờ có tác ư như vậy mà phá được tưởng thức, và đồng thời có lợi lạc rất lớn là xả được tâm ác, ĺa tham, sân, si là tâm có năng lực không tham, sân, si, năng lực không tham, sân, si là năng lực của tâm thanh tịnh, năng lực tâm thanh tịnh tức là phương tiện điều khiển thân tâm nhập các loại định sau này.

TRẠNG THÁI AN ỔN KHÔNG CÓ LIÊN TỤC

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi hơi thở bắt đầu quá nhẹ, đi vào trạng thái an ổn th́ khoảng 5' bung ra, khi bung ra khoảng 5', 10' mới an ổn trở lại. Kính thưa Thầy! Như vậy làm cách nào để nó được an ổn luôn luôn?

Đáp: Khi đă bắt đầu đi vào trạng thái an ổn, chỉ trong thời gian ngắn, không thể kéo dài ra được có ba trường hợp:

1- Xả tứ quá sớm.

2- Sức tỉnh thức chưa đủ để xả tâm có nghĩa là sự tỉnh thức chưa đủ để sống trong chánh niệm.

3- Lậu hoặc chưa sạch.

Đó là thiếu thiện xảo an trú trong an ổn, có người được 5' hoặc 10'. Có người được 30' lại có người được 1 giờ cho đến 3, 4 giờ lại bung ra.

Muốn được an trú kéo dài thời gian an ổn đó (yên lặng) th́ phải tu tập các định:

1- Định diệt tầm giữ tứ.

2- Định chánh niệm tỉnh giác.

3- Định vô lậu quét sạch lậu hoặc.

Nếu không tu ba loại định này cho thuần thục th́ trạng thái an ổn kia chỉ là một xúc tưởng hỷ lạc sẽ đưa hành giả vào một loại định tưởng (tà định) hoặc lúc có lúc không và trạng thái đó không được duy tŕ lâu bền.

Chính người tu thiền định ngày nay đều rơi vào trạng thái an ổn của các loại tà định này, nên sinh ra kiến giải, tưởng giải, từ đó ngă chấp to lớn xem như ḿnh đă chứng đạo (kiến tánh thành Phật, Phật mà chưa hết tâm tham, sân, si c̣n tham ăn, tham ngủ, tham tiền, tham bạc, tham sắc, tham danh, tham lợi, v.v..).

Tóm lại, khi tu thiền mà tâm chưa ly dục ly ác pháp hoàn toàn mà có trạng thái hỷ lạc, khinh an th́ nên đề cao cảnh giác coi chừng tu sai pháp rồi đó.

Điều cần thiết khi có cảm giác khinh an hay hỷ lạc th́ phải mau mau đến thưa hỏi với một Thiện hữu tri thức có kinh nghiệm trong sự tu tập này, để giải nghi cho, chứ đừng có tự ư tu tập th́ không tốt có thể xảy ra bệnh tật hoặc điên khùng như người mất trí.

CÓ TRẠNG THÁI AN ỔN
RỒI MỚI NHẬP ĐỊNH

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi ngồi thiền lần lần hơi thở đi đến nhẹ nhàng, vào trạng thái an rồi mới nhập được định. Có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Đúng vậy, nhưng đừng để tâm ở trạng thái “an lạc” mà phải ở trạng thái “yên lặng”.

An có nghĩa là khinh an, nhưng khinh an hiện giờ có là do ức chế tâm mà sinh ra, do ức chế tâm sinh ra th́ an đó là khinh an của tưởng, chứ không phải khinh an do ly dục ly ác pháp sinh ra, tu đến đây coi chừng nhập vào định tưởng, cần cảnh giác.

Khi nào nhập định là lúc bây giờ tâm phải ly dục ly ác pháp hoàn toàn th́ mới nhập đúng chánh định, c̣n tâm chưa ly dục ly ác pháp mà nhập định th́ phải đề cao cảnh giác tránh rơi vào các định tưởng như trên đă nói.

Hiện giờ, con nên tu Tứ Niệm Xứ trên Tứ Niệm Xứ để đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm; để khắc phục tâm tham, sân, si của con hơn là thiền định, v́ thiền định chân chánh của Phật sẽ không chấp nhận tâm chưa ly dục ly ác pháp.

Tâm c̣n giận hờn phiền năo mà muốn nhập định th́ đó là định của ngoại đạo, chúng ta hăy nghe Đức Phật dạy: “Ta thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành đều nhờ đó sinh ra”. Lời nhắc nhở này làm sao chúng ta quên được, làm sao chúng ta tu lạc vào thiền của ngoại đạo được phải không hỡi các con?

Vậy, tâm con hiện giờ c̣n như đống rác bất tịnh, tham, sân, si, mạn, nghi c̣n dẫy đầy ác pháp, th́ làm ǵ con nhập định được, nếu theo sự an ổn của tưởng kia mà nhập định th́ định ấy là tà định con ạ!

Nhập tà định có ích lợi ǵ cho bản thân con, có lợi ích ǵ cho mọi người khác đâu, tà định sẽ đưa con vào con đường tội lỗi, rồi đây tham, sân, si của con c̣n nhiều hơn.

1- Thứ nhất, con làm tội cho con v́ tâm ngă mạn, cống cao, khiến con có nhiều khổ đau và bất toại nguyện.

2- Thứ hai, con đường tu của con sai lạc rơi vào thiền tưởng, đó là bước đường cùng của sự tu tập.

Khi tu hành đúng pháp, tâm ly dục ly ác pháp th́ con cảm thấy ḿnh an lạc bất động trước các ác pháp, do đó tâm con giải thoát, dù bất cứ ai làm ǵ con, con cũng an nhiên không có mống tâm phiền năo, sân hận một chút nào cả, c̣n ngược lại th́ con khổ đau vô vàn.

Cho nên, sự tu tập có những trạng thái khinh an th́ đừng lưu ư đến nó mà hăy lưu ư đến pháp hành con đang tu tập và ôm pháp cho thật chặt như người vượt biển ôm phao, khi gặp sóng gió ba đào. Nếu buông phao là chết ch́m dưới biển, mạng sống như chỉ mành treo chuông. Người tu hành có khinh an hỷ lạc cũng giống như người ôm phao vậy.

NGỒI THIỀN LƯNG ĐAU,
NHỨC VÀ CHÂN TÊ CỨNG

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con tu một thời từ 25' đến 30', lúc gần hết giờ, c̣n khoảng 5' đến 10' con bị trạo cử ngồi không an, đau buốt cái lưng, nhức và tê cứng đôi bàn chân, chịu không muốn nổi, buộc con phải xả sớm hơn. Có khi con ám thị th́ nó hết, có khi lại không hết. Cúi mong Thầy chỉ dẫn cho con.

Đáp: Khi ngồi thiền, gần hết giờ bị đau, nhức, tê chịu không nổi, th́ con nên dùng pháp hướng mà nhắn nhủ như thế này: “Ta quyết định chết bỏ dù cho xương tan thịt nát, máu trong thân này có khô cạn, ta cũng chẳng bao giờ xả ra, ta quyết tu xem mày làm ǵ?”.

Khi ám thị xong câu này, con tiếp tục hướng tâm ra lệnh: “Sáu thức phải gom chặt vào tụ điểm, tâm phải định tỉnh trong thân cho chặt không được phóng theo thọ”. Khi hướng tâm xong, bắt đầu con vận dụng hơi thở chậm chậm và nhẹ từng hơi thở một, để cho tâm gom thật kỹ. Khi tâm gom chặt th́ con tác ư: “An tịnh thân hành tôi biết hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Tác ư như vậy được một lúc sau con không thấy đau và tê nữa.

Nhớ đừng động thân, phải giữ thân cho thật chặt dù có đau nhức đến đâu cũng giữ thân bất động và tâm phải bám chặt hơi thở th́ sẽ hết đau, đây là phương cách thứ nhất để chiến đấu với cảm thọ, c̣n phương cách thứ hai con phải thực hiện Tứ Niệm Xứ, trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp để khắc phục tham ưu, đẩy lui các chướng ngại pháp trên đó. Khi con gặp chướng ngại của Thọ th́ con không nên ngồi ráng thêm một phút giây nào cả mà phải đứng dậy đi kinh hành ngay liền, tâm con luôn giữ ǵn tỉnh thức khi đứng dậy, khi hướng tâm, khi bước đi giống như con đang ngồi tỉnh thức trong hơi thở vậy. Và như vậy con đă xả Thọ, con sẽ có cảm giác giải thoát ngay liền khi con đứng dậy không c̣n thấy tê và đau chân nữa, đó là tu theo pháp xả của Tứ Niệm Xứ, cho nên Đức Phật gọi là: “Trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu là vậy”.

Dưới đây là hai phương pháp tu hành:

1- Ức chế thân tâm để nhập định, phương pháp này rất nguy hiểm, dễ rơi vào tà định, dễ rối loạn thần kinh, dễ sinh ra những bệnh hiểm nghèo như tê, bại, xịu, v.v..

2- Xả các chướng ngại pháp để nhập định, phương pháp này bảo đảm hơn v́ có xả là có giải thoát, nên thân tâm nhập vào chánh định dễ dàng, không có khó khăn, không mệt nhọc. Tâm hồn từ bắt đầu tu cho đến khi xả không có một cảm giác khó chịu hay bất toại nguyện, luôn luôn thanh thản, an lạc và vô sự.

Tóm lại, người mới bắt đầu tu tập đều phải tùy theo đặc tướng của cơ thể, chứ không bắt buộc ngồi kiết già để chịu tê, đau nhức, c̣n bắt buộc ngồi kiết già chịu đau, tê nhức, nóng đó là mục đích rèn luyện nghị lực, can đảm, gan dạ, chịu đựng, bền chí v.v.. Và đó cũng là sự rèn luyện để chuẩn bị trên cuộc hành tŕnh đường xa.

LƯNG THỤNG

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi con ngồi lúc đầu th́ thẳng lưng, nhưng từ từ lại bị thụng xuống. Con sửa lại và ám thị “cái thọ hăy ngồi thẳng lưng, không được thụng xuống” có lúc nó nghe, có lúc nó không nghe, con lại tự nghĩ chắc con bị đau lưng phải không Thầy?

Đáp: Không phải lưng con đau mà là một thói quen hay thụng. Khi ngồi thiền con nên t́m chỗ tựa lưng cho thẳng, nhờ điểm tựa lưng đó, sau này con ngồi không có điểm tựa, lưng vẫn thẳng hết thụng, phải tập ngồi tựa lưng, một thời gian khá lâu rồi mới bỏ được.

Lưng thụng là v́ sức con ngồi ít mà ráng ngồi nhiều, ngồi lâu nên dễ bị thụng bị nghiêng, bị ngửa, v.v..

Lưng thụng mà con ám thị thọ là không đúng mà phải ám thị cột sống: “Cột sống phải thẳng đứng không được thụng” hoặc “Lưng phải thẳng đứng không được thụng”.

Nhưng con nên nhớ, khi hướng tâm như vậy th́ con phải cố gắng giữ ǵn lưng phải thật thẳng, đừng để thụng nữa, v́ để lưng thụng sẽ thành thói quen khó sửa.

Thầy chỉ có lời khuyên chân thật con nên ngồi ít lại, đi kinh hành nhiều là tốt, nhất là thiền định ở tâm ĺa tham, sân, si chứ không phải ở chỗ ngồi, ngồi chỉ là một h́nh tướng gom tâm dễ dàng, nhưng gom tâm không phải thiền định, gom tâm chỉ là một phương tiện để giữ tâm tỉnh thức mà thôi. Tỉnh thức không phải chỉ để tỉnh thức ở chỗ đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, hơi thở, v.v.. mà ở chỗ chánh niệm để luôn luôn lúc nào tâm cũng thanh thản, an lạc và vô sự.

NGỒI THIỀN BỊ KIẾN B̉

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi ngồi thiền, con thường bị kiến ḅ ray rứt khiến tâm con bất an, con phải làm sao thưa Thầy?

Đáp: Khi tâm chưa đủ định lực, con nên dùng tay phủi nhẹ, khi phủi xong th́ tâm con được an ổn liền.

Từ khinh an, lưng thụng, đến kiến ḅ v.v.. mà con đă tŕnh bày ở trên đều do sự hiểu lầm thiền định của Phật. Tuy rằng Phật có dạy khinh an, ngồi thẳng lưng, trạo cử, trạo hối, hôn trầm, thùy miên, vô kư v.v.. nhưng những điều này đâu có quan trọng mà quan trọng ở chỗ tâm ly dục ly ác pháp, ở chỗ tâm bất động, ở chỗ tâm không phóng dật.

Thầy xin nhắc lại để con đừng quên khi tu tập thiền định của Phật, không phải chỗ ngồi, nằm, đi, đứng, không phải chỗ hết vọng tưởng mà chỗ ngăn ác diệt ác pháp sanh thiện tăng trưởng thiện pháp hay trên Tứ Niệm Xứ đẩy lui các chướng ngại pháp, th́ dù đi, dù đứng, ngồi, nằm đều tu hành được cả, đó là những pháp hành để ly dục ly ác pháp; đó là những pháp hành để thực hiện đạo đức giải thoát; đó là những pháp hành để triển khai trí tuệ giới đức làm người làm Thánh; đó là những pháp hành thực hiện tâm bất động giải thoát. V́ thế khinh an, lưng thụng, kiến ḅ không phải là vấn đề làm tâm mất định.

SỰ TỈNH THỨC TỰ NHIÊN LÀ ĐỊNH

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi ngồi thiền sự tỉnh thức quá cao, cứ chăm chú theo dơi từng hơi thở một, không đi vào trạng thái lặng hoặc mơ mơ, màng màng ǵ hết. Thưa Thầy, sức tỉnh thức đó có thể đi vào định được không?

Đáp: Sức tỉnh thức đó là định tỉnh chánh niệm, nên không cần phải đi vào định tỉnh nào khác nữa, nhưng con phải hiểu, sức tỉnh thức đó không phải do ức chế tâm mà có được, sức tỉnh thức đó có được là nhờ tâm ly dục, ly ác pháp, nhưng không phải nh́n đăm đăm hơi thở, sức tỉnh thức đó là sức tỉnh thức rất tự nhiên không có sự bắt buộc và g̣ bó của những loại thiền ức chế tâm, mà do tâm không phóng dật, sức tỉnh thức đó là sự nhận biết nhanh chóng ra các ác pháp trong sát na (nháy mắt).

Muốn tâm không phóng dật th́ phải tu tập ngũ căn, tu tập ngũ căn th́ phải pḥng hộ năm căn, pḥng hộ năm căn th́ phải sống đúng ba đức ba hạnh của một bậc Thánh.

Ba hạnh gồm có:

1- Ăn

2- Ngủ

3- Độc cư

Ba đức gồm có:

1- Nhẫn nhục

2- Tùy thuận.

3- Bằng ḷng

Nhờ tu tập ba đức, ba hạnh này mà tâm không phóng dật, tâm không phóng dật là tâm tỉnh thức, tâm tỉnh thức này là một loại tâm tỉnh thức tự nhiên chứ không có ức chế như các loại thiền định khác.

HẠNH ĐỘC CƯ

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Giữ hạnh độc cư, chủ yếu là không nói chuyện, để khỏi bị động tâm hay là không thốt ra lời? Hoặc không cho ra hơi nhiều, v́ sợ mất đi sức thiền định?

Đáp: Độc cư không có nghĩa là câm, không nói chuyện, không thốt ra lời hay sợ mất hơi mà không nhập được định.

Độc cư có nghĩa là không tụ họp, không nói chuyện tào lao, chuyện phiếm, tập ít nói, lựa lời đáng nói mới nói, lời không đáng nói nhất định không nói.

Độc cư c̣n có nghĩa là Thọ Bát Quan Trai, Thọ Bát Quan Trai tức là tu tập học sống làm Phật trong một ngày.

Độc cư c̣n có nghĩa là nhập thất để sống cho ḿnh hay nói cách khác là để tẩy trừ những chướng ngại pháp trên thân, thọ, tâm và các pháp.

Độc cư chính là pḥng hộ sáu căn giữ ǵn không cho dính mắc sáu trần, đó là pháp đệ nhất tu tập ngũ căn.

Độc cư là Thánh hạnh, phàm phu không thể sống được, nếu phàm phu không tập sống Thánh hạnh th́ chẳng bao giờ nhập được Thánh Định, bằng chứng hiện giờ chư Tăng phạm giới, phá giới, v́ thế Thánh Định chỉ là những bài thuyết giảng suông.

Độc cư là bí quyết thành tựu Tứ Thánh Định, thế nhưng ai là người sống đúng hạnh độc cư, hơn 200 người về đây tu tập với Thầy, không có ai là người sống đúng, v́ thế chẳng bao giờ ly dục ly ác pháp được, tức là họ sống không pḥng hộ sáu căn hay nói cách khác là sống không hàng phục tâm, thường để tâm phóng dật, đó là hành động phá hạnh độc cư tâm ḿnh.

Người tu hành theo Phật giáo mà phá hạnh độc cư th́ tu hành phí công vô ích tức là tự phá hoại đời sống tu hành của ḿnh th́ đi tu làm chi cho mất công vô ích.

HƠI THỞ THIỀN ĐỊNH

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Theo con nhận xét riêng, bản thân của con, con thấy hơi thở thiền định nó khác với hơi thở b́nh thường. Hơi thở thiền định th́ có sự điều khiển chậm, nhẹ, dài và có lực. Thưa Thầy có đúng không?

Đáp: Hơi thở chậm, nhẹ, dài, có lực và có sự điều khiển là tu Định Niệm Hơi Thở có kết quả tỉnh thức, chứ không phải hơi thở là thiền định, mà cũng không phải có thiền định mà hơi thở sanh ra chậm, nhẹ, có lực và có sự điều khiển.

Tất cả những sự tưởng ra trạng thái thiền định như thế này, như thế khác đều là sai cả, đều là do tưởng. Có những trạng thái thiền xảy ra trong khi tu tập ức chế tâm không vọng tưởng là tà thiền, tà định của ngoại đạo.

Thiền định của Phật chỉ khi nào tâm ly dục ly ác pháp hay nói cách khác là tâm ĺa tham, sân, si th́ đó mới chính là thiền định của đạo Phật.

Như vậy khi tu thiền có trạng thái này trạng thái nọ, th́ phải mau mau xả tất cả những trạng thái đó, chứ đừng có cho nó là định tướng, th́ bước đường tu hành sẽ là bước đường cùng, tu hành chẳng đi đến đâu cả, chỉ uổng cho một đời tu hành mà thôi.

LÀM SAY MÊ QUÊN HƯỚNG
TÂM CÓ MẤT TỈNH THỨC KHÔNG?

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con thường có thói quen, làm công việc ǵ, làm mải miết cho xong, quên nhắc tâm tỉnh thức, như vậy có mất tỉnh thức không thưa Thầy?

Đáp: Làm mải miết cho xong mà không có suy tư và cũng không quên ḿnh đang làm là tỉnh thức, không cần hướng tâm.

Làm mải miết mà có suy tư là thất niệm (bị vọng tưởng).

Làm mải miết không có suy tư mà cũng không nhớ đang làm (làm theo thói quen) là thất niệm vô kư. Phải dùng pháp hướng nhắc tâm tỉnh thức.

Người ta hiểu lầm tu tập tỉnh thức chỉ biết có tỉnh thức trong hành động của thân hành động nội hay ngoại th́ điều đó sai không có ư nghĩa ǵ cả của sự tu hành.

Người ta tập tỉnh thức để tỉnh thức nhận biết được ác pháp để đẩy lui chúng ra khỏi thân tâm của chúng ta, để đem lại cho thân tâm chúng ta một sự thanh thản, an lạc và vô sự, đó mới chính là sự giải thoát của đạo Phật.

Bởi tỉnh thức không có nghĩa biết tỉnh thức mà tỉnh thức phải biết đâu là chánh niệm và đâu là tà niệm.

Như vậy sự tu tập tỉnh thức mới thực sự có ích lợi lớn cho ḿnh cho người, c̣n tu tập tỉnh thức mà chỉ biết tỉnh thức th́ đó là tu sai không ích lợi, mất thời giờ vô ích và mất công sức mỏi mệt.

MỘT NGƯỜI CHỨNG TỨ THIỀN,
ĐẮC TAM MINH CÓ KHI NÀO CHẾT BẤT NGỜ KHÔNG?

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Một người chứng đến Tứ Thiền, đắc Tam Minh có khi nào vô thường đến dẫn đi không thưa Thầy? Có nghĩa là cái chết đến bất ngờ họ không kịp làm chủ.

Đáp: Một người chứng Tứ Thiền, đắc Tam Minh là đă làm chủ sanh tử luân hồi th́ không có sự chết bất ngờ, v́ họ đă biết trước mọi nhân quả xảy ra, không thể có một vật ǵ che mắt tuệ Tam Minh họ được.

Khi nhập Tứ Thiền chứng Tam Minh th́ dưới đôi mắt tuệ của họ không c̣n có một điều ǵ mà họ không hiểu.

Không gian có trải dài, thời gian có chia cắt nhưng không thể v́ thế mà che mắt tuệ họ được, th́ làm sao có sự vô thường đến với họ th́nh ĺnh.

Người tu hành đến nơi đến chốn, họ đă làm chủ được sự sống chết, th́ không c̣n có một chướng ngại nào mà họ không thông suốt, chỉ có người tu chưa đến nơi đến chốn th́ chịu mờ mịt trước uy lực của nhân quả.

Tóm lại, người tu đến nơi đến chốn th́ không có sự th́nh ĺnh ngẫu nhiên, mà có sự chủ động từ sự sống đến sự chết.

CON CÁI LÀ NHỜ ĐỨC CHA MẸ

Câu hỏi của Từ Đức

Hỏi: Kính thưa Thầy! Theo tục lệ ông bà nói: “Con cái là nhờ đức cha mẹ”. Như cha mẹ hiền đức th́ con cái cũng nhờ đó ăn theo phải không thưa Thầy?

Đáp: Câu nói này rất đúng: “Con cái nhờ đức của cha mẹ” v́ có nhân quả thiện mới sanh vào nhà hiền đức, nhờ gương hạnh hiền đức của ông bà cha mẹ, nên con cái cũng trở thành hiền đức, nhờ hành động hiền đức của con cái mà nó được hưởng phước, nếu hành động nó làm ác hiện thời, khi nó thọ hết phước của đời trước đă gieo (vào nhà hiền đức) th́ nó phải thọ lấy tai ương của hành động hiện tại.

Ví dụ: Những đứa con được sanh vào nhà giàu có nhưng lại thích ăn chơi trác táng, rượu chè, bài bạc, x́ ke, ma túy, v.v.. không thích học hành, những đứa con này không thể lấy phước đức của ông bà cha mẹ mà che chở chúng được, do đó suy ra chúng ta biết phước báo là phải do chính con cái tạo ra, chứ không phải do phước đức của ông bà cha mẹ mà nó hưởng được,... nó chỉ hưởng được ảnh hưởng tốt của ông bà cha mẹ mà thôi, c̣n nó được chia gia tài của cải hoặc làm ăn khá giả đều do phước báo đời trước của nó nên mới sanh vào nhà giàu có và hiền đức.

Tóm lại, nếu một người được tái sanh vào nhà hiền đức là do tiền kiếp khéo tu thiện pháp, nếu trong kiếp hiện tại không theo gương đức hạnh của cha mẹ ăn hiền ở lành th́ ngay trong kiếp hiện tại đó cũng phải gặt hái những tai ương, họa khổ, v́ chính hành động bất thiện của con cái dù cha mẹ có hiền đức nhưng con cái vẫn phải thọ khổ. V́ thế, có những gia đ́nh hiền đức mà con cái chẳng hiền đức chút nào, thường nghiện ngập, x́ ke, ma túy, rượu chè, bài bạc, v.v.. Đây là môi trường tốt nhưng hạt giống xấu.

Ngược lại, có những gia đ́nh không hiền đức mà những đứa con ngoan tốt… chăm học, không tham lam trộm cắp, không rượu chè bài bạc, hút xách, không x́ ke ma túy… Đây là môi trường xấu mà hạt giống tốt.

Con cái nhờ đức của cha mẹ là nhờ cái gương đức hạnh để làm tốt theo, chứ không phải nhờ vào đức hạnh của cha mẹ mà thọ hưởng sự giàu sang phú quư.

Theo luật nhân quả ai làm thiện th́ hưởng phước báo, ai làm ác th́ phải chịu quả khổ, không ai giúp cho ai được. Dù là cha mẹ có thương con cách nào cũng không giúp được, nếu chính bản thân nó không ăn hiền ở lành, sống đời sống thiếu đạo đức th́ nó phải chịu lấy hậu quả xấu. Dù cha mẹ có ở hiền đức ǵ cũng không cứu nó được, chỉ trừ cha mẹ thiếu nợ nhân quả của nó, nên nó đến nó đ̣i, bằng cách phá của cải tài sản của cha mẹ tiêu tan.

Cho nên câu nói: “Con cái nhờ đức của cha mẹ”, nếu không khéo hiểu th́ câu này trở thành lời nói phi đạo đức nhân quả, khiến cho con cái dựa lưng vào cha mẹ mà không tự lực vươn lên trong nền đạo đức nhân bản nhân quả, th́ cuộc đời của nó chỉ là một cuộc đời khổ đau, tiêu cực.

LỠ TAY LÀM CHÚNG SANH
CHẾT TH̀ PHẢI LÀM SAO?

Câu hỏi của Diệu Tịnh

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thầy đă dạy chúng con tu tập trau dồi ḷng từ, bi, hỷ, xả, trong công việc làm hàng ngày lỡ tay làm chúng sanh đau khổ hoặc chết.

Trước cảnh đau khổ và chết của chúng sanh, con phải làm như thế nào để tránh sự trạo hối trong tâm con? Nhất là con đă xuất gia, để khỏi bị khuyết giới và nhân quả?

Đáp: Xưa, Đức Thế Tôn là người đi kinh hành nhiều nhất, ngay cả ban đêm, v́ thế làm sao không vô t́nh giẫm đạp lên chúng sanh.

Giới luật dạy không giết hại chúng sanh, tức là dạy không cố t́nh giết hại chúng sanh, chứ không phải dạy vô t́nh.

Tứ vô lượng tâm là dạy từ, bi, hỷ, xả là để đối trị tâm tham, sân, si, ngă mạn, nghi, chứ không phải dạy vô t́nh sát sanh.

Chánh niệm tỉnh giác định là dạy chúng ta tỉnh thức trong mọi hành động để tránh sự vô t́nh sát sanh. Có tỉnh thức làm sao vô t́nh sát sanh, chỉ thiếu tỉnh thức say mê công việc, hoặc làm cho rồi việc th́ mất tỉnh thức nên mới có trường hợp xảy ra vô t́nh sát sanh.

Người đi tu có tỉnh thức không bao giờ vô t́nh sát sanh.

Người làm mọi công việc có tỉnh thức cũng không vô t́nh sát sanh.

Chỗ nào có chúng sanh nhiều chúng ta nên tránh, dưới cỏ, dưới đất, ta rất ư tứ nhưng không thấy lỡ tay làm cho chúng đau khổ hoặc chết, khi làm lỡ tay như vậy, trước thể xác chúng sanh con hăy chấp tay lên trước ngực và xin ước nguyện cho chúng sanh đang chết được sanh làm người, được gặp Phật pháp, được gặp Minh sư, được tu hành đến nơi đến chốn, đừng sanh làm loài chúng sanh nữa.

Một hạt gạo, một củ khoai, một trái cây, chúng ta ăn để sống hàng ngày, đều có sự gián tiếp giết hại chúng sanh trong đó.

Người nông dân sản xuất gạo và thực phẩm cho sự sống của con người, họ phải giết hại các loài sâu bọ, côn trùng mà c̣n phải giết các loài chim, chuột và các loài cầm thú khác để bảo vệ thực phẩm mùa màng.

Tuy chúng ta không trực tiếp giết hại, nhưng chúng ta ăn thực phẩm là đă gián tiếp giết hại, bởi vậy có thân này là thân nhân quả nghiệp báo không thể nào thoát khỏi nhân quả, tuy là vô t́nh nhưng cũng phải đền nợ máu. Đời sống chúng ta không c̣n cách nào khác hơn khi ta đă là con người và chúng sanh đă là con vật. Nợ máu xương trong tiền kiếp, kiếp này gặp nhau tuy vô t́nh cũng phải trả vay, vay trả.

Đạo Phật dạy chúng ta những ǵ chưa thấu hiểu, phải thấu hiểu. Có thấu hiểu lư của Đạo ta mới vững tâm tu hành, nếu không thấu lư của Đạo, tưởng chừng như không thể nào tu hành nổi.

Mới nghe giới luật đạo đức hiếu sinh của đạo Phật chúng ta chỉ c̣n có nước nhịn ăn, nhịn uống, treo chân, treo tay, chẳng c̣n dám làm ǵ cả. Nhưng, tội do đâu mà có?

-       Do tâm mà có tội.

-       Tâm do đâu mà có?

-       Do dục mà có.

-       Dục do đâu mà có?

-       Do tham, sân, si mà có.

Mục đích tu tập của đạo Phật là đoạn dứt tham, sân, si, chứ không phải đoạn dứt sự vô t́nh sát sanh.

Khi nào tâm tham, sân, si hết là tâm đă bất động, mà tâm đă bất động th́ c̣n hoàn cảnh, đối tượng và sự việc nào làm họ đau khổ th́ làm sao gọi là có tội.

“Tánh tội vốn không do tâm tạo

Tâm bất động rồi tội có được không?”

Ở đây chúng ta đă hiểu được lư của Đạo nhưng c̣n tu hành phải như thế nào?

Tùy mọi hoàn cảnh, mọi việc làm, mọi đối tượng, cẩn thận, ư tứ, tỉnh thức để tránh vô t́nh sát sanh được ở mức nào tốt mức nấy. Đừng làm đại, làm đùa cho xong việc, mà hăy lấy việc làm thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm, tránh vô t́nh giết hại bằng sức tỉnh thức và pháp hướng tâm để quét sạch tâm tham, sân, si (vô lậu).

Người đời không biết tu, dù họ có tránh sát sanh hoặc vô t́nh sát sanh bằng mọi cách, nhưng tội khổ họ vẫn phải chịu.

Người tu biết cách diệt ngă, xả tâm, ly dục, ly ác pháp, dù tội họ có chất ngập cả không gian này, tâm họ bất động vẫn không thấy có tội. Tại sao vậy?

Tại v́ có tâm động mới có tội.

Mục đích tu hành là lo diệt ngă, xả tâm, chứ không đoạn dứt sự vô t́nh sát sanh nhưng phải cẩn thận, ư tứ, từng hành động để tránh sự vô t́nh sát sanh, đó là một hành động tu tỉnh thức tốt nhất.

Trước sự quằn quại đau thương của chúng sanh dưới bàn tay vô t́nh của ḿnh, chúng ta không thấy thương tâm sao?

Người tu sĩ Phật giáo phải lấy tứ vô lượng tâm thực hiện định chánh niệm tỉnh giác, nhờ đó mới đạt được tâm “vô lậu” và nhập được “Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định” một cách dễ dàng, không c̣n khó khăn nữa.

Đừng tu tập theo kiểu Tịnh Độ một cách giả dối gian ác và lừa đảo mọi người. Tay cầm dao cắt cổ gà miệng đọc chú văng sanh: “Nam Mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ...”. Đọc thần chú này khi con gà bị chết, linh hồn sẽ được về Cực Lạc Tây Phương, để được sanh làm người, thật là lừa đảo, dối người.

Những người tu theo Tịnh Độ với việc làm như vậy được xem là thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm “Từ, Bi, Hỷ, Xả” ư!

Thời nay, người xuất gia làm nhiều việc không phải việc của người xuất gia, nên thường phạm tội lỗi, nhất là tội sát sanh, ngày xưa người xuất gia chỉ duy nhất có một nghề khất thực, v́ nghề đi khất thực nên ít phạm lỗi lầm, do đó tập tu Tứ Vô Lượng Tâm rất dễ dàng, chỉ cần tỉnh thức trên từng bước đi của ḿnh là đă thực hiện được tâm từ, bi, hỷ, xả.

BẰNG CÁCH NÀO KIẾP SAU
GẶP ĐƯỢC CHÁNH PHẬT PHÁP

Câu hỏi của Diệu Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Nếu kiếp này con không tu giải thoát được, nhưng có hiểu chút ít chánh pháp, làm thế nào để kiếp sau con vẫn nhớ và ngộ đạo được sớm hơn (6,7 tuổi) đi tu?

Đáp: Nếu muốn kiếp sau gặp được chánh pháp tu hành, th́ kiếp này mỗi tháng con nên chọn một ngày Thọ Bát Quan Trai.

Thọ Bát Quan Trai là phương pháp học làm Phật một ngày, chỉ một tháng có một ngày làm Phật th́ đó là gieo duyên với chánh Phật Pháp để kiếp sau c̣n có duyên gặp được Chánh Phật Pháp, đức Phật ví dụ như cây cổ thụ kia, nó nghiêng về hướng nào th́ bóng nó nghiêng về hướng nấy.

Thọ Bát Quan Trai là phương pháp tu tập giữ ǵn giới đức Thánh Tăng, nếu một ngày tu tập Thọ Bát Quan Trai, chịu khó con tư duy lại xem có phải ngày ấy là một ngày con ly dục ly ác pháp chăng? Có phải ngày ấy là ngày con sống cho con phải không ? Nếu ngày ấy con tu hành đúng pháp của Phật th́ con t́m thấy được một ngày giải thoát hoàn toàn.

Ngày Thọ Bát Quan Trai mà con biết buông xuống hết những ǵ đang trói buộc trong con, th́ con t́m thấy một chân trời hạnh phúc tại ngay đó.

Ngày Thọ Bát Quan Trai là ngày con gieo nhân với chánh Pháp của Phật, ngày ấy không bao giờ mất.

Ngày Thọ Bát Quan Trai là ngày con thắp sáng ngọn đèn trí tuệ giải thoát trong con, và ngọn đèn trí tuệ ấy cháy măi cho đến khi con hoàn toàn chấm dứt sanh, tử, luân hồi vào Niết Bàn.

Như vậy ngày Thọ Bát Quan Trai là ngày quan trọng nhất của đời người cư sĩ của các con, nó là một mốc quan trọng quyết định cho cuộc đời tu hành theo Chánh Phật Pháp. Các con hăy ghi nhớ những lời dạy trên đây, nhưng các con cũng phải đề pḥng, v́ có những loại Thọ Bát Quan Trai giả, lừa đảo mà không đúng chánh pháp của Phật.

Ví dụ: Thọ Bát Quan Trai bằng cách tụng kinh, niệm Phật, tŕ chú, ngồi thiền nghe thuyết pháp... đó là Thọ Bát Quan Trai của Bà La Môn.

Thọ Bát Quan Trai đúng cách của Phật giáo th́ không được tập trung đông người vào Thiền đường, Tổ đường, Đại hùng bảo điện, mà chỉ mỗi người ở riêng một cái thất, sống độc cư, pḥng hộ sáu căn và tu tập Tứ Niệm Xứ đẩy lui các chướng ngại pháp trên bốn chỗ: thân, thọ, tâm, pháp, khiến cho thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự suốt ngày hôm ấy, giống như Phật và chúng Tỳ kheo Tăng và Tỳ kheo Ni ngày xưa trong thời Phật c̣n tại thế. Có tu tập đúng như vậy mới gieo duyên với Chánh Pháp. Nhờ đó, muôn đời ngàn kiếp không sợ mất chánh pháp.

NHẬP TAM THIỀN
CÓ HẾT LẬU HOẶC CHƯA?

Câu hỏi của Diệu Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi một vị Tỳ Kheo nhập được Tam Thiền có thể hết lậu hoặc chưa (không c̣n tham, sân)?

Đáp: Trong kinh dạy một vị Tỳ Kheo nhập được Tam Thiền mới đoạn dứt năm hạ phần kiết sử c̣n năm thượng phần kiết sử chưa đoạn, v́ thế lậu hoặc chưa hết. Một người nhập Tam thiền mà chưa có Tứ Thần Túc là người nhập Tam thiền của ngoại đạo, riêng kinh nghiệm bản thân của Thầy, một vị Tỳ Kheo nhập được Sơ Thiền là ly được “tâm dục”, c̣n nhập được Tam Thiền là ly được “tưởng dục”, tuy gốc lậu hoặc chưa quét sạch, nhưng cũng t́m thấy sự an ổn bất động của tâm. Chỉ khi nào chứng Lậu tận minh th́ lậu hoặc mới thật sạch, chừng đó mới chấm dứt được sự tái sanh luân hồi.

Khi nhập Tứ Thiền nơi đây có hai ngơ diệt sạch lậu hoặc, một ngơ đi về Tam Minh và một ngơ đi về Diệt thọ tưởng định, nếu đi về ngơ Diệt thọ tưởng định th́ thân tâm như cây đá, thân giống như người chết nhưng không hoại diệt, nhờ từ trường định của diệt thọ bảo vệ th́ trong lúc nhập Diệt Thọ Tưởng Định không có lậu hoặc.

Đi ngơ Tam Minh th́ thân tâm giống như người sống b́nh thường nhưng bất động trước các ác pháp, tâm luôn lúc nào cũng thanh tịnh và thanh thản, an lạc, vô sự. Sống, chết, bệnh, đau là việc vô thường của nhân quả không tác động được thân tâm họ. Họ sống một đời sống c̣n lại những ngày an vui tuyệt vời.

NGƯỜI GIẢNG THIỀN THÂM SÂU
CÓ PHẢI VƯỢT QUA NĂM ẤM CHƯA?

Câu hỏi của Diệu Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Một vị Tỳ Kheo thuyết giảng thiền rất thâm sâu, tâm vượt năm ấm tường tận, có phải vị ấy đă trải qua kinh nghiệm tu mà nói lên?

Đáp: Một vị Tỳ Kheo nhập Tam Thiền không thể vượt qua năm ấm được, chỉ có nhập Diệt thọ tưởng định mới vượt qua năm ấm.

Một vị Tỳ Kheo thuyết giảng thiền rất thâm sâu về lư, nhưng không trải qua kinh nghiệm tu hành mà nói lên, nên phần nhiều lạc vào tưởng pháp do tưởng tuệ. Sự giảng kinh thuyết pháp rất hay, nhưng xét cho cùng chỉ là một lư thuyết suông ở đầu môi chót lưỡi, nên pháp hành tu tập không thông, tu tập sai pháp, không có kết quả. V́ thế, họ chưa bao giờ nhập định được.

Trong kinh sách Phật có dạy sáu loại tưởng: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tưởng, người tu thiền định lạc vào định tưởng, pháp tưởng triển khai, luận thiền, luận đạo rất là thâm sâu về lư, nhưng pháp hành không vững. (Thiếu kinh nghiệm bản thân chỉ vay mượn trong kinh sách nói hoặc tưởng theo chữ nghĩa giảng dạy ra có khi đúng nhưng cũng có khi sai). Những ǵ của các nhà học giả giảng ra theo tưởng giải th́ không thể nào tu tập được v́ thiếu kinh nghiệm tu.

Thiền Đông Độ và kinh sách Đại Thừa đều do tưởng giải của người xưa nên chúng ta tu tập không đưa đến kết quả rốt ráo được, định cũng không ra định, tuệ cũng không ra tuệ, cuối cùng chỉ trở thành một tṛ hư luận, chứ chẳng thấy có ai làm chủ sanh, già, bệnh, chết cụ thể.

Bởi v́, các thiền sư thời đại của chúng ta nói nhiều, mà bệnh đau th́ đi nằm nhà thương, bác sĩ trị, th́ thử hỏi làm sao chúng ta tin miệng họ được.

Người tu thiền Đông Độ sống v́ danh, v́ lợi nên luôn luôn tranh luận hơn thua và c̣n dùng những danh từ nói xấu kẻ khác, trong khi đó tu hành chỉ có h́nh thức mà chẳng có ai nhập định làm chủ sanh, già, bệnh, chết được.

Xưa, đức Phật từng đă nhắc nhở chúng ta: “Đừng có tin... đừng có tin... mà hăy tin những ǵ chúng ta thực hiện có lợi ích không làm khổ ḿnh, khổ người”. Cho nên, người ta thuyết giảng hay chưa hẳn họ đă làm được hay.

TAM MINH

Câu hỏi của Diệu Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Trong băng Thầy phủ nhận không có Lục Thông và Tam Minh. Qua suốt giáo án chúng con ngầm hiểu Thầy có được những điều ấy. Tại sao Thầy không nhận để nó là linh hồn, là niềm tin vững chắc của giáo án? Con nhớ Phật c̣n bảo: Ta đă chứng được Tam Minh, lậu tận ta đă hết.

Đáp: Thầy phủ nhận Tam Minh, Lục Thông là v́ thần thông không phải là mục đích tu hành giải thoát của đạo Phật. Một người tu hành làm chủ được sự sống chết và chấm dứt luân hồi th́ Tam Minh, Lục Thông họ phải đầy đủ, nhưng v́ nó không phải mục đích, nếu dùng nó th́ người ta đến với đạo Phật sẽ sai mục đích, mà đă sai mục đích th́ không bao giờ làm chủ sanh, già, bệnh, chết được. Nếu không làm chủ sanh, già, bệnh, chết được th́ Tam Minh, Lục Thông cũng chẳng bao giờ có, và nếu có th́ cũng chẳng có nghĩa lư ǵ cả.

Phật là đấng giáo chủ, Ngài tuyên bố thần thông như vậy là để đối phó với ngoại đạo. Các đệ tử của Ngài không được tuyên bố như vậy. Kinh Đại Thừa dạy: “C̣n thấy ḿnh chứng quả A La Hán là chưa chứng quả A La Hán”. Đó là lối lư luận lừa đảo của Đại Thừa che đậy khi tu hành chưa đến nơi đến chốn. C̣n Phật giáo Nguyên Thủy tu đến đâu chứng đến đấy, tâm có tham th́ biết tâm có tham, tâm không tham th́ biết tâm không tham; tâm có sân th́ biết tâm có sân; tâm không sân th́ biết tâm không sân; tâm có Tam Minh, Lục Thông th́ biết tâm có Tam Minh, Lục Thông; tâm không có Tam Minh, Lục Thông th́ biết tâm không có Tam Minh, Lục Thông. Và biết sử dụng đúng thời, không bị lợi danh làm mờ tâm trí, do đó Thầy phủ nhận không tự xưng ḿnh có Tam Minh, Lục Thông mà chỉ biết có sự giải thoát mà thôi.

Thầy không dụ dỗ người theo Thầy tu hành bằng thần thông, ai thấy con đường tu hành của Thầy là phương pháp sống đạo đức giải thoát không làm khổ ḿnh, khổ người th́ theo, c̣n không muốn sống đạo đức nhân bản - nhân quả th́ Thầy không ép, không mời, không lôi cuốn bằng những kinh sách nói láo, bằng sự mê tín, bằng bùa chú thần thông, v.v..

Trên đường tu tập thiền định để đi đến sự cứu cánh th́ phải đi ngang qua Lục Thông Tam Minh nên biết nó rơ ràng nhưng không phải v́ tu để chứng nó. Nó không phải là mục đích để chúng ta chứng, mục đích tu chứng là tâm bất động.

Xay lúa, có gạo và trấu, gạo chúng ta lấy, trấu chúng ta bỏ.

Thần thông ví như vỏ trấu c̣n tâm bất động là gạo, cho nên tu tập theo Phật giáo tâm không được tham đắm thần thông, c̣n tham đắm thần thông là không bao giờ tâm ly dục ly ác pháp được, tâm không ly dục ly ác pháp th́ không bao giờ nhập chánh định được mà không nhập được chánh định th́ không bao giờ có Lục Thông, Tam Minh.

Người chưa ly dục ly ác pháp mà nhập được định đó là tà định, v́ thế, họ có Ngũ Thông chứ không được Lục Thông, Tam Minh như người tâm ly dục ly ác pháp.

Người tâm chưa ly dục ly ác pháp dù họ có Ngũ Thông, có nhập định để lại nhục thân, nhưng không làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi được.

Thần thông không phải cốt tủy và niềm tin của đạo Phật. V́ Thầy tu hành có thần thông nhưng Thầy xem nó là một tṛ ảo thuật để dễ lừa đảo người khác.

Xưa, ông thân của Thầy là một tu sĩ Mật Tông, ông lên núi Bà Đen và sang núi Cậu tu luyện thần thông rất linh diệu và mầu nhiệm, ông đă truyền lại cho Thầy tất cả mật chú, nhưng Thầy không phải là kẻ lừa đảo và ác độc, nên Thầy quyết tâm đi t́m đường tu tập giải thoát ra khỏi mọi sự đau khổ của kiếp làm người.

Chung quanh chùa nơi Thầy đang ở lúc bấy giờ toàn là một hàng rào tre, đến mùa măng mọc người chung quanh xóm nghèo khổ lén vào cắt trộm măng, ông thân Thầy dùng bùa chú yểm, khiến cho người vào đến ranh giới chùa là bất động đứng như trời trồng, ông thân của Thầy chỉ c̣n ra bắt và khuyên không nên trộm cắp, nếu c̣n trộm cắp măng th́ ông thân Thầy sẽ đưa đến làng xă, khiến cho người ta quá sợ.

Bùa chú của ngoại đạo mà c̣n mầu nhiệm như vậy huống là tâm ly dục ly ác pháp, thanh tịnh hoàn toàn th́ sự mầu nhiệm của tâm không thể lường được, v́ thế người tu sĩ Phật giáo đi tu không cầu mong Lục Thông Tam Minh mà vẫn có đầy đủ Lục Thông Tam Minh, không tu luyện Lục Thông Tam Minh mà vẫn có Lục Thông Tam Minh đầy đủ.

Người đi tu theo Phật giáo mà c̣n có tâm cầu Lục Thông Tam Minh th́ đă tu sai đường. Hăy xa ĺa và đoạn trừ tâm đó mà chỉ cố gắng tu tập sống một đời sống ly dục ly ác pháp, th́ nơi đó là Niết Bàn, là hạnh phúc, là sự giải thoát của một kiếp làm người, là đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người. Thế là đủ lắm rồi, có c̣n mong muốn những điều ǵ hơn. Phải không con?

Cho nên, Thầy biết đủ thứ thần thông, nhưng Thầy không chấp nhận thần thông và thế giới siêu h́nh, luôn luôn lúc nào Thầy cũng muốn đem lại cho con người một nền đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ ḿnh, khổ người, đó là một sự lợi ích thiết thực, c̣n thần thông chỉ là một tṛ lừa đảo, làm khổ người. Chẳng hạn như ông thân của Thầy, nếu ông thân của Thầy vắng mặt, không có ở chùa th́ các con nghĩ sao? Khi người trộm cắp măng này bị bùa chú bắt cứng ḿnh th́ họ sẽ khổ biết dường nào!

Trên cuộc đời này, con có thấy những người tu hành có thần thông, đem lại hạnh phúc ǵ cho con người chưa? Hay chỉ là những người có thần thông luôn luôn làm việc bất chánh, làm khổ đau người “tiền mất tật mang”.

Nếu Thầy không giải thích cho các con rơ, mà nhận ḿnh có thần thông là Thầy đă phỉ báng Phật giáo, là Thầy đă hại Phật giáo. V́ Phật giáo không phải là những tôn giáo tu tập để có thần thông, dùng thần thông cám dỗ người theo đạo ḿnh, mà Phật giáo là tôn giáo tu tập làm ích lợi cho ḿnh, cho người.

Thầy không lấy thần thông cám dỗ các con theo Phật giáo, mà chỉ lấy đạo đức dạy các con đối xử với nhau, để không làm khổ ḿnh, khổ người, đó là các con thoát khổ.

Các con nên hiểu, có thần thông là không có đạo đức, có đạo đức là không thực hiện thần thông. Ai muốn tu theo Thầy để cầu sống một đời sống không làm khổ ḿnh, khổ người, để tâm hồn được thanh thản an lạc và vô sự th́ theo, bằng cầu thần thông th́ đi t́m nơi khác mà tu, chứ ở đây Thầy chẳng có thần thông để dạy.

TẦM[3] TỨ[4]

Câu hỏi của Diệu Tâm

Hỏi: Xin Thầy giảng rơ thêm tầm, tứ. Cách diệt tầm tứ?

Đáp: Tầm là suy tư, suy nghĩ; tứ là ư tứ, tác ư ra. Tầm tứ có hai loại:

1- Tầm tứ ác.

2- Tầm tứ thiện.

Muốn diệt tầm tứ, ta phải diệt tầm tứ ác trước.

1- Diệt tầm tứ ác, ta phải tu tập pḥng hộ sáu căn, thiểu dục tri túc, ăn ngủ không được phi thời, tu Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, tu Định Vô Lậu (ly dục ly ác pháp). Tu tập Tứ Chánh Cần ngăn ác, diệt ác pháp, sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp.

2- Diệt tầm tứ thiện, ta phải tu Định Niệm Hơi Thở, định diệt tầm giữ tứ, tu tập pháp hướng tâm, tu tập định diệt tứ.

Tóm lại, tầm tứ là sự tác ư và sự tư duy, suy nghĩ của ư thức. Con nên đọc thêm bài kinh Song Tầm và An Trú Tầm, th́ mới rơ nghĩa tầm tứ một cách cụ thể hơn, mà đức Phật đă chỉ dạy một cách tường tận trên bước đường hành thiền theo Phật giáo. Chính Ngài cũng nhờ sự tu tập này mà thành Chánh giác.

Muốn diệt tầm tứ, chỉ có Tứ Thần Túc th́ diệt tầm tứ rất dễ dàng, ngoài Tứ Thần Túc diệt tầm tứ rất khó khăn.

“Chư Tỳ Kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và c̣n là Bồ Tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm. Chư Tỳ Kheo, phàm có dục tầm nào, (Dục tầm là ḷng ham muốn khởi lên trong ta, bất cứ một sự ham muốn điều ǵ đều là dục tầm)”.

Ví dụ: Chúng ta đang tu tập giữ ǵn tâm không phóng dật, th́ bỗng dưng khởi niệm thần thông, nếu tu tập có thần thông ḿnh sẽ phóng hào quang hoặc tịnh chỉ hơi thở cho phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền h́nh biết, để loan  tin th́ chắc chắn người ta sẽ theo đạo Phật nhiều và như vậy chúng ta sẽ chấn hưng Phật giáo rất nhanh. Những niệm khởi như vậy gọi là dục tầm. Sân tầm nào, (Sân tầm là ḷng tức giận khởi lên trong ta), hại tầm nào, (Hại tầm là ḷng nham hiểm, độc ác khởi lên t́m cách này cách nọ để nói xấu người khác, hoặc t́m mưu cách hăm hại khiến cho người khác đau khổ, khiến cho người khác mất uy tín, khiến cho tín đồ không c̣n theo tu tập, khiến cho người khác mất nghề nghiệp đói khổ v.v..).

 “Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào (ly dục tầm là ĺa ḷng ham muốn), vô sân tầm nào (vô sân tầm là tâm không c̣n giận hờn), vô hại tầm nào (vô hại tầm nào là tâm không c̣n mưu đồ tính toán hại người, nói xấu người) Ta phân làm phần thứ hai. Chư Tỳ Kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt  tâm tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền năo, không đưa đến Niết Bàn. Chư Tỳ Kheo khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại”, dục tầm này được biến mất. Chư Tỳ Kheo khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại người”, dục tầm được biến mất. Chư Tỳ Kheo khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại cả hai”, dục tầm được biến mất. Chư Tỳ Kheo khi Ta suy tư: “Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền năo, không đưa đến Niết Bàn”, dục tầm được biến mất. Chư Tỳ Kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm, sân tầm, hại tầm”.

Qua đoạn kinh này chúng ta xét thấy một phương pháp tu thiền định rất thực tế của đạo Phật. Ở đây, chúng ta không thấy đức Phật dạy ngồi thiền, nhiếp tâm bằng cách này, cách khác mà chỉ dạy chúng ta cách thức tư duy, suy nghĩ về ḷng ham muốn của ḿnh, xem coi ḷng ham muốn của ḿnh có c̣n ham muốn cái ǵ không. Nếu c̣n th́ Đức Phật gọi là “Dục Tầm”, nếu thấy ḷng ḿnh không c̣n có ham muốn th́ đức Phật gọi đó là “Ly Dục Tầm”, nếu chúng ta c̣n dục tầm th́ đức Phật dạy chúng ta quán xét dục tầm, dục tầm sẽ đưa đến tự hại ta, hại người và hại cả hai. Bởi v́ c̣n dục tầm sẽ làm khổ ḿnh, khổ người và khổ tất cả chúng sanh, do hiểu biết như vậy ta liền xa ĺa dục tầm, nhờ có xa ĺa dục tầm ta mới thấy được tâm thanh thản, an lạc và vô sự; tâm thanh thản, an lạc và vô sự là tâm ly dục ly ác pháp; tâm ly dục ly ác pháp là tâm nhập Sơ Thiền; tâm nhập Sơ Thiền là tâm ĺa tham, sân, si; tâm ĺa tham sân, si là tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh ấy là thiền định của đạo Phật.

Như vậy, bài Kinh Song Tầm là bài kinh dạy chúng ta tu thiền định của đạo Phật.

Chúng ta nên đọc thêm một bài kinh nữa, đó là bài kinh An Trú Tầm. Bài kinh Song Tầm đức Phật dạy chúng ta lựa chọn tầm thiện, loại trừ tầm ác ra khỏi tâm.

Qua bài kinh này, chúng ta đă biết cách lựa chọn tầm thiện, nhưng chưa biết cách sống trong tầm thiện, v́ thế đến bài kinh An Trú Tầm, đức Phật dạy chúng ta cách thức tu tập để được an trú trong tầm thiện, đó là một phương pháp rất đặc biệt của Phật giáo trong việc nhập định, mà không có một giáo pháp nào của ngoại đạo có được.

“Chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo muốn thực hiện tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ư năm tướng. Thế nào là năm?

Tỳ Kheo y cứ tướng nào, tác ư tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy cần phải tác ư một tướng khác liên hệ đến thiện không phải tướng kia. Nhờ tác ư một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia, th́ các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được diệt trừ, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm định tỉnh”. Đây là phương pháp thứ nhất mà Đức Phật dạy: Khi trong thân, thọ, tâm, pháp của chúng ta có ác pháp xâm chiếm, th́ phải tác ư một tướng khác tướng ác đó, tức là một tướng thiện, tướng thiện là một tướng đi ngược lại với tướng ác đó. Nhờ có tác ư một tướng thiện đối trị lại tướng ác đó, nên tướng ác đó bị đoạn trừ và tiêu diệt, lúc bây giờ tâm chúng ta mới đẩy lùi chướng ngại pháp, tức là ngăn ác, diệt ác pháp để tâm được an trú trong tầm thiện, để được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh tức là nhập định.

“Chư Tỳ Kheo, nếu Tỳ Kheo ấy tác ư một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện mà các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Thời này chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy cần phải quan sát các nguy hiểm của những tầm ấy: “Đây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo. Nhờ quan sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú an tịnh, nhất tâm định tỉnh”.

Đây là phương pháp thứ hai, dùng quán tư duy để ngăn ác diệt ác pháp, để tâm được an trú trong tầm thiện, tức là an trú trong định. Một người tu thiền định để t́m sự giải thoát, th́ không thể thiếu phương pháp tu tập này được.

“Chư Tỳ Kheo, nếu Tỳ Kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn c̣n khởi lên, thời này chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ư những tầm ấy. Nhờ không ức niệm, không tác ư các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được diệt trừ, đi đến diệt vong. Nhờ chính diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh”.

Đây là phương pháp thứ ba, để an trú trong tầm thiện, tức là ngăn ác diệt ác pháp, để tâm ly dục ly ác pháp nhập bất động tâm (Sơ thiền), do ly dục tầm mới được tầm tứ thiện, mới được nhất tâm, định tỉnh. Phương pháp tu tập này cũng giống như người không muốn nh́n thấy các sắc pháp nên nhắm mắt hoặc nh́n chỗ khác.

“Chư Tỳ Kheo, nếu Tỳ Kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ư các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, lên hệ sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Chư Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ấy cần phải tác ư đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm. Nhờ tác ư đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, đến sân, đến si được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh”.

Đây là phương pháp thứ tư, để an trú trong tầm thiện bằng cách tác ư các hành trong thân và giảm các hành dần để đi đến an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh, nhờ có an trú, an tịnh, nhất tâm, định tỉnh th́ tâm mới không phóng dật, tâm không phóng dật th́ tâm mới ly dục, ly ác pháp dễ dàng. Phương pháp ngăn ác diệt ác pháp này, tu tập có hiệu quả hay không, là do đặc tướng của mỗi hành giả.

Pháp này được xem là pháp môn tu tập trong Thân Hành Niệm để an trú tầm thiện và rất có hiệu quả khi một người có nhiệt tâm tu hành.

“Chư Tỳ Kheo, nếu Tỳ Kheo ấy trong khi tác ư đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, đến sân, đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng. Lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân và si được trừ diệt, đi đến diệt vong”.

Đây là phương pháp thứ năm, của pháp an trú tầm thiện cũng là phương pháp cuối cùng trong khi chiến đấu với các ác bất thiện pháp.

Phương pháp này chúng tôi thường gọi là niệm lực hay là pháp gom tâm vào tụ điểm để nhẫn nhục trước các ác bất thiện pháp, để diệt trừ tâm loạn động, để diệt trừ tâm si mê ham ngủ nghỉ (hôn trầm thùy miên vô kư), để diệt trừ tâm tham dục, để diệt trừ tâm đang tức giận, để diệt trừ tâm đang khi thân bị bệnh khổ, v.v.. Phương pháp này là phương pháp chống trả lại các ác pháp rất mănh liệt để tận diệt cho bằng được các ác bất thiện pháp.

Tóm lại, trong năm phương pháp tu tập để an trú tầm thiện, đức Phật đă trao cho chúng ta tất cả kinh nghiệm tu hành để đưa đến chỗ tâm không phóng dật.

Năm phương pháp an trú tầm là năm phương pháp dùng để ngăn ác diệt ác pháp tuyệt vời, mà một người tu tập phải luôn luôn sống với pháp môn này như hơi thở mà chúng ta đang thở, nếu hơi thở dừng th́ chúng ta ra người thiên cổ, c̣n pháp môn này rời khỏi chúng ta th́ chúng ta sống trong hỏa ngục cũng như người chết chưa chôn.

Trên đường về xứ Phật, đức Phật đă trang bị cho chúng ta đủ mọi thứ cần thiết để vượt qua những đoạn đường gian nan khốn khổ và nguy hiểm, nếu chúng ta bền chí, kiên cường, dũng cảm th́ chắc chắn sẽ đến nơi, đến chốn an toàn.

BỒ TÁT QUAN ÂM
DO TƯỞNG SAO CÓ SỰ LINH THIÊNG?

Câu hỏi của Diệu Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Bồ Tát Quan Thế Âm do tưởng mà có, nhưng cũng có sự linh thiêng và cứu độ? Xin Thầy giảng cho chúng con được hiểu.

Đáp: Chính v́ người ta thấy những bóng ma phảng phất, những sự linh thiêng của những nhân vật tưởng tượng nên thế giới siêu h́nh mới có. Không ai giải thích được những hiện tượng kỳ lạ đó, do đâu mà có, khoa học cũng đành bó tay. Chỉ có những người nhập được chánh định, vượt qua cảnh giới hữu sắc và vô sắc tức là vượt qua các loại định tưởng th́ mới thấy được thế giới siêu h́nh rơ ràng và sự linh thiêng đó do đâu mà có.

Thân chúng ta gồm năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

- Sắc là thế giới hữu h́nh.

- Tưởng là thế giới vô h́nh.

Người ta hiểu tưởng là do sự tưởng tượng. Tưởng ở đây không phải là tưởng tượng, là tưởng ấm cũng như sắc ấm vậy, chứ không phải sự tưởng tượng. Sắc ấm có cảnh giới của sắc ấm như: nhà cửa, cây cỏ, vạn vật, cầm thú, vạn hữu, v.v.. th́ cảnh giới tưởng ấm cũng vậy nó chỉ khác là vô sắc. V́ nó là h́nh ảnh bóng dáng theo khuôn mẫu  của thế giới sắc ấm (hữu h́nh), nó cũng giống như cây cổ thụ kia, h́nh và bóng của nó. Cây là thế giới hữu h́nh, c̣n bóng của nó là thế giới siêu h́nh, cho nên cây không có th́ bóng cũng không có. V́ thế, thân người mất th́ linh hồn người cũng không c̣n.

Cảnh giới hữu h́nh và siêu h́nh của một người nó theo nhau như h́nh với bóng. Phước đến th́ nó hiện ra giải nạn do một niềm tin ở vị Thần, Thánh nào đó, ngược lại người đó không tin Thần, Thánh th́ nó khiến người đó lỡ tàu, lỡ xe để thoát nạn.

Đồng thời mọi người cùng thấy ở một góc độ nào đó, th́ đó là do cộng nghiệp và do ḷng tin, nhưng nó c̣n tùy ở tưởng ấm hoạt động giao cảm mạnh hay yếu.

Người tu tập thiền định, trạng thái tưởng xuất hiện kỳ lạ, nếu không có thiện hữu tri thức th́ không thể nào ngồi yên nổi để tu. Trường hợp đó người tu nào cũng đều cho đó là thế giới oan hồn đến phá. Thấy một tảng đá, hoặc một người ngồi giữa đường, người lái xe lạc tay lái, gây tai nạn, đó là nghiệp ác đến, tưởng ấm xuất hiện ra. Một người té xuống sông, có cảm giác như có người lôi họ xuống nước, đó là nghiệp ác lôi họ xuống, nhờ tạo thiện nên có người cứu thoát họ.

Luật nhân quả nghiệp báo sử dụng sắc ấm và tưởng ấm rất là vi diệu mà loài người không thể lường được.

Hàng ngày, một người không tu tập và không trau dồi thân tâm bằng thiện pháp, nhân quả nghiệp báo sai sắc ấm của họ làm những điều tội ác mà họ không hề hay biết, đến khi tội khổ th́ họ lại than trời trách đất, đi cầu khẩn Thần, Thánh gia hộ.

C̣n nhân quả nghiệp báo sai tưởng ấm của họ gây tai họa hoặc cứu họ thoát chết th́ họ cho oan hồn, quỷ ma tác họa, ngược lại được phước báo th́ cho là Thần Thánh, chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ b́nh an.

Mọi người sống trong thế giới đối đăi mà không thấy đối đăi. Sống trong thế giới nhân quả mà không thấy nhân quả.

Con người từ nhân quả sanh ra, chết đi về nhân quả, lại không thấy, cho rằng có những linh hồn người chết, có những Thần, Thánh, quỷ, ma. Cho nên Đức Phật dạy: “Con người là thừa tự nhân quả”. Đă thừa tự nhân quả th́ làm sao có ma được? Có thế giới linh hồn người chết được?

Tất cả các tôn giáo khác đều không vén màn vô minh này, nên tôn giáo nào cũng xây dựng thế giới siêu h́nh có thật. Và v́ thế, cuộc đời này đă làm mất đi sự công bằng và công lư của loài người.

Người ta theo các tôn giáo th́ được cứu rỗi, được gia hộ; c̣n ai không theo tôn giáo th́ chẳng được ai cứu rỗi và gia hộ cả. Như vậy có bất công không? Chỉ có Phật giáo dám xác định thế giới siêu h́nh khách quan không có, mà có thế giới siêu h́nh chủ quan do từ tưởng ấm lưu xuất. Khi một người c̣n sống th́ có, nhưng khi đă chết th́ không có. V́ thế, đức Phật cả quyết xác định thế giới siêu h́nh là do tưởng tri sản xuất sanh ra chứ không có thế giới thật: “Tưởng tri chứ không phải Liễu tri”.

CÓ CƠI TRỜI KHÔNG?

Câu hỏi của Diệu Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Trời có phải là một trong sáu nẻo luân hồi, nếu làm thiện tương xứng sẽ sanh ở đó. Trong kinh có nói 18 tầng trời hoặc 36 cơi trời. Xin Thầy chỉ cho con rơ?

Đáp: Sáu nẻo luân hồi chỉ là một sự diễn biến nhân quả nghiệp báo, do con người và chúng sanh v́ vô minh tạo ra mà phải gánh chịu.

Mười tám tầng trời chỉ cho 18 trạng thái thiện.

Ba mươi sáu cơi trời chỉ cho ba mươi sáu pháp thiện.

Ví dụ: Thầy nhập Sơ Thiền tức là Thầy đă ở cơi Sơ Thiền Thiên, nhập Không vô biên xứ tưởng tức là Thầy đă ở cơi Không vô biên xứ Thiên, nhập nhẫn nhục tức là Thầy đă ở cơi Đâu suất Thiên... Như vậy có phải đợi chết rồi mới sanh về đó đâu? Chỉ cần thực hiện diệt một ác pháp, tăng trưởng một thiện pháp là sanh vào cơi trời đó ngay liền, nhưng con phải hiểu thiện pháp có rất nhiều, nên có 33 cơi thiện pháp mà trong kinh gọi là 33 cơi trời, 33 cơi trời tức là 33 trạng thái thiện pháp.

Đó là một trạng thái giải thoát của tâm, khi tâm đă đạt mức độ thiện ở đó, th́ tương xứng với cảnh giới Thiện ở đó. Có hiểu được như vậy mới hiểu được đạo Phật.

Dù cho có các cơi Trời thật sự đi nữa mà tâm chẳng thiện th́ cũng chẳng có ích lợi ǵ cho chúng ta, phải không hỡi con ?

Dù cho không có các cơi Trời đi nữa, mà tâm chúng ta sống trong thiện pháp th́ tâm chúng ta cũng được an vui, hạnh phúc như thường. Và như vậy, không phải sống trong cơi Trời sao? Chứ đâu phải chết mới được sanh về đó. Chết được sanh về cơi trời đó là một ảo tưởng, một giấc mộng mơ hồ của những người thiếu óc thực tế khoa học, vô minh không sáng suốt bị các tôn giáo lừa đảo.

Sống đang ở trong cơi Trời th́ chết về đâu các con có biết không? Hỏi tức là trả lời. Do thế ngay từ trong cảnh sống ở thế gian mà người nào biết ngăn ác, diệt ác pháp th́ người ấy đang sống trong Thiên Đàng chứ không phải Thiên Đàng ở cơi giới nào cả.

Thế giới siêu h́nh Thiên Đàng là do các tôn giáo dựng lên, chỉ là một cảnh giới do tưởng ấm sanh ra, để an ủi tinh thần của những người yếu đuối đang gặp khổ đau tai nạn, để nuôi hy vọng làm thiện được sanh về đó...

Người tu sĩ đạo Phật v́ thấu rơ nhân quả nghiệp báo, nên tự lực cứu ḿnh bằng cách sống trong thiện pháp: “Các con hăy tự thắp đuốc lên mà đi”. Đây là lời kêu gọi thiết tha do ḷng đại từ bi của đức Phật đối với chúng ta.

Nói đến thế giới th́ chúng ta phải nói đến sự duyên hợp, có nhiều duyên hợp lại mới thành thế giới, v́ thế một thần thức (thức ấm) đơn độc không thể là thế giới được. V́ thế giới hữu h́nh không có th́ thế giới siêu h́nh và linh hồn cũng không có.

Ví dụ: Chúng ta lấy một cây cột mà bảo rằng là cái nhà th́ không thể được, v́ cái nhà phải có nhiều duyên hợp lại như: cột, kèo, cửa sổ, cửa cái, vách, đ̣n tay, ngói gạch hợp lại th́ mới gọi là cái nhà được.

Tóm lại, thế giới siêu h́nh không có mà chỉ có những trạng thái, từ trường thiện, ác pháp của nhân quả đang phóng xuất theo thân hành, khẩu hành và ư hành của sự vận hành nhân quả.

CHÁNH KIẾN

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con kính tŕnh Thầy những vấn đề con nhận thức được sau thời gian được Thầy chỉ dạy và cả những câu hỏi xin Thầy giảng dạy để con thấu hiểu hơn.

1- Thầy dạy câu: “Chỉ có tâm ly dục mới hiểu được ḿnh, được người bằng chánh kiến”. Con đă suy tư và nhận thấy:

Tâm không ly dục ly ác pháp là tâm c̣n vẩn đục, đen đúa, ví như cái kiếng đen mà c̣n bị chà xước làm sao thấy được người đúng như thật. Tâm ly dục là tâm trong sáng như pha lê, thấy người như thật có và thấy ḿnh như thật có. Con nghĩ như vậy có đúng không thưa Thầy?

Đáp: Đúng vậy, con đă hiểu những lời Thầy dạy, mặc dù các kinh có giải thích về Chánh kiến; thấy thân, thọ, tâm, pháp là vô thường, khổ, không, vô ngă; thấy 12 nhân duyên hợp là thế giới khổ; thấy 12 nhân duyên ră là hết khổ; thấy thân ngũ uẩn không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngă của ta. Thấy biết đúng như vậy gọi là Chánh kiến. Chánh kiến ở đây là giải nghĩa Chánh kiến, chứ không phải Chánh kiến trong Bát Chánh Đạo. V́ Chánh kiến trong Bát Chánh Đạo là lớp học đầu tiên của Phật giáo trong tám lớp.

Tuy dựa theo các kinh để hiểu biết, nhưng không phải như vậy, v́ thế tâm vẫn c̣n chấp ngă, tham, sân, si vẫn đầy dẫy th́ làm sao gọi là “Chánh kiến” được, chỉ khi nào tâm ly dục ly ác pháp th́ mới thấy thân, thọ, tâm, pháp, vô thường, khổ, không, vô ngă như thật (Chánh kiến).

Tóm lại, khi nh́n thấy h́nh sắc xấu, tốt cũng như khi nghe âm thinh thuận tai, chướng tai, khi cảm giác êm ấm, thoái mái dễ chịu, khi ngửi một mùi thơm hay thối đều không có chướng ngại thân tâm th́ đó là Chánh kiến; khi lục căn tiếp xúc lục trần không dính mắc là Chánh kiến, tức là một sự hiểu biết mà không có khổ đau, đó là Chánh kiến.

Một sự hiểu biết mà không có sự dối trá, gian xảo, không có sự lừa đảo, lường gạt, không có sự phi đạo đức th́ đó là Chánh kiến.

Một sự hiểu biết mà không có ảo tưởng, trừu tượng, không có tưởng tri th́ đó là Chánh kiến.

Ví dụ: Không có thế giới siêu h́nh mà cho rằng có, là không phải Chánh kiến. Không có Cực Lạc, Tây Phương, không có Thiên Đàng mà cho rằng có, là không có Chánh kiến.

Không có thần thức, không có linh hồn, không có Phật tánh, không có đại ngă, không có tiểu ngă, không có bản thể vạn hữu mà cho rằng có, đó là không có Chánh kiến.

Chánh kiến nơi đâu th́ nơi đó có đời sống giới luật, nơi đâu có đời sống giới luật th́ nơi đó có Chánh kiến. Nơi đâu sống đời sống phạm giới, phá giới th́ nơi đó không có Chánh kiến.

Nơi đâu có Chánh kiến th́ nơi đó có tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự. Và v́ vậy, nơi đó có sự giải thoát của đạo Phật.

SAU KHI NHẬP DIỆT CHƯ PHẬT
C̉N TRỞ LẠI THẾ GIAN NỮA KHÔNG?

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni và các vị Phật xưa kia, sau khi nhập diệt từ bỏ xác thân có trở lại thế gian nữa không?

Đáp:  Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni sau khi nhập diệt từ bỏ sắc thân không c̣n trở lại thế gian nữa.

Trong kinh Nguyên Thủy thuộc tạng kinh A Hàm, Đức Phật Thích Ca đă xác định điều này rất rơ ràng. “Ta chỉ c̣n một kiếp này nữa thôi”. Tại sao Phật không tái sanh lại cơi thế gian này nữa?

Chư Phật không tái sanh lại cơi thế gian này nữa, v́ cơi thế gian đầy rẫy các ác pháp, con người trên thế gian này có việc ǵ th́ ăn thua đủ, không biết nhẫn nhịn, hung dữ, chửi mắng, mạt sát lẫn nhau, gian xảo, lừa đảo, điêu ngoa, xảo quyệt, giả dối, nhiều chuyện, gian ác, hiểm độc, v.v..

Phật không dám tái sanh lại cơi thế gian này nữa, là v́ khí hậu thời tiết khắc nghiệt, lúc nắng, lúc mưa, gió băo bất thường, lại thêm băo lụt, động đất, thủy tai, hỏa hoạn, giặc giă, trộm cướp, giết người chẳng chút ḷng xót thương, v.v..

Phật không dám tái sanh lại cơi thế gian này nữa, là v́ mang thân tứ đại này giống như ở tù chung thân đi đâu cũng không được tự tại, tự do rất là khổ sở.

Phật không dám tái sanh lại cơi thế gian này nữa là v́ tâm Phật hết tham, sân, si. Tâm Phật hết tham, sân, si th́ không c̣n tương ưng với chúng sanh th́ không thể nào tái sinh lại được, dù Phật muốn sinh làm người lại nhưng không làm sao được nữa.

Phật không dám tái sanh lại cơi thế gian này nữa, là v́ mang thân tứ đại này như ở trong ổ bệnh, nóng nực quá chịu không nổi, lạnh quá chịu cũng không xong, mỗi mỗi đều có thể xảy ra gây thương tích làm đau nhức không xiết kể. Thân tứ đại lại vô thường nên thường xảy ra bệnh tật, khi bệnh tật th́ khổ đau vô cùng, vô tận. V́ thân tứ đại vô thường, nên không tránh khỏi sự già nua, mà hễ già nua th́ tay chân run rẩy, đi đứng không vững vàng, th́ thật là khổ sở vô cùng. V́ thân tứ đại vô thường nên sự hoại diệt chắc chắn phải đến, đến trong sự đau khổ tử biệt sanh ly.

Cho nên, khi một đức Phật nhập diệt không tránh khỏi cả một trời đau thương phải không hỡi các con?

Khi c̣n là một học Tăng, Thầy đọc kinh Niết Bàn, trước giờ phút đức Phật nhập diệt cả Trời Người đều khóc thương thảm thiết, khiến Thầy cũng xúc động khóc theo. Đây không phải là sự đau khổ tận cùng của sự chia ly hay sao?

Cho nên, đức Phật ra đi, bỏ báo thân này th́ không bao giờ trở lại làm thân người nữa, không phải chư Phật sợ khổ đau làm thân chúng sanh, mà chính duyên chúng sanh đă hết. Nếu c̣n duyên với chúng sanh th́ đức Phật không bao giờ nhập Niết Bàn, Ngài sẽ phục hồi sự sống rất dễ dàng, muốn sống bao lâu cũng được. Trong kinh Niết Bàn đă nói điều này rất rơ ràng.

Hết duyên với chúng sanh, có nghĩa là duyên nhân quả đă hết. Mục đích của một người tu theo đạo Phật là phải trả sạch nhân quả, có nghĩa là không c̣n nợ nhân quả; không c̣n nợ nhân quả tức là một người sống toàn thiện, v́ sống toàn thiện là thoát khổ, cho nên không c̣n nghiệp lực nhân quả đi tái sanh; không c̣n nghiệp lực nhân quả đi tái sanh, th́ lấy cái ǵ để đi tái sanh, cái đi tái sanh đă bị diệt rồi và nợ nhân quả cũng hết rồi th́ c̣n duyên nghiệp ǵ, để Phật đi tái sanh nữa.

Mục đích phải đạt của một vị tu sĩ là tu thành Phật, thành Phật để chấm dứt duyên nghiệp tái sanh luân hồi. Khi chấm dứt rồi th́ c̣n lấy cái ǵ đi tái sanh. Mầm tái sanh đă bị diệt ngay từ lúc hướng tâm đến Lậu Tận Minh.

Mầm tái sanh làm người đă dứt th́ nợ nhân quả đă hết, nợ nhân quả đă hết th́ duyên chúng sanh đă hết, duyên chúng sanh đă hết, th́ dù có muốn tái sanh cũng không làm ích lợi cho con người. V́ hết duyên, có thuyết giảng, có dạy đạo chúng sanh cũng chẳng nghe.

Ví dụ: Hiện giờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni có tái sanh trở lại dạy người tu hành th́ người ta vẫn phỉ báng rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy pháp điên, dạy lỗi thời, dạy không đúng giáo pháp Đại Thừa và Thiền Đông Độ, dạy cho những người sơ cơ c̣n có chứng, có đắc, c̣n pháp môn hiện giờ vô chứng, vô đắc, tự tại, vô ngại đói ăn, khát uống, không chấp giới luật.

Do những điều trên đây mà chư Phật nhập diệt rồi th́ không bao giờ trở lại cảnh giới thế gian này nữa.

KHI NHẬP DIỆT ĐỨC PHẬT
ĐĂ TRỞ THÀNH SÓNG ÁNH SÁNG?

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Có phải các vị Phật đă trở thành ánh sáng (sóng ánh sáng). Ánh sáng này mang năng lượng tỉnh giác, trí tuệ, không phải ánh sáng do mặt trời chiếu?

Đáp: Khi nhập diệt, bỏ sắc thân này tức là chấm dứt tái sanh luân hồi, chấm dứt tái sanh luân hồi tức là chấm dứt sự đau khổ của muôn vạn kiếp làm chúng sanh.

Khi chấm dứt tái sanh luân hồi, th́ không trở thành ánh sáng (sóng ánh sáng), mang năng lượng tỉnh giác trí tuệ.

Khi vào Niết Bàn bỏ xác thân này, th́ chư Phật luôn luôn lúc nào cũng ở trong trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự, chỗ tâm không c̣n ái dục. Lúc c̣n sống khi tu xong chư Phật đều ở trong Niết Bàn này, cho đến khi chết th́ trạng thái này vĩnh viễn không bao giờ mất. Chứ không trở thành sóng ánh sáng như người khác tưởng mà là một từ trường trong muôn vạn từ trường khác nhưng nó lại thanh thản, an lạc  và vô sự.

Trong không gian có một từ trường thanh thản, an lạc và vô sự, v́ thế người tu hành giữ ǵn tâm không phóng dật là ở trạng thái từ trường đó, nên tâm chúng ta và từ trường đó là một. Nếu trong không gian mà không có từ trường đó, th́ chúng ta không tu tập có được tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

Cũng như có tứ đại bên ngoài, th́ thân tứ đại của chúng ta mới tồn tại, hay nói cách khác cho hiểu rơ ràng hơn. Có tứ đại bên ngoài th́ mới nuôi sống thân tứ đại của chúng ta. Nếu bên ngoài không có tứ đại, th́ thân tứ đại của chúng ta cũng không có.

Cho nên, trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự bên ngoài không có th́ tâm chúng ta cũng không giữ ǵn được thanh thản, an lạc và vô sự.

V́ thế, khi một đức Phật đă nhập Niết Bàn th́ không bao giờ trở lại tái sanh đời này nữa, chỉ có những người tu chưa xong nên c̣n mầm tái sanh và nợ nhân quả chưa dứt, tức là c̣n duyên với chúng sanh. C̣n duyên với chúng sanh tức là c̣n tâm tham, sân, si. C̣n tâm tham, sân, si tức là c̣n tương ưng với chúng sanh, v́ chúng sanh c̣n tâm tham, sân, si. Do đó, c̣n đi tái sanh luân hồi, làm con của những người khác. Thật là khổ đau vô cùng, vô tận từ kiếp này đến kiếp khác.

CÓ PHẢI PHẬT LÀ TRÍ TUỆ
CỦA MỘT VỊ MINH SƯ KHÔNG?

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Có phải Phật là trí tuệ của vị Minh sư, vị A La Hán đang tại thế không?

Đáp: Đúng vậy, Phật là trí tuệ của vị Minh sư, vị A La Hán đang tại thế.

Nhưng phải biết phân biệt vị Minh sư và vị A La Hán là bậc sống đúng giới hạnh (Phạm hạnh), không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào. Chính những bậc này là trí tuệ của Phật, của bậc A La Hán. V́ thế, Phật là trí tuệ của họ.

V́ đức Phật đă xác định trí tuệ ở đâu là giới luật ở đó, giới luật ở đâu là trí tuệ ở đó. Cho nên, Phật là trí tuệ của vị Minh sư, nhưng vị Minh sư sống phạm giới, phá giới th́ vị Minh sư ấy không phải là trí tuệ của Phật, họ chỉ là một học giả mà thôi.

Phật tử chỉ cần xét vị Minh sư của ḿnh qua giới luật của Phật, th́ sẽ rơ thấu vị Minh sư hay là vị ám sư, nếu là Minh sư th́ giới luật nghiêm chỉnh, c̣n ám sư th́ phạm giới, phá giới, thường sống trong chùa to Phật lớn; sống theo dục lạc thế gian; sống như người giàu sang thế tục; sống ăn uống phi thời; sống cất giữ tiền bạc, châu báu, ngọc ngà; sống xem tivi, ca hát, nhạc kịch, phim ảnh, v.v.. Đó là những vị ám sư chứ không phải Minh sư.

Vị Minh sư luôn luôn lúc nào cũng lấy giới luật làm hạnh sống của ḿnh, lấy giới luật làm thước đo tâm ly dục ly ác pháp của ḿnh, lấy giới luật làm tiêu chuẩn xét lại tâm ḿnh có định hay chưa có định, lấy giới luật làm bản đồ, để chỉ hướng đến con đường giải thoát, mà không sợ lạc lối, không sợ lầm đường; lấy giới luật để làm ngọn đuốc sáng cho mọi người soi. V́ thế, mỗi ngày tu là nghiệm thấy kết quả giải thoát ngay liền.

ÁNH SÁNG TRÍ TUỆ

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Vị Minh sư tỏa sáng đều khắp cho chúng sanh. Chúng sanh nào có tâm ly dục trở nên trong sáng sẽ được hưởng ánh sáng nhiều và ngược lại.

Đáp: Vị Minh sư luôn tỏa ánh sáng trí tuệ đều khắp cho chúng sanh. Chúng sanh nào có đủ duyên với Phật pháp, nên khi gặp được ánh sáng trí tuệ đó, liền đặt trọn ḷng tin kiên cố ở vị Minh sư, nhiệt tâm thực hiện lời dạy của Người, sống đúng, tu tập đúng, nhờ đó tâm ly dục ly ác pháp. Ngày ngày tâm trở nên trong sáng hơn và thụ hưởng áng sáng trí tuệ đó nhiều hơn.

Ánh sáng trí tuệ Phật luôn luôn tỏa khắp trong không gian, như không khí mà quư vị đang hít thở, nếu quư vị khởi một niệm thiện pháp th́ ánh sáng đó trở thành trí tuệ của quư vị, tức là quư vị đang hành động một đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người.

V́ thế, kẻ nào sống trong thiện pháp biết ngăn ngừa ác pháp, là đang sống trong trí tuệ của Phật, trí tuệ của vị Minh sư, ngược lại sống không biết ngăn ác, diệt ác pháp, sống phạm giới, phá giới là sống xa ĺa trí tuệ Phật, không hưởng được ánh sáng của vị Minh sư, tức là sống xa ĺa sự giải thoát của đạo Phật.

Phật lúc nào cũng sống bên chúng sanh, c̣n chúng sanh th́ lúc nào cũng sống xa Phật. Tại sao vậy?

V́ chúng sanh thường sống trong ác pháp, c̣n Phật th́ sống trong thiện pháp. Nếu chúng sanh biết sống trong thiện pháp th́ đó là trở về với Phật, c̣n chúng sanh sống trong ác pháp, là xa ĺa Phật, dù muốn gần Phật cũng không được, dù hết ḷng cầu khẩn cũng không được.

Cho nên, đạo Phật rất đơn giản nhưng người không biết tu tập sai pháp như: ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, niệm chú, bắt ấn, đọc thần chú, bái sám, lạy hồng danh chư Phật, cầu an, cầu siêu, v.v.. đều là những việc làm đi ngược lại với Phật giáo. Gây tạo ra nhiều màu sắc mê tín, dị đoan, ảo giác, trừu tượng... Phần nhiều sống trong ảo mộng. Xét lại, tất cả các tôn giáo hiện có mặt trên hành tinh này đều có sự giống nhau, không rơi vào h́nh thức mê tín này, th́ lại rớt vào h́nh thức mê tín khác. Đó là v́ chịu ảnh hưởng chung trong một bối cảnh siêu h́nh của tưởng tri.

V́ thế, khi đức Phật nhập diệt các tu sĩ ngoại đạo cố gắng lồng thế giới siêu h́nh vào đạo Phật, để biến Phật giáo giống như các tôn giáo khác, để dễ bề chúng phát triển thế giới siêu h́nh.

Nếu đạo Phật giẫm lại lối ṃn của các tôn giáo khác, th́ đạo Phật không c̣n ư nghĩa tự lực của đạo giải thoát nữa.

Nh́n chung toàn bộ kinh sách Đại Thừa đều là một kho giáo lư góp nhặt những tưởng tri của các nhà triết học tôn giáo và thế tục.

Lư luận nghe rất siêu, nhưng áp dụng vào đời sống con người th́ ích lợi không bao nhiêu mà tai hại th́ rất nhiều.

DIỆT NGĂ

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thầy dạy: “Đạo Phật là Đạo diệt ngă”. Con hiểu rằng muốn diệt ngă là phải tu đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng là để không gặp đối kháng trong đời, để khỏi hao phí lực.

Đáp: Đúng vậy, con đă hiểu đúng ư Thầy dạy phần thứ nhất (không hao phí lực).

Phần thứ hai: nhẫn nhục là tu tâm từ bi; tùy thuận là tu tâm xả; bằng ḷng là tu tâm hỷ. Do thế tâm hồn con mới được an lạc thanh thản và giải thoát.

Phần thứ ba: nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng là giúp con tu tập ly dục, ly các ác pháp; ly dục ly các ác pháp, tức là diệt ngă. Cho nên, người tu sĩ không ly dục ly ác pháp, th́ không bao giờ diệt ngă được, nhưng ly dục ly ác pháp phải có những pháp hành đúng đắn, nếu không có pháp hành đúng đắn th́ sẽ bị phí sức, đôi khi c̣n lạc vào thiền ức chế tâm, đă không có được giải thoát mà c̣n sanh bệnh tật rất nguy hại và hiểm nghèo.

Sự tu tập theo Phật giáo phải có thiện hữu tri thức (người đă tu xong), hướng dẫn th́ sự tu tập diệt ngă xả tâm không có phí sức.

Bởi v́, tu theo giáo pháp của đức Phật, rất nhẹ nhàng, không có khó khăn không có mệt nhọc, không có phí sức.

C̣n tu sai không đúng pháp th́ phí sức nên sanh ra lười biếng, hôn trầm, thùy miên, trạo cử, mệt nhọc, tinh thần thiếu sáng suốt, lờ đờ, không tỉnh giác, hay quên trước, quên sau, lẫn lộn, v.v..

C̣n tu đúng pháp th́ thân tâm nhẹ nhàng, an lạc, thoái mái, dễ chịu, thích tu, siêng năng tinh tấn, không lười biếng, nhất là lúc nào tâm hồn cũng thanh thản, an lạc, hân hoan và vô sự.

Tu đúng pháp th́ sức khỏe dồi dào, ít bệnh tật. Tuy rằng, ngày ăn một bữa cơm, không ăn uống lặt vặt, phi thời nhưng sức khỏe không bị tổn giảm.

Cho nên, tu theo pháp của đức Phật liền có sự giải thoát nơi thân tâm, nếu không có giải thoát ngay liền, th́ đó là chúng ta đă tu sai, cần nên tu sửa trở lại cho đúng cách.

Người tu theo đạo Phật không sợ lạc lối, không sợ tu sai pháp. V́ đạo Phật xây dựng giáo lư của ḿnh trên nền tảng đạo đức làm người, không làm khổ ḿnh, khổ người. V́ thế, mỗi hành động thân, khẩu, ư đều xuất phát đầy đủ trọn vẹn thiện pháp.

Người sống trọn vẹn đầy đủ thiện pháp, là người hạnh phúc nhất thế gian, do đó không c̣n sự khổ đau nào xâm chiếm tâm hồn họ được.

V́ vậy khi bắt đầu tu, là phải sống trong thiện pháp, một thiện pháp được sống và tăng trưởng th́ một ác pháp được đẩy lui và diệt trừ. Một ác pháp được đẩy lui và diệt trừ, th́ ngay đó chúng ta có t́m thấy sự giải thoát không? Chắc chắn là có, như vậy chúng ta tu tập theo Phật giáo làm sao sợ sai pháp được? Làm sao đi lạc lối được? Có tu là có giải thoát, có sống là có đạo đức làm người, không làm khổ ḿnh, khổ người. Phải không hỡi các con?

THIỂU DỤC TRI TÚC

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thiểu dục, tri túc như con hiểu là để bớt công sức tạo ra vật chất bồi đắp cho ḿnh và bớt công sức tiêu hao vật chất mà ḿnh thu nhận vào thân.

Đáp: Đúng vậy, con đă hiểu được phần thứ nhất thuộc về phần tiết kiệm công sức của thân và tâm. C̣n phần thứ hai, thứ ba và thứ tư thuộc về tâm khiến cho tâm con buông xả mọi vật chất (các pháp trần), dù trong hoàn cảnh nào, tâm vẫn thấy đủ, đó là cách thức xả tâm, diệt ngă.

1- Phần thứ nhất là tiết kiệm công sức, để vun đắp năng lực cho sự xả tâm, ly dục, ly ác pháp.

2- Phần thứ hai cũng thuộc về tâm, nhờ sống ít muốn biết đủ nên tâm dần dần ly dục, ly ác pháp, không c̣n ham muốn vật chất thế gian (các pháp), nên lúc nào tâm cũng thanh thản, an lạc và vô sự.

3- Phần thứ ba thiểu dục tri túc là một Thánh hạnh, một đức hạnh buông xả giải thoát mà người phàm phu không thể sống nổi, không thể làm được. Nhất là hạnh thiểu dục tri túc, ba y một bát của một vị Tỳ Kheo đệ tử của đức Phật th́ ít có ai sống và làm được.

Nói đến hạnh thiểu dục tri túc là nói đến một tâm hồn trắng bạch như vỏ ốc, phóng khoáng như hư không. Trên đời này, không c̣n có một vật ǵ ràng buộc tâm hồn của họ được. Đi hay ở tùy thích, không có chùa to, Phật lớn, không có nhà cao cửa rộng. Nhất là họ đă thoát ra khỏi kiếp nô lệ tiền bạc, v́ họ không cất giữ tiền bạc. Trên đời này khó mà có ai sống như họ được. Có như vậy mới gọi là hạnh thiểu dục tri túc, ba y một bát.

Nếu một người tu theo Đạo Phật mà không sống hạnh thiểu dục tri túc, không ba y một bát th́ cuộc đời tu hành của những người này không bao giờ t́m thấy sự giải thoát chân thật, dù trong một phút, một giây cũng không có. Tâm hồn họ c̣n nặng nề và đang bị trói buộc bởi các pháp thế gian (dục và ác pháp).

TỈNH GIÁC

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo như con hiểu là để quay vào kiểm soát thân tâm, để khỏi bị đời lôi cuốn. Tất cả để bảo tồn năng lượng, năng lực tự chủ, để tới lúc đủ lực vút lên khỏi ngục tù xác thân?

Đáp: Đúng vậy, con đă hiểu được phần thứ nhất về định lực, c̣n phần thứ hai, thứ ba và thứ tư để Thầy sẽ giảng rơ cho con hiểu thêm:

- Thứ hai là hạnh lực “Cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo”, đó là giữ ǵn hành động thân, hành động lời nói và hành động suy nghĩ, làm cho oai nghi, tế hạnh của con nhẹ nhàng, êm dịu, ôn tồn, nhă nhặn, những hành động đó không thể vô t́nh, vô ư được. V́ vậy khiến cho các con không làm khổ ḿnh, không làm khổ người khác nữa.

- Phần thứ ba là phần tỉnh thức. Khi có cẩn thận, kín đáo, dè dặt, kỹ lưỡng th́ phải có sức tỉnh thức rất cao, nếu không tỉnh giác th́ cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo chỉ là danh từ suông.

Như con đă biết, về vấn đề tu tập hàng đầu của đạo Phật là tu tập tỉnh giác, có tỉnh giác mới phát hiện được ác pháp và ḷng tham đắm của ḿnh, nếu không tỉnh giác mà nói tu theo đạo Phật th́ chỉ hoài công vô ích. Cho nên, sự tu tập tỉnh thức là một vấn đề quan trọng của đạo Phật.

- Phần thứ tư là phần chánh niệm, khi có cẩn thận, dè dặt, kỹ lưỡng, kín đáo th́ tâm luôn luôn ở trong chánh niệm, không có tà niệm xen vào, tức là không có niệm ác.

Tuy những danh từ đơn giản nhưng hiểu ra để tu tập, trau dồi thân tâm là một công tŕnh tu tập, mà c̣n phải biết các pháp hành đúng như pháp của Phật th́ mới có kết quả tốt đẹp.

Cho nên, người nào có tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo th́ ngoài đời làm ăn cũng dễ thành công, trong đạo tu hành cũng dễ thành tựu viên măn.

V́ có cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo th́ sự tu hành dễ tỉnh thức, các chướng ngại pháp ít xâm chiếm thân tâm. Người cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo mỗi tâm niệm thiện hay ác khởi lên, người ấy dễ nhận thấy được một cách dễ dàng.

Người không có tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo, tánh t́nh thường thô lỗ, cộc cằn, hung dữ th́ tu hành rất khó khăn và đôi khi sự tu hành chẳng đi đến đâu cả, chỉ mang tiếng tu hành, chứ chẳng có ích lợi ǵ cho ḿnh, cho người.

Tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo rất quan trọng cho cả cuộc sống đời, lẫn cuộc sống đạo.

Người tu tập tỉnh thức, tức là tu tập Thân Hành Niệm, tu tập Thân Hành Niệm, tức là tập luyện tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo, chứ không phải sự tập trung tâm vào bước đi hoặc mọi hành động của thân, để cho tâm không khởi niệm vọng tưởng, đó là một sự tu tập sai lầm của các cư sĩ và tu sĩ, họ đă từng tu tập như vậy đă bao thế kỷ nay, mà chẳng có ai đạt được ích lợi ǵ cho bản thân của ḿnh và cho người khác.

C̣n tu tập rèn luyện tánh cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo th́ ngay trong sự kỹ lưỡng, dè dặt, cẩn thận, kín đáo đó trên mỗi hành động thiện hay ác của họ, liền có sự giải thoát, khiến cho thân tâm được an lạc, thanh thản và vô sự. V́ sự cẩn thận, kỹ lưỡng, dè dặt, kín đáo (tỉnh giác) trong thiện pháp (chánh niệm) nên thường ngăn chặn và diệt trừ các ác pháp (tà niệm).

THẾ GIỚI SIÊU H̀NH

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thế giới siêu h́nh. Dựa theo lời Thầy dạy con hiểu thế giới siêu h́nh như cái tivi, đầu vidéo, những cuốn băng h́nh do con người tạo ra, để thu giữ những h́nh ảnh của thế giới con người hoặc là thế giới thần tiên cũng do con người diễn xuất. Nếu đập vỡ phương tiện th́ chẳng c̣n ǵ. Con sợ con sa vào tưởng tượng nên con mạnh dạn tŕnh Thầy để Thầy chỉ dạy.

Đáp: Đúng, con đă hiểu được ư của Thầy nói về thế giới siêu h́nh. C̣n có sắc thân này c̣n có cảnh giới siêu h́nh, nếu sắc thân này mất, th́ cảnh giới siêu h́nh cũng mất.

Bởi v́ con người đang sống trong thế giới đối đăi, thế giới duyên hợp nên cái này có cái kia có, cái này mất cái kia mất.

Con ví dụ rất khéo, thế giới siêu h́nh như cái tivi đầu máy vidéo và cuốn băng quá cụ thể và rơ ràng, khiến cho mọi người đều có thể nhận ra được.

Bởi sắc uẩn nó là cái tivi, tưởng uẩn là đầu máy vidéo c̣n cuộn băng là năng lực của tưởng thức. Nên chiêm bao, mộng mị, h́nh bóng ma, quỷ, linh hồn, thần, tiên, lên đồng, nhập xác cô, cậu đều do sắc uẩn tức là thế giới hữu h́nh của chúng ta đang sống và đóng những vai tṛ trên sân khấu của tưởng uẩn, tạo ra những h́nh ảnh sống động khiến cho mọi người đều lầm tưởng là có thế giới siêu h́nh như thật. Nếu không đập vỡ sắc uẩn, tưởng uẩn và tưởng thức (tivi, đầu máy vidéo và cuốn băng) th́ ngàn đời người ta đều cho có thế giới siêu h́nh như thật.

 Ví dụ của con ở phần trên, rất chính xác khiến cho mọi người dễ nhận ra thế giới siêu h́nh do từ đâu mà có. Nếu không có sắc uẩn, tưởng uẩn và tưởng thức th́ thế giới siêu h́nh cũng không có.

Khi một người chết th́ tưởng uẩn và tưởng thức cũng tan hoại theo năm uẩn của nó, th́ thử hỏi linh hồn của con người làm sao c̣n được?

Vậy mà sự vô minh, mê muội của con người không thấy như thật, nên cho người chết c̣n có linh hồn bất tử luôn luôn đi tái sanh luân hồi th́ thật là sống trong mơ mộng.

Do không chân thật nhận ra bằng ư thức, mà chỉ nhận qua trạng thái tưởng uẩn và tưởng thức của chính bản thân ḿnh lưu xuất. V́ thế, mà thế giới siêu h́nh không một ai dám xác nhận thế giới siêu h́nh không có. Thậm chí, cho đến các nhà khoa học dù ở phương Đông cũng như ở phương Tây, không có một nhà khoa học nào dám khẳng định không có thế giới siêu h́nh, v́ không thể đem khoa học chứng minh chính xác được những hiện tượng xảy ra của tưởng uẩn và tưởng thức.

Những nhà ngoại cảm đă mang đến những hiện tượng siêu h́nh, khiến cho các nhà khoa học không thể giải thích được, nên đành phải im lặng, nhưng cũng không dám bảo rằng có, cũng không dám bảo rằng không. Nếu bảo không có th́ không giải thích được những hiện tượng siêu h́nh th́ ai tin cho, c̣n bảo rằng có th́ không chứng minh được những hiện tượng như sương, như khói, không gian và thời gian không bị chia cắt và trải dài là cái ǵ?

Khi các nhà khoa học không chứng minh những hiện tượng của tưởng uẩn được là v́ trí tuệ của các nhà khoa học c̣n trong sự hạn chế của trí tuệ hữu hạn. C̣n những nhà tu hành đạt được trí tuệ vô hạn nên họ đă thấy biết rất rơ ràng các pháp trong vũ trụ. Khi họ nói ra một điều ǵ, nếu chúng ta chịu khó tư duy, suy nghĩ th́ chúng ta sẽ hiểu một cách cụ thể, không có mơ hồ và trừu tượng.

Bởi v́ trong hiện tại chúng ta nói, làm, suy nghĩ một việc ǵ th́ những việc ấy c̣n lưu lại măi trong không gian mà không bao giờ mất. V́ thế, tưởng uẩn của các nhà ngoại cảm bắt gặp những âm thinh, sắc tướng đó. Nhưng v́ là tưởng uẩn muốn tŕnh bày sự bắt gặp đó, nó phải dùng hai trường hợp:

1- Phải thể hiện qua giấc mộng (chiêm bao).

2- Phải thể hiện qua sự nhập xác (đánh thiếp, lên đồng, nhập cốt...)

Không thể mượn ư thức diễn đạt, v́ bấy giờ ư thức không c̣n hoạt động, v́ thế tưởng thức chỉ c̣n có cách thể hiện diễn đạt bằng hai cách nói trên.

Do tưởng uẩn diễn đạt như vậy, nên chúng ta mới lầm tưởng có linh hồn người về nhập xác người sống. Và c̣n nhiều hiện tượng khác nữa như: sắc tưởng (h́nh bóng như sương như khói v.v..), thinh tưởng (tiếng than khóc, tiếng kêu, tiếng hú giữa ban đêm v.v..), xúc tưởng (cảm giác ớn lạnh, gió lay bức màn, xúc tưởng loài bướm bay hoặc đậu nơi người vừa chết, v.v..).

Tất cả những hiện tượng này xảy ra, nếu không có một người tu chứng, vượt qua tưởng uẩn th́ không ai dám bảo rằng: không có thế giới siêu h́nh, có nghĩa là có đời sống sau khi chết.

Từ khi chúng tôi được sanh làm người th́ cái thế giới siêu h́nh luôn luôn được ngự trị trong chúng tôi, trên hết là cơi Niết Bàn tức là cơi Phật, kế đó là cơi Trời tức là cơi của chư Thiên ở, cơi Thần, Thánh, cơi quỷ, cơi ma, v.v.. Tất cả những cơi trên đây đều là những cảnh giới của thế giới siêu h́nh hay nói cho dễ hiểu hơn là cơi của những linh hồn người chết. Đến khi tu tập, nhập được các định, vượt qua được tưởng uẩn, chúng tôi mới nhận thấy, thế giới linh hồn của người chết không có, nhưng chúng tôi không nói ra, nói ra sợ người ta không tin. Đến khi đọc lại toàn bộ kinh sách từ Đại Thừa đến Nguyên Thủy th́ chúng tôi thấy bài kinh Pháp Môn Căn Bản trong kinh Trung Bộ, đức Phật đă xác định thế giới siêu h́nh không có. Bài kinh này là một cơ sở vững chắc để triệt tiêu thế giới siêu h́nh. Nhờ có triẹt tiêu thế giới siêu h́nh th́ mới có thể xây dựng nền đạo đức nhân bản nhân quả cho loài người trên hành tinh này. Nếu thế giới siêu h́nh có, th́ luật nhân quả không có, luật nhân quả không có th́ không thể có sự công bằng và công lư và loài người chỉ là loài ác thú.

Muốn cho cuộc sống của con người có công bằng và công lư th́ đạo đức nhân bản nhân quả phải được triển khai, biên soạn và viết ra thành bộ sách đạo đức làm người để giúp cho con người biết cách thực hiện sự công bằng và công lư trên hành tinh này.

Muốn cho cuộc sống của con người có công bằng và công lư th́ trước tiên chúng ta phải triệt tiêu thế giới siêu h́nh, như chúng tôi đă nói ở trên. V́ c̣n có thế giới siêu h́nh th́ chúng ta không thể áp dụng đạo đức nhân bản - nhân quả vào cuộc sống của loài người được.

Nếu không áp dụng đạo đức nhân bản - nhân quả vào cuộc sống của loài người th́ loài người không c̣n có sự công bằng và công lư nữa và v́ vậy cuộc sống của loài người sẽ khổ đau không cùng tận. Thế gian này là địa ngục trần gian. Cho nên, mỗi người phải có tầm nh́n xa hiểu rộng để dẹp bỏ những ảo tưởng của thế giới siêu h́nh mới mong có ngày trái đất này là Cực Lạc, Thiên Đàng v.v..

TU TẬP CÓ ĐỐI TƯỢNG

Câu hỏi của Từ Tuệ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con tu tập xả tâm bằng cách: lấy người khác thường làm khó khăn, làm đối tượng tu tập buông xả, dẹp bỏ sân, si, phiền năo. Nhờ tu tập như vậy lần lần thấy hết và những khó khăn được gỡ dần, bản thân con thấy an ổn hơn. Bây giờ con bắt đầu tập xả tâm nhớ thương tương tự như vậy. Con tŕnh Thầy cách tập luyện như vậy có được không?

Đáp: Được, đó là lấy đối tượng tu tập Định Vô Lậu, rất thực tế và cụ thể, cô Út Diệu Quang thường tạo đối tượng giúp các cháu gái tu tập Định Vô Lậu xả tâm diệt ngă, ly dục ly ác pháp này.

Cách thức tu tập này rất khó, nếu là người có chí, có nhiệt tâm, có nhiệt huyết t́m đường tu hành để giải thoát đau khổ của cuộc đời th́ một thời gian ngắn đă giải thoát hoàn toàn, đắc định và chứng Tam Minh không có khó khăn. Bằng ngược lại th́ đau khổ nhiều, tâm thường sanh oán hận. Nếu tâm thường sanh oán hận, người này đang sống trong cảnh địa ngục và cuối cùng cuộc đời tu hành của họ cũng chẳng có ích ǵ cho chính bản thân họ, lại càng làm cho họ khổ đau hơn.

Lấy đối tượng tu tập Định Vô Lậu là phải thông suốt lư nhân quả, lư duyên hợp, thân ngũ uẩn, và c̣n phải dùng pháp hướng tâm “tâm như cục đất”, phải tập tỉnh thức trong mọi công việc làm hàng ngày, phải thiểu dục tri túc; phải giữ ǵn sáu căn: mắt, tai, mũi, miệng, thân và ư không cho dính mắc sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Có tu tập như vậy kết quả giải thoát hiện tiền, mới đem lại đời sống an lạc, hạnh phúc chân thật cho chính bản thân của ḿnh.

Tu tập có đối tượng, tức là tu tập Tứ Chánh Cần, tu tập Tứ Chánh Cần có bốn phần:

1- Ngăn ngừa các ác pháp, giúp tâm không phóng dật theo các pháp bên ngoài.

2- Đoạn diệt các ác pháp, quyết tâm tận diệt các ác pháp, khi các ác pháp đă làm chướng ngại tâm, làm cho tâm phiền năo và khổ đau.

3- Luôn luôn giữ ǵn và bảo vệ tâm trong thiện pháp, không để tâm bị ác pháp xâm chiếm.

4- Lúc nào cũng t́m mọi cách để tâm được thanh thản, an lạc và vô sự.

Tu có đối tượng là người phải có nghị lực, dũng cảm, gan dạ, kiên nhẫn, bền chí. Luôn luôn chiến đấu, nhưng quyết định phải giành được phần thắng về ḿnh, nhất định là không chịu thất bại trước các ác pháp nào cả.

Người có ư chí có quyết tâm như vậy th́ chắc chắn phải thành tựu viên măn trong sự tu tập.

Tu có đối tượng tuy khó, nhưng kết quả dễ nhận ra và nhận ra rơ ràng, cụ thể. Tu tập có đối tượng không sợ bị ức chế tâm, không sợ lạc vào thiền tưởng, nhưng phải tránh sự chịu đựng.

Tu tập có đối tượng dễ phát triển tri kiến giải thoát, v́ phải thường xuyên quán xét, tư duy, suy nghĩ, làm việc nhiều về trí óc. Phát triển tri kiến giải thoát tức là phát triển trí tuệ đạo đức nhân bản - nhân quả.

Người tu tập phát triển tri kiến giải thoát là người sống đúng giới luật không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào cả. Nhờ đó tâm họ ly dục ly ác pháp một cách dễ dàng.

Tâm ly dục ly ác pháp là tâm không phóng dật. Người tu hành tâm không phóng dật là tâm giải thoát. Như Đức Phật đă dạy: “Ta thành Chánh giác là nhờ tâm không phóng dật, muôn pháp lành cũng từ nơi đó sanh ra”.

XẢ SẠCH

Câu hỏi của Hải Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Biết bao giờ tâm con mới xả sạch?

Đáp: Nếu thấu rơ đời sống con người là khổ, khổ như thật. Trong cơi đời này không có một vật ǵ là của ḿnh, là ḿnh cả. Và những vật ấy không bao giờ thường c̣n măi măi, luôn có sự thay đổi vô thường từng phút giây. V́ thế, sáng vui, chiều khóc, chiều vui, sáng khóc. Đời sống con người là vậy vui ít, khổ nhiều, có ǵ là hạnh phúc đâu; có ǵ mà tham đắm.

Nếu một người không biết nhàm chán những sự cám dỗ của cuộc đời này, để vượt ra khỏi những khổ đau của kiếp làm người, mà cứ măi đắm ch́m theo dục lạc của nó th́ khó mà buông xả sạch.

Nếu không chịu khó thường quán xét, tư duy th́ không thể nào thấu suốt lư vô thường, khổ đau và vô ngă của vạn pháp trong thế gian này, th́ làm sao buông xả sạch vạn pháp cho được.

Nếu tâm c̣n ham thích, chưa ngao ngán, chán chường cuộc sống này, th́ làm sao xả bỏ sạch được, nếu xả bỏ sạch không được th́ cuộc đời tu hành chỉ hoài công vô ích mà thôi.

Đạo Phật là đạo buông xả, có nghĩa buông xuống không dính mắc bất cứ một vật nào cả, c̣n dính mắc, dù cho một pháp nhỏ nhất như đầu mũi kim th́ cũng chưa chấm dứt sanh tử, luân hồi.

Buông xuống, không có nghĩa trốn tránh, tiêu cực trong cuộc sống, như có một số nhà học giả hiểu Phật giáo như vậy, hiểu trong tinh thần tiêu cực, thụ động. Ngược lại, Phật giáo buông xuống, nhưng có nghĩa là tích cực, năng nổ làm việc để đem lại cho ḿnh cho người có một cuộc sống ấm no đầy đủ, nhưng không v́ vật chất mà chà đạp, xâu xé lên nhau để chiếm đoạt về phần ḿnh nhiều hơn. Do đó, buông xuống có nghĩa là không dính mắc, chứ không có nghĩa tiêu cực không làm việc.

Nhàm chán không có nghĩa là chán đời. Ở đây có nghĩa là thấu suốt được vạn pháp không có thực thể, nên tâm không c̣n tham đắm và dính mắc nó nữa.

Nói buông xả có nghĩa là sống một đời sống ly dục ly các ác pháp, khiến cho tâm ḿnh thanh thản, an lạc và vô sự.

Nói buông xả, là nói đến một đời sống đạo đức nhân bản - nhân quả, không làm khổ ḿnh, khổ người. Một đời sống đức hạnh tuyệt vời mà mọi người hằng mơ ước.

Bởi vậy con hăy cố gắng xả cho thật sạch. Xả cho thật sạch th́ tâm con được an lạc, thanh thản và vô sự. Một trạng thái vô cùng an ổn và lợi ích cho muôn vạn người và tất cả chúng sanh, chứ không ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp ḥi như cuộc sống của con người hiện nay. Con người hiện nay đang sống trên sự đau khổ của muôn loài chúng sanh, nhưng vô t́nh họ nào có hay biết ǵ đâu.

Con hăy cố gắng xả cho thật sạch th́ sự tu tập của con không phí bỏ vô ích một kiếp làm người. V́ những điều con muốn biết, muốn hiểu, con đều sẽ hiểu biết tất cả. Không gian và thời gian không c̣n chia cắt và ngăn cách đối với con nữa. Rồi con sẽ hiểu: “Con người từ đâu sanh ra và chết đi về đâu?” .

Và con c̣n sẽ hiểu hơn nữa: “Không có con người sanh tử mà chỉ có sự thay đổi hợp, tan của môi trường sống theo định luật của nhân quả”.

Hăy cố gắng tu tập buông xả con ạ! Không uổng phí công tu tập, không hoài công đâu con ạ!

Buông xuống đi! Hăy buông xuống đi!

Chớ giữ làm chi có ích ǵ?

Ôm vào đau khổ vô cùng tận,

Buông xuống ngay liền vạn khổ đi.

Buông xuống đi! Hăy buông xuống đi, con sẽ thấy hạnh phúc vô cùng, vô tận.

Cuộc sống của con người chỉ là một vở tuồng trên sân khấu nhân quả, có đáng ǵ cho chúng ta đắm mê, mà không buông bỏ được phải không hỡi con? Chỉ toàn là khổ đau, khổ đau v́ tranh ăn; khổ đau v́ danh lợi; khổ đau v́ hơn thua, v.v..

Cho nên, đạo Phật ra đời dạy: “Con người bỏ xuống tất cả các ác pháp và sẽ được tất cả các thiện pháp. Đó là một bí quyết bảo vệ môi trường sống trên hành tinh này, đem lại cho muôn loài một đời sống công bằng và công lư.

TÂM NHƯ ĐẤT

Câu hỏi của Hải Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy! Tâm như cục đất có xả sạch được chưa?

Đáp: Tâm như cục đất là tâm con đă xả sạch, chừng đó con chẳng cần tu tập thiền định nào cả, lúc nào con cần nhập định là nhập được ngay liền, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức.

Tâm như cục đất, đó là sự ước muốn của con. Muốn cho tâm không c̣n tham, sân, si, mạn, nghi nữa, khi tâm không c̣n tham, sân, si, mạn, nghi nữa là tâm hết khổ đau. Sự ước muốn như vậy, nếu con không cố gắng khắc phục tâm ḿnh ly tham, đoạn ác pháp th́ làm sao tâm thành đất được.

Muốn cho tâm thành đất th́ con phải tu tập Bát Chánh Đạo. Nói tu tập Bát Chánh Đạo là nói cách thức sống ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp hay nói cách khác là sống toàn thiện.

Muốn sống toàn thiện th́ phải có Chánh kiến, Chánh kiến tức là thấy đúng nhân quả thiện và ác, chứ không phải thấy đúng, sai, phải, trái, tốt, xấu, v.v..

Trong cuộc sống bất cứ một việc ǵ xảy đến, chúng ta đều phải nh́n với ḷng thiện, ḷng từ, ḷng bi, ḷng hỷ, ḷng xả. Nếu chúng ta nh́n thấy bất cứ việc ǵ với ḷng bất thiện, ḷng không từ, không bi, không hỷ, không xả th́ ác pháp sẽ đến với chúng ta. Và v́ thế tâm chúng ta sẽ khổ đau, và như vậy tâm không thể thành đất được.

Muốn tâm thành đất chúng ta phải có sự tư duy, suy nghĩ thiện và ác trong bất cứ một sự việc ǵ xảy ra, thiện th́ chúng ta tăng trưởng để mà sống, không làm khổ ḿnh, khổ người, c̣n ác th́ chúng ta tư duy suy nghĩ quét sạch những pháp ác ấy ra khỏi tâm, để đem lại cho tâm một sự thanh thản, an lạc và vô sự. Nhờ có tu tập được như vậy th́ cuộc sống mới có an vui, hạnh phúc.

Muốn tâm thành đất th́ chúng ta khéo léo giữ ǵn tâm không phóng dật. Giữ ǵn tâm như thế nào?

Muốn giữ ǵn tâm th́ luôn lúc nào cũng phải nhớ nhắc tâm: “Tâm không được phóng dật, phải định vào thân đi” hay “Tâm định vào hơi thở đi”, hoặc “Tâm như đất ĺa tham, sân, si, mạn, nghi đi”.

Trong tất cả câu pháp hướng này, tùy theo mọi người mà chọn lấy cho ḿnh một câu phù hợp với đặc tướng, c̣n riêng Thầy th́ câu: “Tâm không được phóng dật phải định vào hơi thở đi”, th́ rất phù hợp. Tại sao vậy?

Tại v́ câu này có hai tác dụng:

1- Bắt buộc tâm không được phóng dật theo ra các pháp.

2- Bắt buộc tâm phải định vào hơi thở (định vào thân).

Nếu tâm không phóng dật là tâm thành đất, tâm thành đất là tâm bất động, tâm bất động là con đă viên măn con đường tu tập theo Phật giáo của ḿnh.

ĐỘC CƯ

 

Câu hỏi của Hải Tâm

Hỏi: Kính thưa Thầy và cô Út, xin giảng lại cho con hiểu rơ chỗ độc cư?

Đáp: Mục đích của độc cư là giữ tâm chuyên nhất vào pháp hướng để tu tập, không phóng tâm ra ngoài. Người không giữ hạnh độc cư, thường để tâm phóng dật chạy theo trần cảnh bên ngoài, sanh ra trạo cử gọi là tuôn trào, khi tâm tuôn trào chạy đi nói chuyện đầu này, đầu kia, sanh ra nhiều ác pháp, khiến cho ḿnh và người khác không an để tu tập, đó là đă phá hạnh độc cư, làm hại ḿnh hại người. Người phá hạnh độc cư, được xem là người đă tu sai pháp, khiến tâm không bao giờ buông xả được. Họ chỉ nói buông xả, chứ thật ra tâm tham, sân, si, mạn, nghi vẫn c̣n đầy đủ. V́ thế ḷng thương, ghét, thù, oán, tị hiềm, v.v.. không mất một chút nào cả. Và cuối cùng họ c̣n hiểm độc, gian xảo, hung ác hơn những người chưa tu, chỉ v́ họ bị ức chế tâm.

Đức Phật gọi tâm này là tâm phóng dật. Người tu hành c̣n để tâm phóng dật th́ không thể tu theo đạo Phật được, nên trở về sống đời sống thế gian, trau dồi đạo đức nhân quả, th́ không mang nợ của đàn na thí chủ.

Người tu hành nhập thất từ 1 tháng đến 3 tháng, rồi xả thất ra đi ta bà chỗ này đến chỗ kia... Sau đó rồi trở về tu tập lại. Nếu người nào cứ tu như vậy th́ suốt đời tu hành cũng chẳng tới đâu, v́ luôn luôn phá hạnh độc cư.

Người sống độc cư không chịu nổi là người không thể tu thiền định của đức Phật được.

Người muốn sống độc cư được trọn vẹn th́ phải giữ tâm trong các pháp hành thật miên mật, không được để có kẽ hở.

C̣n có kẽ hở th́ tâm theo kẽ hở đó mà phóng ra, khiến cho chúng ta cảm thấy cô đơn vô cùng. Từ đấy tâm dễ sanh buồn chán và sự tu hành bắt đầu chểnh mảng, tâm không c̣n thích tu nữa. Do đó, sự tu hành chỉ c̣n tu lấy lệ cho qua ngày.

Khi sống không đúng độc cư, con bị phóng tâm chạy theo ngoại cảnh. Do đó, con tu thiền dù bất cứ loại thiền nào, con cũng sẽ rơi vào tà thiền.

Tà Thiền ở đây có nghĩa là loại thiền không làm chủ được sự sống chết và không chấm dứt luân hồi tái sanh.

Bởi hạnh độc cư rất quan trọng, nếu một người tu mà không giữ ǵn trọn vẹn hạnh này th́ uổng phí một đời tu, chẳng có kết quả ǵ.

Những tu sĩ đến đây tu hành nh́n qua hạnh độc cư là biết người tu được hay không tu được. Ngày xưa, Đức Phật đă đuổi 500 vị Tỳ kheo không giữ ǵn hạnh độc cư, mặc dù đó là những đệ tử của ông Xá Lợi Phất và ông Mục Kiền Liên.

Gần 20 năm Thầy đón nhận những người về đây tu tập chưa t́m thấy một người nào giữ hạnh độc cư trọn vẹn.

VỀ KẾT QUẢ BẢN THÂN

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy! Nương theo sự chỉ dạy của Thầy, con đă y cứ vào đó mà thọ tŕ tu tập, càng ngày con càng nhận được sự thanh thản, an lạc rơ ràng hơn. Hiện nay trước một loạt các khó khăn và bất an xảy ra thường ngày con đă vững vàng, b́nh tỉnh  hơn, và đă vượt qua được. Nếu so với trước đây th́ khó khăn lắm con mới làm chủ được. Tất cả những ǵ con làm là đều do ánh sáng trí tuệ của Phật, của Thầy chỉ dạy, con hiểu ra rằng chỉ có sống đúng đạo đức nhân bản bằng những giới luật hằng ngày th́ ta mới có bản lĩnh và nghị lực để vượt qua được mọi sóng gió của cuộc đời. Tuy kết quả chưa được to lớn nhưng cũng là một sự khích lệ, động viên để con vững bước trên con đường ḿnh đă chọn.

Kính thưa Thầy, trong khi tu tập thực hành có nhiều lúc con phải ḱm nén, những giọt nước mắt trước sự tấn công của ác pháp, v́ hiện tại con chưa đủ đạo lực để vượt qua. Nhưng qua những lần như vậy con lại cứng cáp hơn, mạnh mẽ hơn. Con luôn tự nhủ nếu ḿnh chùng bước trước mọi ác pháp th́ ḿnh sẽ măi măi trôi lăn trong khổ đau vô tận. Những lần như vậy con lại nghĩ đến Thầy, đến cô Út với tất cả tấm ḷng kính trọng vô biên trước mọi khó khăn, cực nhọc mà Thầy và cô đă trải qua. Do vậy, trong lúc học đạo làm người có những việc con chưa làm được, c̣n phạm phải những lỗi lầm không đáng có. Ví dụ, như vẫn c̣n hay căi lại mẹ hay lời nói không được đẹp tai, dịu dàng lắm, v.v.. Mỗi lần như vậy con thật sự xấu hổ với bản thân. Hôm nay con viết những ḍng này kính bạch lên Thầy những việc con chưa làm được mà tự nơi tâm con không thể nói hết được, kính xin Thầy từ bi hoan hỉ tha thứ và chỉ dạy.

Đáp: Mặc dù con rất cố gắng khắc phục tâm ḿnh, nhưng gặp những pháp cực ác th́ không sao làm chủ được. Đó là nghiệp lực sân hận con đă huân tập nhiều đời, nhiều kiếp, nó đă thành khối. V́ thế, muốn tu tập quét cho thật sạch khối nghiệp lực này th́ phải kiên tŕ, bền chí tu tập với một ư chí sắt đá hằng ngày phải thường nhắc câu pháp hướng “Tâm như đất, tham, sân, si phải chấm dứt”, mỗi lần vấp ngă th́ con hăy đứng lên tiếp tục tu tập nữa; mỗi lần vấp ngă là mỗi lần rút ra nhiều kinh nghiệm xả tâm; mỗi lần vấp ngă là mỗi lần giúp con tỉnh giác nhận được ác pháp ngay liền nơi con và thiện pháp nơi người; mỗi lần vấp ngă là mỗi lần pháp hướng tâm hiện ra như một người bạn lành tốt bụng nhắc con, khiến cho tâm con được an ổn ngay liền; mỗi lần vấp ngă là mỗi lần trí tuệ tri kiến giải thoát của con phát triển, nếu con biết cách triển khai. Nhờ đó mà tâm hồn con thanh thản, an lạc và vô sự.

Một người tu theo đạo Phật mà sợ gặp ác pháp, thường tránh né, t́m chỗ an ổn để tu tập, th́ khó mà xả tâm, thường bị ức chế tâm.

Mục đích của đạo Phật là tâm bất động trước các ác pháp. Muốn tâm bất động trước các ác pháp th́ con nên nhớ hằng ngày phải trau dồi những pháp sau đây:

1-       Pháp hướng tâm “Dẫn tâm vào đạo chứ đừng dẫn đạo vào tâm”, nghĩa là tu tập nhiều chứ đừng học nhiều, học nhiều không tu th́ chẳng ích lợi ǵ, giống như cái tủ đựng kinh sách.

2-       Triển khai trí tuệ tri kiến nhân quả “Đừng thấy mọi sự việc đúng, sai, phải, trái, mà hăy thấy nó thiện và ác”.

3-       Đừng thấy lỗi người mà hăy thấy lỗi ḿnh.

4-       Hăy khởi tâm yêu thương những người đang sống trong ác pháp.

5-       Hăy khởi tâm tha thứ những người đang sống trong ác pháp.

6-       Chúng ta lớn hơn, cao thượng hơn mọi người là nhờ ở chỗ biết nhẫn nhục, tùy thuận và bằng ḷng.

7-       Chúng ta có được một tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự, đó là nhờ biết buông xả các ác pháp.

8-       Chúng ta làm chủ được sanh, già, bịnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi là nhờ biết ly dục ly bất thiện pháp, biết diệt ngă, xả tâm, biết buông xả các ác pháp, biết giữ tâm bất động trước ác pháp và các cảm thọ và luôn luôn lúc nào cũng biết giữ tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

Một cuộc đời tu tập theo đạo Phật mà biết buông xả, tâm bất động trước các ác pháp, th́ không có một vật ǵ quư báu nhất trong đời này mà đem trao đổi được.

V́ biết tâm thanh thản, an lạc và vô sự là một vật vô giá, không có vật quư báu nào trên thế gian này hơn được. V́ thế, chúng ta hăy cố gắng tu tập, tu tập cho bằng được, v́ nó rất lợi ích cho chúng ta và cho mọi người trên hành tinh này.

TRAI HAY LÀ CHAY

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy! Trong một bài giảng về chánh tín và mê tín đăng trên nguyệt san Giác Ngộ. Ḥa Thượng Thích Thanh Từ có giảng... Trong Miền Nam các nhà sư Nguyên Thủy chỉ có ăn trai chứ không ăn chay. V́ trong khi hành hạnh khất thực, ai cho ǵ ăn nấy kể cả thức ăn mặn. Có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Trai là một danh từ chữ Hán.

Chay là một danh từ chữ Việt.

Nghĩa của “trai” và “chay” th́ đồng nghĩa, có nghĩa là không ăn thịt chúng sanh. V́ thế mới có “nguyệt trai”, “nhật trai”.

Nguyệt trai là một tháng ăn chay (không ăn thịt chúng sanh), như: tháng giêng, tháng bảy và tháng mười.

Nhật trai là ngày ăn chay (không ăn thịt chúng sanh) như:

1- Nhị trai

2- Lục trai

3- Thập Trai

- Nhị trai: Gồm có ngày rằm và ngày 30 Âm lịch.

- Lục trai: Gồm có ngày 8, 14, 15, 23, 29, 30 Âm lịch.

- Thập trai: Gồm có các ngày như: 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 Âm lịch.

Theo chữ nghĩa th́ Bắc Tông Đại Thừa hiểu chữ trai là “ăn chay”. Nam Tông Tiểu Thừa hiểu chữ trai là “giới cấm”, cho nên mới có Thọ Bát Quan Trai, ngọ trai.

Nhưng nói đến giới cấm th́ không nói đến chay và mặn, mà chỉ nói đến thiện và ác. V́ vậy, trong giới luật của Phật mới có “Giới thứ nhất dạy chẳng sát sanh”, nghĩa là cấm không cho giết hại chúng sanh, không bảo, không xui bảo người khác giết hại.

Ở đây, có nghĩa giới luật cấm các vị Tỳ Kheo không được ăn thịt động vật, v́ ăn thịt động vật tức là bảo người khác giết hại chúng sanh.

Cho nên, chữ trai bên Nam Tông Tiểu Thừa cũng có nghĩa là ăn chay, nhưng các sư biến chữ trai thành nghĩa khác như HT Thích Thanh Từ giảng như vậy là để tùy thuận với các sư Nam Tông, nuốt trôi những miếng thịt động vật.

ỨC CHẾ TÂM

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy! Theo sự hiểu biết của con, th́ ức chế vọng tưởng là do những niệm khởi lên mà ta không tỉnh thức quán xét xem là thiện hay ác pháp, để xả bỏ. Vội vàng đoạn diệt không cần truy cập nó thuộc về lậu hoặc nào.

Vả lại, ức chế tâm c̣n do sự ham muốn dục lạc, khi dục lạc ham muốn khởi lên ta cũng không quán xét lợi hay hại để xả bỏ mà chỉ có nhẫn chịu, v́ thế, nếu có dịp nó sẽ bung ra.  Có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Đúng vậy, sự ức chế tâm có hai cách:

1- Chịu đựng mọi sự giận hờn, căm tức, phiền năo, sợ hăi, lo rầu, v.v.. mà không bao giờ nói ra cho một ai biết. Sự chịu đựng này gọi là kham nhẫn.

Ví dụ: Trong gia đ́nh có người chồng độc tài luôn luôn bắt vợ con phải tuân theo lệnh của ḿnh, sai bảo đâu làm đó, không được làm trái. Những người bị bắt buộc như vậy gọi là chịu đựng, những người chịu đựng là những người ức chế tâm.

Sức chịu đựng sẽ đến một mức độ nào đó, th́ không c̣n chịu đựng được nổi. Khi không c̣n chịu đựng nổi th́ thần kinh hưng phấn, thần kinh hưng phấn th́ người ấy bị rối loạn thần kinh, bị điên khùng, bị tẩu hỏa nhập ma, v.v..

Suốt thời gian chịu đựng th́ người ấy là người khổ đau tận cùng của cuộc đời ḿnh.

2- Người dùng một đối tượng, một pháp môn để ức chế tâm để không khởi niệm vọng tưởng, đó là loại ức chế có pháp môn, có phương cách.

Loại ức chế tâm này có đường lối, có phương pháp để dẫn tâm vào thế giới tưởng như: Thiền xuất hồn, Thiền Yoga, Thiền Đại Thừa, Thiền Đông Độ, Thiền Lục Diệu Pháp Môn, Mật Tông, Tịnh Độ Tông, v.v..

Cho nên, các pháp môn này đều xây dựng cho ḿnh một thế giới siêu h́nh mơ hồ, trừu tượng, ảo giác, khiến cho con người phải mê mệt với nó, nhưng không ích lợi thiết thực cho đời sống.

Chỉ riêng có thiền của Phật giáo Nguyên Thủy th́ xả tâm “ly tham đoạn ác pháp”. Do đó, người tu hành sẽ không bị ức chế tâm và đạt được kết quả giải thoát làm chủ sanh, già, bịnh, chết, chấm dứt tái sanh luân hồi.

KINH NĂM BA

Hỏi: Kính thưa Thầy! Trong kinh Trung Bộ, phẩm kinh Năm Ba con không hiểu rơ lắm, xin Thầy giảng tóm tắt ư nghĩa cho con được không?

Đáp: Bài kinh Năm Ba là bài kinh đức Phật dùng để bài bác 62 luận thuyết của tà giáo ngoại đạo, tức là 62 pháp môn của các tôn giáo đương thời trong đất nước Ấn Độ. Và cuối cùng đức Phật đưa ra giáo thuyết của ḿnh, tức là bốn chân lí: “Khổ, Tập, Diệt, Đạo” để giải quyết sự khổ đau của con người trên hành tinh này rất thực tế và cụ thể.

“Ở đây, này các Tỳ Kheo, vô thượng tịch tịnh tối thắng đạo này được Như Lai chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt và nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ”.

Tất cả giáo lư của đạo Phật không ngoài bốn chân lí: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Nó là một chân lí của loài người để con người rèn luyện tu tập thoát ra khỏi bản chất loài cầm thú, để trở thành con người thật sự là con người và cao hơn nữa để trở thành những bậc Thánh nhân.

Ngoài bốn chân lí này, nếu c̣n có giáo pháp nào khác, th́ coi chừng đó là tà giáo ngoại đạo xen vào trong Phật giáo. Chúng ta là những hàng đệ tử của Phật phải đề cao, cảnh giác và loại trừ chúng ra khỏi.

Bốn chân lư của đạo Phật là dựng lại một nền đạo đức nhân bản nhân quả cho loài người, khiến cho con người trên hành tinh này sống không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ tất cả chúng sanh, biến hành tinh này trở thành Cực Lạc, Thiên Đàng.

Bài kinh Năm Ba là bài kinh xác định giáo pháp của đức Phật và giáo pháp của ngoại đạo không có giống nhau một chút xíu nào cả, khiến cho người Phật tử tinh ư sẽ không thể lầm lạc được.

Thế mà hiện giờ người ta đă lầm lạc lấy giáo pháp của ngoại đạo làm giáo pháp của Phật để tu hành và c̣n khinh thường giáo pháp của Phật là Tiểu Thừa, thật là đau ḷng. Phải không con?

PHƯƠNG PHÁP TU TẬP CHO NGƯỜI GIÀ

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy, ở ngoài này có bác Hạnh Nghĩa, rất nổ lực tu học, nhưng chưa biết cách thức tu học cho phù hợp với bản thân và gia cảnh. Bác có hỏi con nhưng con không biết trả lời ra sao, mà chỉ góp ư với bác hăy sống đúng giới hạnh của người cư sĩ đó là nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng. Kính xin Thầy từ bi chỉ dạy cho Bác (Bác năm nay gần 70 tuổi, Nhưng vẫn khỏe mạnh và b́nh thường).

Đáp: Con nên chỉ dạy cho bác cách tu tập giữ tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

Dạy cho bác câu pháp hướng tâm: “Tâm như đất, ĺa tham, sân, si là hết khổ”, để hằng ngày bác huân tập câu pháp này sẽ có hiệu quả giải thoát trong những ngày cuối cùng của đời bác.

Lúc bệnh tật khổ đau cũng như lúc gặp các ác pháp th́ con nên dạy bác nhắc tâm: “Tâm phải bất động trước các ác pháp, không được sợ hăi, hăy b́nh tĩnh, hăy gan dạ, tất cả đều là do nhân quả”.

Cuối cùng, con nên dạy bác mỗi tháng nên Thọ Bát Quan Trai một ngày. Ngày ấy là ngày tập làm Phật.

TU TẬP GIỚI CHƯA ĐỦ

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy! Tại sao trong một câu nói: Tất cả những ai từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói lưỡi hai chiều, từ bỏ sân, tâm có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung họ đều sanh vào thiện thú, thiện giới, cơi đời này. Như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy .

-         C̣n câu nói: Ta đă thấy ở đây có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... như trên. Như vậy, Ta chấp nhận cho vị ấy.

Đáp: Cùng một câu nói, một ư nghĩa như nhau, mà được Đức Phật chấp nhận và không chấp nhận. Chỉ v́, người thực hiện pháp đó lại khác nhau (người tu sĩ và người cư sĩ).

Người tu sĩ mà thực hiện pháp thiện đó chưa đủ để giải thoát, chỉ mới được sanh vào thiện thú, thiện giới ở cơi đời th́ Đức Phật không chấp nhận.

C̣n người cư sĩ tại gia thực hiện pháp thiện đó để được sanh vào thiện thú, thiện giới ở cơi đời này th́ Đức Phật chấp nhận.

Tóm lại, câu này Đức Phật xác định tu tập Giới luật chưa đủ để giải thoát hoàn toàn, mà phải tiếp tục tu tập Định và Tuệ.

DUYÊN NHÂN QUẢ

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, vợ chồng lấy nhau, người ta bảo rằng, đều có số định cả, có nghĩa là người này phải lấy người mà có số định với ḿnh, không được lấy người nào khác. Có phải vậy không thưa Thầy ?

Đáp: Không phải số định mà cũng không phải số mệnh mà là duyên nhân quả nợ vay trong thuận cảnh, cũng như trong nghịch cảnh.

Ví dụ: Kiếp trước chúng ta đối xử với những người làm công cho ḿnh quá khắc nghiệt, đánh đập, chửi mắng, trả tiền công ít, v.v..

Kiếp này họ làm vợ hoặc chồng hoặc con cái trong nhà, họ phá tán của cải tài sản và c̣n chửi mắng đánh đập, khiến cho gia đ́nh đau khổ bất an.

Cho nên, kiếp trước gieo nhân nào th́ kiếp này phải trả quả nấy. T́nh nghĩa vợ chồng con cái đều do nhân quả, chứ không phải do số mệnh duyên nợ tiền định. V́ không có tiền định. Tiền định là cái vật ǵ? Ông ǵ? Ông Ngọc Hoàng Thượng Đế ư ?

V́ không hiểu môi trường sống nên người ta đặt ra những câu hỏi để có hỏi mà không có trả lời: “Con người từ đâu sanh ra? Chết đi về đâu?”.

Do không hiểu, người ta dùng tưởng tri, tạo ra một Đấng Vạn Năng, một ông Ngọc Hoàng, một ông Trời, một ông Tạo Hóa sanh ra vạn vật trên hành tinh này. Lại có thuyết cho rằng từ trong Đại ngă vạn vật sanh ra và mỗi vật được sanh ra là tiểu ngă. Những thuyết này mơ hồ và trừu tượng không thể trả lời hai câu hỏi trên. Và v́ vậy, hai câu hỏi trên vẫn c̣n đóng kín cửa.

Duyên tiền định giữa đôi vợ chồng cũng là sự tưởng tri của con người đặt ra, chứ không có số định, số mệnh.

Theo đạo Phật con người từ nhân quả sanh ra, chết trở về nhân quả, chứ không từ đâu đến và chết cũng không đi về đâu.

C̣n duyên vợ chồng, con cái đều là do vay nợ của nhân quả theo định luật của nhân quả “Vay th́ phải trả”.

Vậy, chồng vợ có số mệnh là không đúng, mà có nợ nhân quả ác hay thiện với nhau là đúng.

Nh́n cuộc sống của họ chúng ta có thể biết chắc chồng nợ vợ hay vợ nợ chồng một cách cụ thể và rơ ràng.

V́ thế, trong cuộc đời này vợ chồng thường làm khổ cho nhau nhiều hơn là đem lại hạnh phúc an vui cho nhau. Họ sống với nhau phần đông là chịu đựng.

HỒN VỀ NHẬP CÔ ĐỒNG

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, con đi gọi hồn, cô đồng nói đúng được tên tuổi người trong gia đ́nh con, thưa Thầy như vậy là thế nào?

Đáp: Cô đồng dùng tưởng thức của ḿnh giao cảm với tưởng thức của con, nên nói đúng tên họ tuổi người trong gia đ́nh con, chứ không phải có linh hồn người chết trong gia đ́nh con về nhập cô đồng.

Người chết, đó là danh từ chỉ cho các duyên nhân quả đă tan hoại hết, tức là thân ngũ uẩn đă tan ră không c̣n sót một duyên nào, th́ c̣n đâu có linh hồn người chết.

Trong thân người đâu có linh hồn, linh hồn là một danh từ chỉ cho một h́nh ảnh ảo tưởng do năng lực tưởng tạo ra. Trong thân người chỉ có năm duyên như: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mà trong kinh Phật gọi là thân ngũ uẩn. Khi người chết các duyên tan ră, đâu c̣n một duyên nào th́ làm sao gọi là người chết c̣n có linh hồn, như trên chúng tôi đă nói.

Cái mà người chết c̣n lại là hành động thiện ác, hành động thiện ác, tức là nhân quả. Khi người chết là nhân quả trở về với nhân quả. V́ thế Đức Phật dạy: “Chết trở về nhân quả”. Như vậy là đă trả lời câu hỏi thứ hai của các con.

Hành động nhân quả không thể gọi là linh hồn được. Thế sao có linh hồn nhập đồng nhập cốt?

Không có linh hồn nhập đồng, nhập cốt, mà chỉ có tưởng thức của đồng, cốt giao cảm rồi tự xưng ḿnh là ông này, bà kia chết oan, chết ức, chết tức, chết tối, v.v.. nhập vào. Người không có trí tuệ vô hạn, không hiểu biết được, nên vội tin theo lời của đồng, cốt cho là có linh hồn người chết về nhập, báo cho gia đ́nh biết mọi sự xảy ra đúng như thật.

Nhờ báo lại những sự việc xảy ra cách 5 năm hay 10 năm đều đúng như thật, mà các nhà khoa học không sao chứng minh được, nên cũng phải đành tin theo và cho rằng có thế giới siêu h́nh, có sự sống sau khi chết.

Như chúng tôi cũng thường nói: Chỉ duy nhất trên thế gian này có một người không chấp nhận thế giới siêu h́nh, đó là đức Phật. Ngài cho rằng: “Có thế giới siêu h́nh th́ con người không bao giờ tu hành giải thoát khổ đau được và Phật giáo cũng không có mặt ở trên đời này”.

Bởi v́, thế giới của chúng ta đang sống là do các duyên hợp, cho nên các pháp không có bản thể thường hằng. Các pháp chỉ là vô thường thay đổi liên tục, tan hợp không dừng nghỉ.

Cho nên, các con đừng tin có linh hồn, tin có linh hồn là mê tín. Linh hồn chỉ là một sản phẩm của tưởng thức tạo ra. Đối với trí tuệ hữu hạn của loài người không thể hiểu được năng lực của tưởng, nếu lư giải như khoa học th́ không thể lư giải được, nhưng có thể lư giải ở góc độ khác mà khoa học th́ chưa đến, nên chưa chứng minh được.

XIN QUẺ

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính bạch Thầy, mấy năm con bị ốm đau. Đầu năm con đến chùa xin quẻ thẻ. Quẻ thẻ cho biết suốt cả năm, nó nói đúng 60%. Thưa Thầy trong đó có câu ghi như sau:

“Đất ở nhà ngươi có người Thần

Ta về mau đi mới được yên”.

Con xin thêm vài quẻ thẻ đầu năm đều nói lên như vậy. Con làm cơm canh cúng cũng không thấy khỏi. Sau đó con phải đến nhờ cô đồng gọi hồn xem con ốm v́ sao?

Kính bạch Thầy, sau đó hồn lên nói con bị ốm bệnh về âm, v́ có ông Thần đất ngay nhà con ở, ông ấy làm cho con ốm. Sau đó cô đồng bảo con về làm lễ tại nhà và rước vong xuống thờ điện nhà cô đồng, rồi cô rước vong đi chùa Hương. Cho họ ăn lộc chùa Hương, v́ ông Thần này là người Tàu chết cách đây 387 năm thành ông Thần Hoàng .

Kính bạch Thầy, sau con cũng về làm đúng như vậy th́ thấy bệnh có đỡ và các năm sau đó con cũng xin quẻ thẻ mà không thấy quẻ thẻ nói ǵ về ông Thần đó nữa. Con kính bạch Thầy, xin Thầy giải thích cho con biết.

Đáp: Tất cả những quẻ thẻ đều ghi những sự việc xảy ra chung chung trong đời người, không xác định cụ thể, giống như lời sấm. Chỉ có thể đúng 50 đến 60 phần trăm.

Khi người đến chùa hay đến điện thờ của ông đồng, bà cốt xin thẻ đều là những người có tâm trạng bất an, ư thức không c̣n chủ động, thường sống trong tưởng. Khi đó, người lắc hoặc rút thẻ do tưởng giao cảm khiến cho quẻ thẻ rút ra hoặc lắc được giống như tâm trạng của ḿnh đang bị ảnh hưởng truyền thống mê tín ông Thần này, bà Chúa kia, linh hồn nọ, v.v..

Căn bệnh của con thuộc về loại bệnh tinh thần (tinh thần bệnh th́ thân bệnh), v́ thế con tự cúng lễ th́ không hết bệnh mà nhờ có cô đồng rước vong vị thần đó về chùa Hương để hưởng lộc chùa. Cô đồng đă giải tỏa được tâm bệnh của con, cho nên bệnh con hết.

Tóm lại, v́ ảnh hưởng mê tín thế giới siêu h́nh có ông Thần này, bà Chúa nọ, oan hồn kia, v.v.. đă mang đến cho con người biết bao nhiêu là sự khổ đau về thế giới này “THẾ GIỚI TƯỞNG”, thế giới không có thật, chỉ v́ tưởng của ḿnh và tưởng của người khác giao cảm mà biết đúng những sự việc xảy ra của ḿnh, do đó nên dễ bị kẻ khác lừa đảo, khiến cho ḿnh khổ lại càng khổ hơn. Ḿnh dại khờ tự ḿnh làm khổ cho ḿnh mà không biết, chứ quỷ Thần làm sao làm khổ ḿnh được.

Người ta đâu biết rằng sự khổ đau hay hạnh phúc đều do hành động nhân quả thiện ác của chính bản thân ḿnh tạo ra.

Cho nên đức Phật dạy: “ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp” là để chúng ta dừng những hành động nhân quả ác. Dừng những hành động nhân quả ác có nghĩa là dừng những điều đau khổ cho chính ḿnh và mọi người, chứ không có Thần, Thánh, quỷ, ma bắt con người đau bệnh và làm ra tai nạn khổ ách.

Về sau con xin quẻ thẻ không có nói đến vị Thần đó nữa, là v́ bệnh tinh thần tưởng của con đă khỏi hẳn, nên tưởng của con không c̣n giao cảm với những quẻ thẻ nói đến Thần, chứ không phải vị Thần ấy đă đi khỏi nhà con.

Hiện giờ, những người mê tín là những người sống trong tưởng ấm, sống trong ảo giác, sống trong trừu tượng, mơ hồ, hư hư, thực thực. Những hạng người này dễ bị kẻ khác lừa đảo trong thế giới siêu h́nh.

Trong một cuộc cách mạng mê tín, nếu không giải thích được những hiện tượng siêu h́nh khiến cho con người càng mê tín lại càng mê tín hơn.

Muốn quét sạch những truyền thống mê tín, dị đoan, lạc hậu th́ phải có cơ sở giải thích những hiện tượng siêu h́nh kỳ lạ th́ mới có thể phá và quét sạch chúng. C̣n nếu chưa có cơ sở vững chắc th́ không nên động đến chúng. Động đến chúng mà không giải thích được th́ sự mê tín càng phát triển mạnh.

Cuối tập 3 Đường Về Xứ Phật, quư bạn sẽ được đọc một bài viết về thế giới siêu h́nh của một nhà trí thức học giả miền Bắc. Với mục đích viết bài này là một sự nghi ngờ quá lớn, tác giả thuật lại những hiện tượng siêu h́nh xảy ra qua trung gian của những nhà ngoại cảm, là để dựng lại hay nói cách khác là yêu cầu các nhà khoa học chứng minh, làm sáng tỏ: “có sự sống sau khi chết”, trong cuộc đi t́m hài cốt liệt sĩ của em ḿnh.

Nếu không được giải thích rơ ràng th́ sự mê tín càng lúc càng phát triển mạnh th́ những người hiền lành dễ bị những thầy phù thủy, đồng, cốt và các nhà tôn giáo lừa đảo bằng những hiện tượng siêu h́nh kỳ lạ “Tiền mất tật mang”.

NHÀ NGOẠI CẢM

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, ở Hà Nội bây giờ có một ông ở khu Kim Liên, người ta gọi là cậu Liên (được bộ công an quận chấp nhận). Ông có khả năng đi t́m mồ mả thất lạc và hài cốt của liệt sĩ. Kể cả những người con đang sống thất lạc. Đây là hiện tượng có thật. Cậu c̣n chữa được cả bệnh.

Vậy con kính mong Thầy giải đáp cho chúng con được hiểu rơ hơn.

Đáp: Con hăy đọc Đường Về Xứ Phật tập 3 đoạn cuối: “Những hiện tượng các nhà ngoại cảm đi t́m hài cốt liệt sĩ” th́ con sẽ rơ và cũng trả lời câu hỏi này của con.

SỰ LỪA ĐẢO CỦA ĐỒNG CỐT

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, ở chùa làng con thôn Cư Đ́nh, xă Việt Hưng. Vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch, hay đội bát nhang và hầu đồng. Hôm ấy con có đi dự, đến lúc có một bà đang đội bát nhang, tự nhiên hai tay cứ vả vào mặt ḿnh, các đệ tử của bà cứ khẩn vái kêu van măi mới thôi. Hỏi ra mới biết là bà ấy trước đây có đội bát nhang, sau bỏ mấy năm không đội nữa, đến nay đội lại nên bị Ngài phạt.

Đáp: Đó là tṛ bịp, lừa gạt người khác của các thầy phù thủy, thầy bùa, đồng, cốt v.v.. Nếu chúng ta đi vào bề trái thế giới của những hạng người này th́ chúng ta sẽ thấy được những sự lừa đảo, gian xảo, có nhiều thủ thuật và những thủ đoạn tinh vi để tạo ra sự mê tín. Nhờ có những người vô minh không rơ mánh khóe gian xảo, nên những đồng cốt giả hiệu dễ bề lừa đảo, cướp giựt tiền của những người đang gặp tai nạn hay bệnh tật v.v.. Nhất là kiến thức c̣n cạn cợt.

Có dịp Thầy sẽ kể cho các con nghe, những tội ác gian xảo của bọn người lợi dụng sự giao cảm của tưởng thức làm tiền bất chánh mà pháp luật không bắt tội họ được.

Vả vào mặt ḿnh để tạo uy thế cho ông Thần hay Cô, Cậu rất hiển linh, khiến cho mọi người phải tin và cúng bái tiền bạc.

Con cũng là một người bị lừa đảo trong số người đến dự ngày hôm đó.

Đối với đạo Phật th́ các con không nên tin một cách mù quáng về thế giới siêu h́nh mà hăy tin những ǵ có lợi ích cho ḿnh cho người; mà hăy tin những ǵ mà ư thức con phán xét thấy như thật, biết như thật th́ mới tin.

Đối với đạo Phật th́ các con nên tránh xa những hạng người bói khoa, đồng cốt, thầy phù thủy, thầy bùa, thầy ngải, thầy cúng bái, tụng niệm v.v.. Những hạng người này là những hạng người không tốt, họ có nhiều mánh khóe, gian xảo, lừa đảo, họ là những hạng người ác.

Đức Phật thường dạy: “Làm bạn với thiện xa lánh với ác”. Những lời dạy này con nên ghi nhớ: “Chọn bạn mà chơi, những người hay nói xấu kẻ khác là người ác, không nên thân cận với họ”.

TƯỞNG LỰC

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, con có một cô em gái cũng bị Ngài phạt, Ngài trói gh́ cánh khuỷu tay, nhưng không có dây. Và trói đầu chặt lắm không gỡ ra được. Chính miệng cô em con nói ra như vậy. Chúng con là người vô minh không hiểu. Vậy chúng con tha thiết kính xin Thầy giảng giải cho chúng con hiểu rơ.

Đáp: Cô em gái của con là người chịu ảnh hưởng mê tín nặng, nghe đâu th́ dễ tin theo đó, có nghĩa là cô em của con rất tin có linh hồn người chết, do ḷng tin ấy mà tưởng uẩn của cô rất bén nhạy, thường hoạt động thay cho ư thức. V́ thế, ư thức thường nhường lại cho tưởng thức làm việc, cho nên tâm tính cô em thường sống trong niềm tin hơn là sống với lư trí phân biệt phán xét. Do đó, cô bị tưởng lực của chính cô tạo ra trạng thái như bị trói chặt hai khuỷu tay của cô.

Sự bị trói hai khuỷu tay của cô em là một trạng thái tưởng của cô em và chính cô không những cảm giác và c̣n thấy ḿnh đang bị trói rất chặt.

Mọi người bên ngoài không hiểu tưởng là có (Thần Tàu) bắt phạt cô em của con đă có sự lầm lỗi với Ngài.

Với trường hợp này xảy ra khiến cho mọi người ai nấy đều tin có Thần, Thánh, ma, quỷ và linh hồn người chết thật sự. Nói chung là nhờ có những trạng thái của tưởng uẩn hoạt động một cách mầu nhiệm mà trí hữu hạn của con người không thấu rơ được. Do đó, thế giới siêu h́nh mới thành h́nh.

Thế giới siêu h́nh không thể lấy ư thức mà hiểu nó được, không thể phân tích bằng phương pháp khoa học như khám phá phân tích vạn vật bằng phương pháp vật lư hoá học của thế giới hữu h́nh được.

Cho nên, khoa học và trí hữu hạn của con người phải đành bó tay trước những hiện tượng kỳ lạ của tưởng uẩn (tưởng thức).

Cái kỳ lạ của thế giới siêu h́nh, chứ sự thật th́ không có kỳ lạ ǵ hết. V́ ư thức của con người bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian. C̣n tưởng thức th́ không bị hạn cuộc bởi không gian và thời gian, nên nó mầu nhiệm với ư thức, mà không mầu nhiệm với tưởng thức, với tâm thức.

Sự linh thiêng của thế giới siêu h́nh đối với hạng người tin nó, có những người không tin th́ không có thiêng. Người sống trong trí tuệ ư thức th́ không bao giờ tin có thế giới siêu h́nh, là những người sống không mê tín. Người thường sống trong trí tuệ tưởng thức là người tin có thế giới siêu h́nh, là những người mê tín.

V́ thế một người c̣n đang sống th́ luôn luôn có hai thế giới hữu h́nh và vô h́nh, c̣n khi chết th́ hai thế giới này cũng không c̣n.

Một người chết là tất cả đều hết. Hành động nhân quả hằng ngày đều trả về nhân quả. Và tất cả những hành động nhân quả ấy tiếp tục lại luân hồi tái sanh làm chúng sanh khác, thứ hai, thứ ba và thứ vô lượng kiếp.

Người nào tin có thế giới siêu h́nh là người sống trong tưởng thức, phán xét bằng tưởng tuệ, là người không trí tuệ, thường sống trong ảo ảnh, mơ hồ, trừu tượng, thiếu thực tế, thiếu khoa học. C̣n người không tin có thế giới siêu h́nh là người sống trong ư thức, người có trí tuệ, người có óc khoa học, thích sống thực tế.

Người sống trong tưởng tuệ thường bị người khác lừa đảo, thường sống trong cảnh khổ đau hơn người sống trong trí tuệ.

Bệnh tật, tai nạn xảy ra th́ những người sống trong tưởng thức, khổ đau nhiều hơn người sống trong ư thức.

Người sống trong tưởng thức thường tốn hao tiền của một cách ngu si, “tiền mất tật mang”. C̣n người sống trong ư thức khó ai lừa đảo họ được.

Chính những nhà ngoại cảm, đồng, cốt, các tôn giáo và các hệ phái tư tưởng mang màu sắc siêu h́nh khác nhau, đều bị sự lừa đảo của tưởng thức mà họ không hề hay biết.

THẦN GIAO CÁCH CẢM

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, con có một ông chú họ, có thể nói được tầm vóc và tính t́nh của một người tương lai sẽ làm dâu của con. Mặc dù chưa bao giờ gặp mặt. Đă ba năm rồi khi con dâu con về nhà th́ con suy ngẫm đúng hệt như ông đă nói.

Vậy con kính bạch Thầy, Thầy dạy cho con hiểu thêm.

Đáp: Đây cũng do tưởng ấm của ông chú này đă giao cảm được với cô con dâu của con mà chưa bao giờ biết mặt. Tất cả những sự việc có vẻ siêu h́nh và mầu nhiệm, mà hiện nay con người không thể giải đáp được, chỉ v́ nó vượt ra khỏi tầm hiểu biết của ư thức loài người.

Chỉ có những người tâm không c̣n tham, sân, si th́ mới thấy được năng lực mầu nhiệm của tưởng ấm loài người, thật là kỳ lạ và mầu nhiệm. Nhưng khi một người đă chết th́ thế giới của tưởng ấm kia cũng không c̣n.

Trong môi trường sống trên hành tinh này, nó đầy đủ các duyên vận chuyển hợp tan không bao giờ ngưng nghỉ. Do sự vận chuyển hợp tan này mà vạn vật phải vô thường.

Sự vô thường này chia làm hai mặt:

1/ Sự vô thường về hữu h́nh.

2/ Sự vô thường về vô h́nh.

Sự vô thường về hữu h́nh th́ ai cũng rơ, đó là sự sanh diệt của vạn hữu. C̣n sự vô thường về vô h́nh th́ ít ai biết đến. Và người ta c̣n lầm chấp cho rằng thế giới vô h́nh th́ trường tồn vĩnh viễn.

Khi con người chết ở thế giới hữu h́nh th́ họ trở về thế giới vô h́nh vĩnh cửu. Ở thế giới hữu h́nh c̣n chưa hiểu hết th́ làm sao hiểu được thế giới vô h́nh. V́ thế, người ta hiểu thế giới vô h́nh chỉ là một sự “tưởng hiểu”. Tưởng hiểu nên thế giới siêu h́nh không thật sự có.

TƯỞNG ẤM

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, tưởng ấm là ǵ? Tưởng ấm ở đâu?

Đáp: Tưởng ấm là một duyên trong thân ngũ ấm. Thân ngũ ấm gồm có:

1/ Sắc ấm

2/ Thọ ấm

3/ Tưởng ấm

4/ Hành ấm

5/ Thức ấm

Năm ấm này hợp lại thành thân người. V́ thế chia ra làm hai phần:

1/ Về phần hữu h́nh th́ duy nhất chỉ có sắc ấm.

2/ Về siêu h́nh gồm có bốn ấm kia: Thọ ấm, hành ấm, tưởng ấm và thức ấm.

Nhưng dù thế giới hữu h́nh hay siêu h́nh đều hoạt động do phần sắc ấm, phần sắc ấm rất quan trọng nhất là bộ óc của con người. Thế giới hữu h́nh và thế giới siêu h́nh cũng do nó chỉ huy. V́ thế, khi sắc thân hoại diệt th́ bộ óc cũng hoại diệt theo. Bộ óc hoại diệt th́ thế giới siêu h́nh cũng hoại diệt theo.

Cho nên, đức Phật dạy: “Khi một người chết th́ toàn thân ngũ ấm đều hoại diệt không c̣n một ấm nào cả”.

Như vậy tưởng ấm chỉ là một duyên của thân ngũ ấm và nó ở trong thân ngũ ấm. Đó là thế giới siêu h́nh của quư vị, mong quư vị hăy bỏ đi, đừng có vô minh, tự làm khổ ḿnh mà không biết.

Thế giới siêu h́nh chẳng có ích lợi ǵ mà c̣n tai hại cho đời sống của quư vị.

Hăy bỏ xuống! Hăy bỏ xuống! Đó là một ảo ảnh, một h́nh bóng của thế giới hữu h́nh của con người.

THẤY MA

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi:  Kính thưa Thầy! Con đă được đọc quyển Vanga của Bungari. Bà Vanga này là một người mù. Bà nói gần đúng như Thầy. Nhưng có khác Thầy là bà Vanga nói rằng: Bà ấy nh́n thấy ma, và ai đến xem về người âm bà Vanga có thể nói về người chết đó hiện nay đang mặc quần áo ǵ, và đang đứng trước mặt bà ấy. Vậy con kính thưa Thầy giải thích cho con được rơ thêm.

Đáp:Vanga là một nhà ngoại cảm, trường hợp tưởng thức của bà Vanga giao cảm với những từ trường của những người chết hay nói cách khác là tưởng thức của bà bắt gặp từ trường tưởng thức của người chết c̣n lưu lại trong không gian những h́nh ảnh, âm thanh và hành động. Khi bắt gặp như vậy th́ Bà Vanga thấy người chết nói chuyện với bà, và kể lại tất cả những sự việc đă xảy ra. V́ thế, bà thấy ma và c̣n nói chuyện với ma, đó là năng lực tưởng thức của bà tạo ra con ma để kể lại cho bà nghe, và bà nói lại cho người khác nghe, chứ con “ma tưởng” của bà không thể nói cho người khác nghe được mà mượn thân miệng bà nói lại. Trường hợp này cũng giống như lên đồng, nhập cốt, nhưng lên đồng, nhập cốt th́ thân lúc lắc hoặc ợ, ngáp, v.v.. c̣n bà Vanga th́ rất tự nhiên, v́ bà bị mù mắt, nên bà thường sống với tưởng thức của ḿnh nhiều hơn ư thức.

Ở đây chúng ta nên hiểu, tưởng của bà giao cảm với người chết rồi mượn thân miệng bà nói lại cho người khác biết.

Ví dụ: Thân miệng của bà làm thông ngôn cho tưởng ấm của bà để nói lại cho chúng ta biết những ǵ đă xảy ra của một người đă chết từ lâu hay mới chết, chứ không phải có con ma thật nào nhập vào bà.

Do đó, Đức Phật đă xác định: “Thế giới siêu h́nh là thế giới của “tưởng tri” chứ không phải là “liễu tri”. Vậy các con hăy tin theo lời Phật dạy: Thế giới siêu h́nh không bao giờ có chỉ là tưởng tri của con tạo dựng ra. Các con nên cảnh giác đừng để mắc lừa người khác.

NĂNG LỰC CỦA TƯỞNG

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, người ta v́ bốc mả người chết mà đổ nước vào trong quan tài khấn vài câu, xương nổi lên mặt nước hết v́ sao? Xương bốc bỏ vào tiểu đầy không hết, đậy nắp không được, nhưng nếu khấn vài câu tự nhiên xẹp xuống và đậy nắp kín. Con kính mong Thầy giải thích cho con được rơ?

Đáp: Từ nhỏ c̣n bé cho đến hôm nay tuổi Thầy đă gần đất xa trời mà chưa có một lần đi bốc mả, v́ miền Nam không có tục lệ như miền Bắc. Do đó, Thầy không có dịp trực tiếp quan sát những sự việc xảy ra khi bốc mộ, nhưng theo sự suy tư của Thầy có hai trường hợp xảy ra:

1/ Về khoa học xương người chết, nước và không khí có tác dụng khoa học, khiến xương nổi lên và xẹp xuống.

2/ Về phần tâm linh thuộc về tưởng ấm. Khi tâm thành khấn th́ năng lực tưởng của người khấn phát tác, khiến cho xương nổi lên và xẹp xuống đậy kín nắp tiểu.

Ở đây, chúng ta đừng hiểu theo kiểu mê tín có linh hồn người chết khiến cho xương nổi lên, xương nổi lên cần ǵ phải đổ nước vào quan tài? Nếu khấn mà linh thiêng th́ khấn cho tất cả xương đều bay vào tiểu, cần ǵ người ta phải lượm xương chất vào tiểu.

Tất cả những sự việc trên đây mà con hỏi cũng đă khiến cho người ta phải tin rằng có thế giới siêu h́nh có thật. V́ không ai hiểu và giải thích được của một năng lực tưởng của người c̣n sống siêu thời gian và không gian.

V́ thế, chỉ có những người tu hành đúng chánh pháp của Phật vượt không gian và thời gian th́ mới thấu rơ được năng lực của tưởng của người c̣n sống thật là vi diệu.

Từ xưa đến nay, loài người và các tôn giáo đều không hiểu rơ năng lực của tưởng nên lầm lạc cho đó là thế giới siêu h́nh. V́ thế, mà thế giới siêu h́nh được duy tŕ và tồn tại sống măi đến ngày hôm nay. Mặc dù dân trí của loài người nhờ khoa học nâng lên tầm hiểu biết khá sâu rộng, tuy chưa hoàn chỉnh nhưng cũng tiến bộ rất xa... Sự tiến bộ này đă bắt đầu làm rung chuyển thế giới siêu h́nh. Cho nên, một số hệ phái Phật giáo phát triển sẽ không c̣n lừa phỉnh được ai.

Rồi đây, thế giới siêu h́nh hoàn toàn bị triệt tiêu trên hành tinh này do các nhà khoa học và đạo đức học. Và loài người không c̣n bị lừa đảo bởi thế giới siêu h́nh này nữa.

CÂU CHUYỆN LIÊU TRAI

Câu hỏi của Đào Thị Vinh

Hỏi: Kính thưa Thầy, người ta bảo trần sao âm vậy. V́ người ta từng đi “tem” qua chỗ tha ma người ta thấy họ cũng họp chợ lao xao tiếng nói như người. Vậy như thế nào? Xin Thầy dạy cho chúng con được rơ.

Đáp: Đây là câu chuyện Liêu Trai mà người ta đă chịu ảnh hưởng tư tưởng của Bồ Tùng Linh. Những chuyện Ma của Bồ Tùng Linh là một tư tưởng phi không gian và thời gian có nghĩa là không có sự chết mà chỉ có một sự hiện hữu trong cuộc đời này bằng hai mặt: sắc và vô sắc.

Với đôi mắt của Bồ Tùng Linh thế giới hữu h́nh và thế giới siêu h́nh chỉ là một, chứ không hai. Do thế một tiểu thư con gái nhà quan đă chết hơn trăm năm mà vẫn thành chồng vợ với một cậu thư sinh mới mười tám tuổi.

V́ thế, sự họp chợ ngoài nghĩa địa tha ma là một sự tưởng tượng phi không gian và thời gian của nhà văn Bồ Tùng Linh.

Chúng ta phải đứng trong góc độ của ư thức xây dựng cho ḿnh một nền đạo đức chân thật để mang hạnh phúc an vui cho ḿnh cho người, đừng nên sống trong sự tưởng tượng của Bồ Tùng Linh, nó không lợi ích thiết thực mà chỉ là một giấc mơ ảo huyền, đôi khi c̣n ám ảnh tâm hồn của chúng ta trong thế giới ma.

Nếu chúng ta không hiểu ư nghĩa của Bồ Tùng Linh th́ cái thế giới tưởng siêu không gian và thời gian này sẽ mang cho chúng ta một sự mê tín rất lớn và c̣n đem tai hại cho đời sống của chúng ta nhiều khổ đau hơn là hạnh phúc.

Là một con người chúng ta phải sống chân thật cho ḿnh, đừng sống trong ảo tưởng, mà phải sống trong nền đạo đức nhân bản - nhân quả, không làm khổ ḿnh, khổ người, để khắc phục những nỗi khó khăn của kiếp làm người. Những nỗi khó khăn đó đang chờ đợi chúng ta ở phía trước.

SỐNG LÀ TU

Hỏi: Kính thưa Thầy, sống là tu, tu là sống như thế nào?

Đáp: Thường người ta quan niệm tu hành, khác với cuộc sống. Khi tu phải ĺa xa cuộc sống thế gian, không có sống chung với người thế gian, nghĩa là khi đi tu th́ phải cắt ái, ly gia, bỏ vợ, bỏ con, bỏ cả sự nghiệp, ĺa xa gia đ́nh, những người thân, ngay cả cha mẹ và anh em ḍng họ, v.v.. Người tu hành phải thực hiện các pháp môn hằng ngày như: ngồi thiền, tụng kinh, niệm chú, niệm Phật, lạy hồng danh chư Phật, v.v..

Những pháp môn này không phải của đức Phật dạy mà của ngoại đạo khéo lồng vào giáo pháp của đức Phật để lừa đảo tín đồ Phật giáo.

Bước vào Đạo Đế tức là bước vào một chân lư trong bốn chân lư của đạo Phật. Mà Đạo Đế là pháp hành của đạo Phật dạy chúng ta để sống trong cuộc sống với mọi người th́ làm ǵ có dạy chúng ta ly gia cắt ái, bỏ vợ, bỏ con, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đ́nh sự nghiệp, v.v.. Khi bắt đầu vào tu theo pháp môn của đạo Phật th́ Ngài dạy chúng ta phải sống đúng chánh kiến, nghĩa là hằng ngày chúng ta phải thấy và hiểu biết: Cái nào thiện th́ biết là thiện, cái nào ác th́ biết là ác; biết thiện th́ tăng trưởng, v́ thiện không làm khổ ḿnh, khổ người; biết ác th́ ngăn ngừa và diệt chúng để không làm khổ ḿnh, khổ người. Người thấy và biết sống như vậy là tu tập chánh kiến.

Sống không làm khổ ḿnh, khổ người là tu, mà người tu tập phải sống có chánh kiến như vậy, mà sống có chánh kiến như vậy tức là tu tập. Như vậy đạo Phật không có dạy chúng ta tụng kinh, ngồi thiền, tŕ chú, cúng bái, tế lễ v.v.. mà dạy chúng sống đúng Chánh kiến, sống đúng Chánh tư duy, sống đúng Chánh ngữ, sống đúng Chánh nghiệp, sống đúng Chánh mạng, sống đúng Chánh tinh tấn, sống đúng Chánh niệm và như vậy chúng ta sẽ sống đúng Chánh định tức là Chánh thiền định mà Chánh thiền định, tức là bắt đầu từ Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền, mà Sơ Thiền tức là ly dục ly ác pháp, mà ly dục ly ác pháp tức là Chánh kiến.

Như vậy, không phải sống là tu hay sao? Và tu là sống không làm khổ ḿnh, khổ người th́ có đúng không? Cho nên, thiền định là cuộc sống mà tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ, chứ không phải thứ thiền định ĺa cuộc sống, Ngồi thiền”.

Sự tu tập của đạo Phật không ĺa cuộc sống, kẻ nào ĺa cuộc sống ngồi thiền, tụng kinh, v.v.. th́ tu hành không bao giờ có sự giải thoát. Xa ĺa cuộc sống mà sống phạm giới, phá giới, th́ có khác ǵ cuộc sống của người thế gian, th́ người đó tu không đúng đạo Phật, mà đang tu theo ngoại đạo. Tu theo ngoại đạo th́ sẽ rơi vào tà kiến, tà niệm, tà thiền, tà định, th́ đời đời kiếp kiếp sẽ trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi.

CON NGƯỜI TỪ ĐÂU SANH?

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con người từ nhân quả sanh ra là sao? Nghĩa như thế nào? Sống trong nhân quả? Chết trở về nhân quả? Nghĩa nó như thế nào? Xin Thầy giảng cho chúng con được hiểu.

Đáp: Con người từ nhân quả sanh ra có nghĩa là con người được sanh ra từ những hành động nhân quả thiện ác của môi trường sống.

Đức Phật dạy: “Vô minh” sanh “hành”, “hành” sanh “thức”. Vậy “thức” có được là nhờ “hành”, “hành” có được là nhờ “vô minh”. Do vô minh mới có những hành động lúc ác, lúc thiện; do hành động lúc ác, lúc thiện mới có làm khổ ḿnh, khổ người, do hành động ác và thiện này mà sanh ra thức, do thức mới có danh sắc.

Trên đây là nói theo kinh sách, nói theo lời dạy của đức Phật, c̣n nói theo thực tế qua cái nh́n hiểu biết của ư thức, th́ con người từ môi trường sống sanh ra. Trong môi trường sống gồm có đất, nước, gió, lửa, các chất khí và các từ trường, do sự vận hành của các chất khí và các từ trường mà tạo ra sự biến dịch thay đổi không ngừng của các vật thể, v́ thế mà tạo các duyên tan hợp, nhờ các duyên tan hợp này mà vạn vật sanh ra.

Con người từ nhân quả sanh ra, chết trở về nhân quả, chứ không từ đâu sanh và cũng không về đâu. Đó là câu trả lời: “Con người từ đâu sanh ra và chết đi về đâu?”.

Câu trả lời này rất cụ thể và dễ hiểu. V́ con người từ cát bụi và không khí (môi trường sống) sanh ra th́ chết cũng trở về cát bụi và không khí (môi trường sống).

Nếu không có môi trường sống th́ con người không thể sanh ra được, như mặt trăng, mặt trời và các hành tinh khác không có sự sống th́ không có vạn vật sanh ra.

Sự sanh ra được vạn vật trong vũ trụ là nhờ sự vận hành của các duyên lúc hợp lúc tan; lúc hợp lúc tan, tức là có sự thay đổi. Sự thay đổi ấy đức Phật gọi các duyên là vô thường, hay các pháp vô thường đều có nghĩa này. Do các pháp vô thường và biết chắc chắn như vậy nên đức Phật xác định: “Mười hai nhân duyên khi tan ră th́ không c̣n duyên nào cả, cũng như thân ngũ uẩn, khi một người chết th́ không c̣n uẩn nào cả”. Do đó, đức Phật lại c̣n xác định thêm: “Nếu các duyên dù c̣n một chút xíu như đất trong móng tay Ta th́ Đạo Ta không ra đời, v́ không giải khổ cho ai được hết”. Do tánh chất vô thường thay đổi của các pháp, nên con người tu hành giải thoát được.

Ví dụ: Một người chửi mắng chúng ta, nhưng chúng ta không chửi mắng lại họ, không buồn tức giận họ, và c̣n khởi tâm thương họ, th́ ngay đó nó đă thay đổi các duyên của các ác pháp đó trở thành các duyên cho các thiện pháp. Do tánh chất các pháp vô thường thay đổi như vậy nên chúng ta thấy được sự giải thoát một cách cụ thể và rơ ràng. Nếu các pháp không vô thường, cố định, hay nói cách khác là các pháp có tánh chất thường hằng th́ không thể làm thay đổi được ác pháp thành thiện pháp được.

Ví dụ: Một người chửi mắng chúng ta th́ chúng ta phải tức giận và chửi mắng lại họ. Nếu tánh chất các pháp thường hằng th́ ác pháp này không thể thay đổi được, nếu thay đổi không được th́ con người dù có tu hành cũng không thể giải thoát được.

Nếu các pháp không thể thay đổi được th́ các pháp phải có bản thể thường hằng, nếu các pháp có bản thể thường hằng th́ con người phải có đời sống sau khi chết, nếu có đời sống sau khi chết th́ con người phải có linh hồn, có linh hồn th́ thế giới siêu h́nh mới có.

Nếu thế giới siêu h́nh có th́ phải có một ông vua của thế giới này, và ông vua của thế giới này th́ phải là một đấng toàn năng, một đấng tạo hóa, một đấng toàn thiện v.v.. Mà là đấng tạo hóa, toàn năng, toàn thiện khi tạo tác ra con người và vạn vật th́ con người và vạn vật phải là hiền lành không bao giờ giết hại và ăn thịt lẫn nhau.

Con người và vạn vật do đấng toàn thiện sanh ra th́ phải thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau, chứ có đâu giết hại lẫn nhau mà chẳng hề xót thương chút nào...

Do thế, chúng ta không tin thuyết này v́ nó không thực tế, mơ hồ, trừu tượng, cho nên những tôn giáo xây dựng thế giới siêu h́nh đă lỗi thời, không thể c̣n lừa đảo được ai nữa, khi tŕnh độ hiểu biết của con người được nâng lên theo sự tiến bộ của khoa học.

Cho nên, thuyết “nhân duyên” của Phật giáo là phù hợp, là thực tế, cụ thể như khoa học. V́ thế, không có một triết thuyết nào bài bác nó được, nó là một sự thật hiển nhiên của vạn vật trên hành tinh này đều do duyên hợp.

Mà đă do duyên hợp th́ chỉ có môi trường sống mới có sanh ra vạn vật, từ loài rong rêu, cỏ cây cho đến các loài động vật nhỏ nhất như vi trùng, vi khuẩn, v.v..

Con người cũng là một loài động vật như bao nhiêu loài động vật khác nên cũng từ môi trường sống sanh ra. V́ thế, chúng ta khẳng định: “Con người từ nhân quả sanh ra, chết trở về nhân quả”.

TƯỞNG TRI VÀ THẬT TRI

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy! Tưởng tri và thật tri nghĩa như thế nào?

Đáp: Tưởng tri và thật tri khác nhau không giống nhau. Tưởng tri là sự hiểu biết qua tưởng thức, thật tri là sự hiểu biết qua ư thức.

Ví dụ: Một người chưa từng bao giờ thấy ma, nghe người ta nói ma, họ diễn tả con ma h́nh thù bằng cách này, bằng cách khác. Do sự tưởng diễn tả những h́nh ảnh của ma. Từ đó năng lực tưởng thức của chúng ta mô phỏng theo h́nh dáng đó xuất hiện, khiến chúng ta nh́n thấy con ma như thật. Cái thấy con ma thật sự như vậy gọi là tưởng tri.

Cho nên, cái thế giới siêu h́nh cũng do từ năng lực của tưởng tạo ra, chứ không phải có linh hồn người chết nhập vào người c̣n sống, mà chính người c̣n sống mới có năng lực tưởng tri của ḿnh tạo ra. Chính năng lực tưởng tri của người đó đă nói chuyện với người đó.

V́ thế, các nhà ngoại cảm vẫn thấy có linh hồn người chết mượn xác thân ḿnh nói chuyện với người c̣n sống.

Những sự hiểu biết như vậy qua tưởng  thức như vậy gọi là tưởng tri.

C̣n thật tri là sự hiểu biết qua ư thức, chắc quư vị ai cũng đều rơ. Khi chúng ta phân biệt mọi vật trước mắt mà hiểu được mọi vật đó một cách rơ ràng và cụ thể th́ đó là thật tri.

Thật tri chính là ư thức của chúng ta đang sử dụng hằng ngày trong cuộc sống. Đó là sự hiểu biết phân biệt phải, trái, tốt, xấu, trắng, đen, dơ, sạch, thiện, ác v.v..

PHẠM HẠNH

Câu hỏi của Liễu Thiện

Hỏi: Kính thưa Thầy! Thân người do tâm ham muốn (dục) mà có. Do ái dục mà có sanh y. Muốn bước lên quả vị Thánh th́ phải triệt tiêu ái dục, triệt tiêu ái dục th́ phải triệt tiêu sanh y. Vậy triệt tiêu sanh y như thế nào? Xin Thầy chỉ dạy cho chúng con được rơ.

Đáp: Muốn triệt tiêu sanh y, tức là phải sống đúng đời sống giới luật của Phật, có nghĩa là sống đúng Phạm hạnh của một vị Thánh Tăng. Phạm hạnh của một vị Thánh Tăng như thế nào?

Chúng ta hăy nghe kinh dạy: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống không gia đ́nh, không nhà cửa, thiểu dục, tri túc, ba y một bát, tâm hồn trắng bạch như vỏ ốc, phóng khoáng như hư không”. Đó là một lối sống triệt tiêu sanh y, lối sống giới luật, có sống đúng giới luật th́ tâm mới ly dục ly ác pháp, tâm có ly dục ly ác pháp th́ mới đoạn dứt sanh y, đoạn dứt sanh y th́ tâm mới bất động trước các ác pháp.

Như vậy chúng ta thấy rơ ràng, muốn làm chủ sanh, già, bệnh, chết th́ sanh y là cửa vào của chúng ta. Muốn bước vào cửa sanh y th́ phải mở ống khóa giới luật. Cho nên, giới luật là một pháp môn vô cùng quan trọng cho người mới bắt đầu tu theo đạo Phật.

Nếu tu hành theo đạo Phật mà không nghiêm tŕ giới luật, th́ tu hành chẳng ích lợi ǵ và c̣n phí công vô ích, uổng một đời tu chỉ có h́nh thức mà thôi.

V́ thế người cư sĩ tu theo đạo Phật, muốn làm chủ sanh, già, bệnh, chết th́ phải Thọ Bát Quan Trai, một tháng ít nhất cũng phải có một ngày tu tập làm Phật, tức là một ngày giữ  tám giới trọn vẹn.

Một ngày giữ tám giới trọn vẹn là một ngày ĺa xa sanh y, ĺa xa sanh y tức là ĺa dục, ĺa ái dục tức là giải thoát.

Vậy, giới luật là một pháp môn quan trọng nhất cho con đường giải thoát của đạo Phật, nếu ai tu theo đạo Phật mà phạm giới, phá giới, xem thường giới luật Phật, là tu theo ngoại đạo, tu theo tà giáo th́ con đường tu tập để được giải thoát sẽ c̣n rất xa và xa biệt mù.

THẾ GIỚI SIÊU H̀NH KHÔNG CÓ

Bài viết của giáo sư Trần Phương

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2000 chúng tôi có nhận được một tài liệu nói về thế giới siêu h́nh do cô Minh Châu đưa về. Muốn làm sáng tỏ vấn đề này th́ chỉ có những người nhập được Tứ Thánh Định và Tam Minh của đạo Phật th́ mới đủ khả năng giải thích cho mọi người rơ.

Dưới đây là một bài viết của Giáo sư Trần Phương ghi lại sự t́m kiếm hài cốt cô em gái của ḿnh (một liệt sĩ). Người muốn nói lên những điều mắt thấy, tai nghe mà ḿnh đă chứng kiến trên bước đường t́m hài cốt đứa em thân thương của ḿnh, nhưng không sao giải thích được, qua những việc làm của các nhà ngoại cảm.

Phải chăng có sự sống sau khi chết?

Nếu có sự sống sau khi chết, th́ thế giới siêu h́nh là có thật. Và sự mê tín của con người sẽ không c̣n là mê tín nữa.

Vậy chúng ta hăy đọc: “T̀M HÀI CỐT LIỆT SĨ, MỘT HÀNH TR̀NH ĐẦY BÍ ẨN” của Giáo sư Trần Phương viết.

“Tôi có cô em gái, kém tôi hai tuổi (sanh năm 1929), tên là Vũ Thị Kính, thuở nhỏ gọi tránh là Cánh. Từ hồi kháng chiến chống Pháp được biết đến cái bí danh Trần Thị Khang. Cô tham gia cách mạng 16 tuổi, tỏ ra là một giao liên gan dạ, một cán bộ phụ vận có uy tín. Năm 1950 cô là Huyện Ủy viên của Đảng bộ Phù Cừ (ĐCSVN), Bí thư phụ nữ cứu quốc Huyện, người  tổ chức chỉ huy đội nữ du kích Hoàng Ngân trong Huyện. Tháng 6 năm đó, địch bắt được cô từ hầm bí mật, đưa về bót La Tiến (bót đóng ngay trên bến đ̣ La Tiến), là một bót khét tiếng tàn ác, một đồn binh lớn án ngữ phía Nam tỉnh Hưng Yên, phía Bắc tỉnh Thái B́nh và phía Tây tỉnh Hải Dương. Chúng biết cô là ai, v́ vậy đă dùng mọi cực h́nh tra tấn, ḥng buộc cô khai báo và đầu hàng. Trước khí tiết không lay chuyển của cô, chúng đă giết chết cô và vất xác cô xuống sông Luộc. Sau ngày cô hy sinh, đội nữ du kích Hoàng Ngân của Huyện đă phát động: “Tuần lễ giết giặc, trả thù cho chị Khang”. Chánh phủ đă truy tặng cô Huân chương kháng chiến hạng nh́.

Huyện Ủy và đội du kích Hoàng Ngân đă tổ chức đi t́m xác cô, nhưng không thấy. Đây là nỗi ray rứt xót xa của gia đ́nh tôi suốt mấy chục năm. Mặc dù vẫn biết rằng người chết th́ mọi nỗi đau cũng chấm dứt. Mẹ tôi hồi c̣n sống, thỉnh thoảng lại hỏi tôi: “có t́m thấy xác em không?”. Tôi đành t́m lời an ủi: “Bao giờ chiến tranh hết, con sẽ tổ chức việc t́m kiếm, chắc là được mẹ ạ!”. Nói thế mà ḷng tôi muốn khóc, v́ biết ḿnh bất lực trước nỗi đau của mẹ. Cả một ḍng sông Luộc mênh mông như thế trôi ra biển cả, biết t́m kiếm nơi đâu?

Mươi năm lại đây, nghe tin nhiều người t́m được hài cốt người thân, bằng gọi hồn, bằng ngoại cảm, bằng thấu thị. Tóm lại là bằng những phương pháp, được xem là thần bí, chưa ai lư giải được. Tôi vốn được đào tạo theo tinh thần khoa học thực nghiệm, cái ǵ chứng minh được mới tin là có, cái ǵ chưa chứng minh được th́ dứt khoát không tin. Trong đời, tôi chưa bao giờ tin có linh hồn, Thần, Thánh, ma, quỷ. Ngay những ngày giỗ bố mẹ, tôi cũng không làm cơm cúng, không thắp hương, chỉ sửa một lọ hoa tươi để tự ḿnh tưởng nhớ. Vậy mà khi nghe những tin trên, trong ḷng tôi hé lên một niềm hy vọng mong manh: biết đâu đấy? Nếu bằng phương pháp thần bí mà t́m được hài cốt em tôi th́ có ǵ phải câu nệ? Miễn là có cái ǵ đó để nhận biết hài cốt ấy đúng là của em tôi. Và điều này mới chính là điều khó nhất. Sau hơn năm chục năm trôi dạt, hài cốt có c̣n ǵ không để nhận ra em tôi? Nếu c̣n th́ may ra là c̣n được hàm răng không nhuộm đen. Nhưng thời đó, thiếu ǵ con gái không nhuộm răng đen? Đă có lần bạn bè mách bảo tôi một bộ hài cốt vô thừa nhận mà đặc biệt là hàm răng không nhuộm đen. Lúc đó, chính tôi đă phân vân: nhận một hài cốt mà trong ḷng nghi hoặc, mỗi khi tưởng niệm th́ có ư nghĩa ǵ? C̣n khám nghiệm AND ? Đó là chuyện xa vời. Trong t́nh cảnh bất lực của chính ḿnh và của khoa học thực nghiệm th́ bất cứ phương pháp nào giải tỏa được nỗi ray rứt trong tôi và gia đ́nh tôi đều phải được xem trọng. Nghĩ thế tôi bèn t́m cách tiếp cận các nhà ngoại cảm có tiếng tăm. Một số thông tin báo rằng hài cốt vẫn c̣n, nhưng chưa có ai chỉ rơ được nơi chôn cất.

Giữa lúc ấy th́ tôi gặp chị Tuyết Nga là người đă nhờ ông Liên t́m được mộ bà mẹ bị giặc sát hại từ những năm 60. Chị khuyên tôi nên t́m đến bạn chị là anh Nguyễn Văn Nhă, một người nổi tiếng ở miền Nam, v́ đă t́m thấy nhiều mộ liệt sĩ. Chị gọi điện cho anh Nhă, và ngay chiều hôm đó anh bay ra Hà Nội.

Sớm ngày hôm sau, ngày 25.7.1999, tôi gặp anh Nhă, anh chưa đến 50 tuổi, là một kỹ sư Hóa, Đảng viên, nhiều năm làm công tác ở đoàn viên thanh niên Cộng Sản thành phố Hồ Chí Minh. Theo anh nói th́ anh mới có khả năng đặc biệt này từ trước Tết và không được ai huấn luyện cả. Anh đă vẽ hơn sáu trăm ngôi mộ, tỷ lệ trúng đạt sáu chục phần trăm. Có những trường hợp trúng đến mức chính anh cũng phải kinh ngạc. “Thông tin” đến với anh như thế nào th́ anh vẽ như thế ấy. C̣n thông tin từ đâu đến, trúng hay trật, đối với chính anh cũng là điều bí ẩn.

Trong căn pḥng làm việc của tôi, không có hương khói ǵ cả, anh hỏi tôi và vợ tôi mấy thông tin đơn giản: Cô em tên là ǵ? Sinh năm nào? Hy sinh ngày tháng nào? Ở đâu? Người đi t́m tên là ǵ? Anh lại hỏi bến đ̣ La Tiến thuộc xă nào? Huyện Phù Cứ thuộc tỉnh nào? Bến đ̣ ấy có cây cầu không? (chứng tỏ anh không biết ǵ về vùng đất đó cả). Rồi anh lấy một tờ giấy to và mấy cây bút màu ra vẽ bản đồ, vẽ một cách thư thả, lưu loát, không gạch xóa ǵ cả. Mọi việc chỉ diễn ra trong ṿng mười phút.

Nh́n vào bản đồ, tôi thấy anh vẽ con sông uốn lượn đường to đường nhỏ giao nhau, rồi ghi: từ bến đ̣ La Tiến đi về hướng Đông Nam thấy một trường học đi chừng 1 km6 th́ đến một ngă tư, phía trái ngă tư thấy một quán tạp hóa có cửa màu xanh dương, lúc đó rẽ tay phải, thấy một cái đ́nh, đi chừng một km th́ rẽ trái vào một con đường nhỏ, đi chừng 60 mét th́ rẽ phải, đi chừng 45 mét nữa th́ đến mộ. Mộ nằm trên đất cô Nhường 47 tuổi đối diện với mộ về hướng Tây là quán ông An 56 tuổi. Mộ chôn về hướng Tây, cách một gốc cây độ 4 mét, trên mộ có một khúc cây dài 4 tấc, một cục gạch vỡ màu nâu đỏ và năm cây cỏ dại có hoa màu tím nhạt.

Rồi anh hỏi tôi: Bao giờ th́ đi t́m mộ? Tôi trả lời: Để chuẩn bị th́ cũng phải 2 tuần nữa. Anh nói chậm quá, nên đi sớm. Tôi quyết định: 3 ngày nữa th́ đi. Anh nói: tôi phải cho anh một tín hiệu để dễ t́m. Hai con bướm nhé? Tôi nói: Hai con bướm th́ sợ khó t́m. Anh ngẫm nghĩ mấy giây rồi nói: Vậy th́ một bé gái nhé? Rồi anh ghi tiếp vào tấm bản đồ 13h30 ngày thứ tư 28 tháng 7 sẽ có một bé gái chừng 11 tuổi, mặc áo hoa xanh đến gần mộ (Tôi thật không hiểu anh làm cách nào mà điều được cho tôi một cô bé đến vào ngày đó, giờ đó) rồi anh dặn: Nếu anh đến sớm th́ năm cây cỏ dại có 10 bông hoa tím, nếu anh đến muộn th́ chỉ c̣n 5 bông.

Ngạc nhiên quá tôi hỏi anh: Anh không biết ǵ về vùng đất đó cả, vậy dựa vào cái ǵ mà anh vẽ ra tấm bản đồ chi tiết như vậy?

Anh nói: Tôi thấy trong đầu tôi hiện ra như thế nào th́ tôi vẽ như thế nấy tôi cũng chẳng hiểu nữa.

Tôi lại hỏi: C̣n những tên người kia? Tại sao gọi là đất cô Nhường, là quán ông An?

Anh nói: Tôi thấy trong tai tôi như có âm thanh ấy có thể là Nhương, Nhường, Nhượng ǵ đó, cũng có thể là 47 tuổi hay 87 tuổi, c̣n An th́ cũng có thể là Am. Anh c̣n dặn thêm: Có thể phải xem cái bản đồ này từ âm bản. Lời dặn này, lúc ấy tôi không để ư lắm.

Vẽ bản đồ trao đổi trong ṿng nửa  tiếng xong, anh Nhă chia tay tôi, để vội vă bay về thành phố Hồ Chí Minh, nơi anh đang phải điều hành một công ty tư vấn.

Về phần tôi, tin hay không tin th́ vẫn phải làm theo chỉ dẫn của anh. C̣n có cách nào khác đâu?

T́m mộ ngày thứ nhất.

Đúng hẹn ngày 28 tháng 7 cả gia đ́nh tôi phóng về bến đ̣ La Tiến, cách Hà Nội chừng 100 km. Chúng tôi chia nhau làm nhiều ngả, đối chiếu với bản đồ mà t́m. Tất cả các ngả đều không t́m được những dấu hiệu khớp với bản đồ, trừ một ngả hướng thẳng vào giữa làng La Tiến, hướng này do anh Đạt, một cán bộ về hưu có cái quán giải khát ở bến đ̣, chỉ dẫn. Khi xem bản đồ, cụ Yến, cũng đang ngồi ở quán giải khát nói: Cái bản đồ này vẽ theo đường ngày xưa, ang áng như bây giờ thôi, có mấy đoạn đă được nắn lại. Tuy nhiên, đường từ bến đ̣ đến nơi ghi là phần mộ lại rất ngắn, chỉ bằng một phần ba cự ly ghi trong bản đồ. Tôi dùng điện thoại di động hỏi anh Nhă, anh trả lời: miễn là t́m thấy các dấu hiệu đă ghi, nhất là 4 dấu hiệu nơi phần mộ, c̣n cự ly th́ có thể là do anh ước lượng không chính xác.

Lần theo hướng ghi trên bản đồ và các dấu hiệu trên đường (trường học, đ́nh, quán tạp hóa có cửa màu xanh nước biển, đến ngă tư rẽ phải, rồi rẽ trái, rồi lại rẽ phải tất cả đều đúng) chúng tôi đến đất nhà anh Điển, một nông dân kiêm thợ nề trên 60 tuổi. Cả hai vợ chồng đều gầy g̣ ốm yếu nhưng tốt bụng. Ông bà sẵn sàng cho chúng tôi t́m bới hài cốt liệt sĩ, mặc dù không tin rằng đất trong đê lại có thể có hài cốt liệt sĩ. Ông bà Điển cũng như nhiều người khác đều chỉ chúng tôi ra dải đất băi phía ngoài đê, cạnh vụng Quạ (gọi thế là v́ có nhiều quạ bay tới vụng để ăn xác chết bị cuốn vào vụng) mà từ nhà ông Điển nh́n ra th́ về hướng Đông, chưa đến nửa cây số cạnh vụng quạ, vẫn c̣n ba cái mộ vô thừa nhận. Chúng tôi đến đó xem xét rất kỹ, nhưng không thấy một dấu hiệu nào như anh Nhă đă cho, đành quay về nhà ông Điển, theo đúng bản đồ.

Giữa mảnh đất rộng chừng hai sào, có một ngôi nhà gạch hướng Đông Nam, trước nhà là sân gạch tường hoa, một dải vườn đẹp lơ thơ mấy vạt dây lang rồi đến một cái ao to. Tiếp đó là đường làng, một cái đầm sen mênh mông, rồi đến con đê sông Luộc chạy dài từ Tây sang Đông. Sau nhà là một vườn chuối được dọn sạch sẽ, không một ngọn cỏ. Đầu hồi phía Đông là đường vào ngôi nhà. Vậy chỉ c̣n t́m kiếm ở đầu hồi phía Tây. Vườn ở phía này rộng, trồng táo và mít um tùm, dưới gốc đầy cỏ dại, toàn một loại có hoa bằng hạt thóc, màu tím nhạt. T́m một ngàn cây th́ được, chứ t́m 5 cây th́ biết chọn cây nào? C̣n cành cây khô và mảnh gạch vỡ th́ bừa băi, đâu cũng có. Sục t́m một hồi lâu, chúng tôi đành thất vọng quay ra.

Đứng trước cửa nhà, nh́n về chân đê sông Luộc, chệch về phía Tây, là ngôi nhà của anh An, 45 tuổi nhà xây bằng gạch để ở, chứ không bày biện như một quán hàng. Anh cho biết vợ anh có một gian quán bán ḷng lợn ở chợ La Tiến, hàng ngày gánh hàng đến đó, nhưng có ai cần mua tại nhà th́ vẫn dành lại để bán. Như vậy th́ nhà anh có đáng gọi là một quán hàng không? Tôi phân vân như cứ tạm cho là được đi.

C̣n đất bà Nhường? Cả làng không có ai tên là Nhường hay Nhượng. Chỉ có một bà tên là Nhương, khoảng 70 tuổi. Bà này th́ tôi biết v́ cùng hoạt động với em gái tôi. Chính Bà mấy năm trước, thông qua Bà Tiến, đă nhắn tôi về nhận một bộ hài cốt vô thừa nhận mà căn cứ vào hàm răng trắng, Bà cho là hài cốt của cô Khang.

Dấu hiệu dẫn đến ngôi mộ th́ có đủ, nhưng dấu hiệu của chính ngôi mộ th́ không thấy. Tôi đành chờ đến 13h30. Vào giờ này, giữa trưa hè oi ả, giữa cái làng hẻo lánh giáp đê sông Luộc này th́ kiếm đâu ra một bé gái mặc áo hoa xanh? Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn chia nhau đón các ngả đường dẫn đến nhà ông Điển. Đường sá vắng tanh. Cả vùng như ngừng thở với ánh nắng chói chang.

Quá 10 phút rồi 15 phút. Bỗng một tốp thiếu niên ồn ào đạp xe từ cuối làng tới. Nhưng tất cả đều là con trai. Mấy phút sau, có một tốp con gái cũng từ cuối làng đi bộ tới. Chúng tôi giữ các em lại hỏi thăm. Các em chỉ nhà bà Nhương ở gần ngă tư, sau cái đ́nh. Ba em hăng hái dẫn chú em tôi tới đó, c̣n một em không muốn mà đứng lại. Em mặc áo màu xanh lá cây, có hai bông hoa to in trước ngực em khai tuổi 15, nhưng vóc người th́ nhỏ hơn tuổi. Hỏi về những ngôi mộ vô thừa nhận, em chỉ mấy ngôi ở vườn chùa ngay cạnh đó đây là mộ của những người chết đói năm 45. Em lại chỉ 3 ngôi mộ ở phía ngoài đê, cạnh vụng quạ. Chúng tôi đă đến đó vào sáng nay. Em đứng lại với chúng tôi chừng nửa tiếng bên bờ cái ao to trước nhà ông Điển mà không có mục đích ǵ cả, phải chăng đó là tín hiệu mà ông Nhă điều cho tôi? Nhưng khai thác được ǵ ở em th́ không được ǵ cả.

Xế chiều gần như mất phương hướng, tôi lại gọi điện cho anh Nhă. Anh hỏi: Có thấy cái lạch nước không? Có thấy cái cống không? (dường như từ Sài G̣n, anh nh́n thấy những cái đó!) rồi anh bảo tôi đi t́m ngôi nhà mà 4 mặt đều sơn màu trắng lốp, trước nhà đầy hoa đỏ.

Cái cống lớn xây bằng gạch cạnh đất chùa, kế nhà ông Điển, th́ chính tôi đă ngồi trên đó để hỏi chuyện bé gái. C̣n cái lạch nước, hỏi ông Điển hồi lâu mới biết: ba chục năm trước đây, chính cái đầm sen là một vùng ruộng trũng ở giữa có một con đường bờ vùng chạy song song với một con lạch, dẫn nước qua cống của chùa vào vùng ruộng mạ mà nay là đất ở của ông và mấy nhà chung quanh. Cuối những năm 60, để lấy đất bồi đắp con đê sông Luộc, người ta đă biến vùng ruộng trũng thành cái đầm sen bây giờ, nó chạy dài gần một cây số ven đê và ruộng vài trăm mét. Con đường và cái lạch nước cũng biến mất trong ḷng cái đầm sen ấy.

Chúng tôi ngó nghiêng khắp làng để t́m “ngôi nhà mà 4 mặt đều sơn màu trắng lốp”. Chẳng có cái nào cả, mọi nhà đều quét vôi vàng hoặc xám. Bỗng anh Tân Cương (một cộng sự của tôi đă từng nhiều lần đi t́m mộ) chỉ vào cái quán bên đường, hay là cái này? Đó là cái quán nước mà chúng tôi vẫn qua lại từ sáng đến giờ. Quán nhỏ và thấp lè tè, xây bằng gạch, đủ kê một cái giường và một cái chơng bày bán mấy gói kẹo và mấy chai nước ngọt. Quán mới xây, cả bốn mặt đều quét vôi trắng xóa. Một cái quán nhỏ cũng có thể xem là một cái nhà được chứ? Tạm cho là như vậy. Nhưng c̣n hoa đỏ? T́m ṭi hồi lâu, anh Tân Cương chỉ cho tôi cái đầm sen trước mặt. Giữa mùa hè, đầm sen là cả một biển hoa đỏ có thể là như vậy chăng?

Chủ quán là một bà lăo hom hem. Nhà cụ giáp nhà ông Điển, về phía Tây, cụ xây cái quán ngay cạnh đường làng, lối đi vào nhà cụ mà cũng là một cái bờ ao nhà ông Điển. Hỏi tên tuổi th́ cụ cho biết tên là Mân đó là tên chồng, c̣n tên thật của cụ là Nguyễn Thị Nhờ, năm nay 81 tuổi.

Sục sạo đến tối mịt, chúng tôi đành quay về Hà Nội. Tôi gọi điện cho anh Nhă.  Anh bảo t́m được cái quán trắng làm mốc là tốt rồi. Cự ly so với bến đ̣ có gần hơn, không sao. Có trường học, có ngă tư, có quán màu xanh dương, có cái đ́nh rồi. Có cái cống không? (tôi báo cáo cho anh biết kết quả điều tra được). Anh động viên: nên t́m kiếm liên tục. Hôm nay chưa thấy th́ ngày mai lại đi. “Chỉnh mộ là một quá tŕnh vất vả lắm đấy, không thể một lần mà trúng ngay được”.

Rồi anh chỉ dẫn cho tôi ngày mai làm ǵ ?

Tám giờ sáng phải có mặt ở cái quán trắng. Tôi hoặc con tôi (phải là người ruột thịt của cô Khang) thắp 20 nén hương ở lối đi bên cạnh. Khoảng 8 giờ  rưỡi, có một con chó vàng nâu đến cách đó chừng 10 mét, nó nh́n ḿnh xem ḿnh có đi theo nó không, hăy đi theo nó, giữ một khoảng cách. Nó sẽ đi hơn 100 mét, rồi dừng lại, ngửi và bới. Nhớ lấy chỗ đó, rồi quan sát, t́m những dấu hiệu phần mộ như đă ghi trên bản đồ.

Nếu tín hiệu trên không xuất hiện th́ chờ đến 8 giờ 30 - 9giờ t́m kiếm quanh vùng sẽ thấy một con chó vàng nằm một chỗ như ốm. Đánh dấu lấy chỗ đó mà đào. Đào thấy th́ con chó sẽ hết ốm. Khi nào thấy tín hiệu th́ gọi điện lại để anh chỉ dẫn tiếp.

T́m mộ ngày thứ hai.

Chúng tôi lại đến làng La Tiến, làm đúng những việc mà anh Nhă dặn. Chúng tôi chia nhau đi các ngả để xem có con chó vàng nâu nào tiến về phía quán trắng không. Quá 8 giờ 30 mà không thấy tín hiệu thứ nhất xuất hiện, chúng tôi bèn chia nhau đến các nhà quanh vùng. Nhà nào cũng nuôi chó vàng, thấy người lạ vào là chúng nhảy ra sủa inh ỏi, không có con nào nằm một chỗ như ốm. Cô em tôi mấy lần vào ra nhà cụ Nhờ, ngó nghiêng mọi xó xỉnh cuối cùng, cô phát hiện thấy phía sâu bên trong gian nhà phụ, dưới gậm giường, có một con chó vàng nằm ệp. Chúng tôi lần lượt vào ngó, nhưng nó vẫn nằm im, chỉ ngước nh́n mà không sủa. Hỏi chủ nhà th́ biết nó chửa, chê cơm mấy hôm nay. Tôi liền điện cho anh Nhă. Anh bảo: T́m kiếm trong ṿng bán kính 10 mét xem có những dấu hiệu phần mộ không.

Từ chỗ con chó nằm, tôi vạch một ṿng tṛn có bán kính 10 mét. Hầu hết ṿng tṛn bao lấy nhà và sân gạch của cụ Nhờ, chỉ một mẩu nhỏ lấn sang dải vườn hẹp trước tường hoa nhà ông Điển. Dải vườn này, hôm trước chúng tôi đă đi qua mà không thèm để ư đến mấy vạt rau lang. Hôm nay tập trung vào một diện tích hẹp, anh Tân Cương là người đầu tiên phát hiện ra một gốc cây đổ vùi lấp dưới lớp dây lang, gốc cây to bằng bắp chân, dài hơn gang tay, nằm sát đất, trên thân cây lơ thơ mấy cái chồi cằn cỗi. Ông Điển cho biết đó là cây nhót mà ông đă chặt đi năm ngoái, nhưng chưa kịp đánh gốc. Cách gốc cây nhót về hướng Đông chừng hai mét, chúng tôi thấy ngay nửa viên gạch vỡ màu nâu đỏ nằm cạnh một cành cây khô to bằng cổ tay, dài nửa mét. Nh́n tiếp về hướng Đông chừng 3 mét nữa, dưới tán cây cam thấp lùn, chúng tôi reo lên khi thấy cả một dăy cây hoa màu tím nhạt vượt lên đám rau lang, đếm được đúng 5 gốc mỗi gốc mang hai bông hoa to và dài bằng ngón tay. Cây hoa mọc theo một đường thẳng dài 3 mét từ tường hoa ra phía bờ ao. Ông Điển cho biết mấy năm trước ông trồng làm cảnh, sau chán, vất ra vườn.

Sau khi soát xét lại kỹ càng, tôi gọi điện cho anh Nhă. Anh bảo: Từ gốc cây đổ đến dăy hoa tím, vẽ thành h́nh tam giác, rồi đứng vào giữa, đánh dấu lại. Lấy một chiếc đũa cắm vào chỗ đó, rồi tự tay tôi (phải là người ruột thịt) đặt một quả trứng lên đỉnh chiếc đũa, nếu quả trứng nằm im là đúng. Nếu quả trứng không nằm im th́ cắm chiếc đũa lùi ra nửa mét.

Bà Điển vội vă rút từ ống đũa cho tôi một chiếc, rồi chạy vào ổ gà lấy quả trứng mới đẻ. Nh́n chiếc đũa tre c̣n mới, tôi thầm nghĩ: Nghèo quá, đến chiếc đũa tre cũng khẳng khiu! Với chiếc đũa này, lăo Nhă đánh đố ḿnh đây. Rồi tôi suy luận: Chẳng lẽ xác cô em ḿnh lại có sức hút mạnh hơn trọng lực trái đất ư ? Vấn đề chỉ là ở chỗ ngắm cho thật cân và không được xúc động!

Tôi loay hoay măi với quả trứng. Ngắm nghía thật lâu rồi mới đặt xuống nhiều lần như vậy. Đặt nằm rồi lại đặt đứng. Nó vẫn lăn bo xuống đất. Người tôi vă mồ hôi. Mấy chục người chung quanh dán mắt vào quả trứng như nín thở, tôi nghĩ chỉ tại cái đũa chết tiệt ! Tiết diện nhỏ quá mà lại không phẳng, tài ǵ mà đặt được quả trứng cho cân!

Tôi bèn lùi lại nửa mét, mặt vẫn hướng vào tường hoa. Cắm chiếc đũa thật thẳng rồi nhẹ nhàng đặt quả trứng xuống như mọi lần. Kỳ lạ quá, nó nằm im trên đầu đũa, tựa như có chất keo gắn vào đầu đũa. Tôi không tin có sự can thiệp của cô em tôi (v́ làm ǵ có linh hồn mà can thiệp? Mà nếu có th́ linh hồn đâu phải là một lực tác động vật chất?) nhưng vẫn thở phào nhẹ nhơm v́ nếu không qua được thử thách này th́ không thể đi tiếp bước sau.

Tôi gọi điện cho anh Nhă. Anh bảo: Lấy quả trứng làm tâm, vẽ một h́nh chữ nhật dài 2 mét, rộng 1 mét 2 rồi đào sâu xuống 1 mét 5 cho đến lớp cát đen. Hài cốt không nằm sâu hơn lớp cát đen đó.

Lúc ấy đă gần trưa. Chúng tôi tạm nghỉ, ra bến đ̣ La Tiến ăn cơm hàng. Trời đang nắng gắt bỗng ập xuống một cơn mưa như trút nước kèm theo gió to kéo dài gần một tiếng. Chúng tôi bảo nhau phen này th́ đền quả trứng của bà Điển th́ cái chắc. Khi quay về th́ lạ quá, quả trứng vẫn yên vị trên đầu chiếc đũa chẳng lẽ khi mưa, bao giờ cũng có hai giọt nước rơi cân bằng xuống hai đầu quả trứng? C̣n gió to nữa, chẳng lẽ nó không tác động ǵ đến quả trứng?

Để chuẩn bị cho thợ đào đất, tôi gỡ quả trứng ra khỏi chiếc đũa hai tay tôi cảm nhận thấy một sức hút nhẹ. Phải chăng nước mưa đă làm giăn hở vỏ trứng và chiếc đũa tre, khiến cho quả trứng gắn chặt vào đầu đũa?

Hai tốp thợ thay nhau đào. Sâu 1,2 mét th́ hết lớp đất màu nâu là lớp “vượt thổ”, đến lớp bùn đen pha cát, vừa đào, chúng tôi vừa soát xét từng xẻng đất đào lên xem có hài cốt không? đến độ sâu 1,5 mét vẫn không thấy ǵ cả.

Tôi gọi điện cho anh Nhă. Anh bảo: Phát triển về hướng Nam và đào sâu thêm 4 tấc nữa. Chiều rộng của cái hố được mở thêm nửa mét ra phía bờ ao và đến tối mịt th́ chiều sâu đạt tới 2,8 mét. Vẫn không thấy ǵ cả. Chúng tôi quay về Hà Nội.

Tôi gọi điện cho anh Nhă. Anh bảo: Thử đào sâu thêm vài tấc nữa. Thực ra th́ cái hố đă được đào sâu quá mức ấy rồi. Tôi cảm thấy “thầy” đă hết phép. Mặc dù vậy, tôi vẫn quyết định ngày mai đi tiếp.

T́m mộ ngày thứ ba.

Qua hai ngày, dậy từ bốn giờ sáng, măi 11 giờ khuya mới về đến nhà, cái tuổi 72 của tôi đă cảm thấy đuối sức. Tôi ủy nhiệm cho các con cùng bà chị tôi và anh Tân Cương đi tiếp. Tôi dặn: Không đào sâu thêm nữa làm ǵ, chỉ soát lại đống cát đen đào xới lên, họa  may t́m thấy mảnh hài cốt nào th́ đem về, nếu không th́ thu dọn chiến trường mà về. Họ làm đúng như thế.

Thấy chúng tôi không thu được kết quả ǵ, nhiều cụ già, nhất là các cụ về hưu, xúm lại bài bác: Đă bảo mà! T́m ở ngoài đê, quanh cái vụng Quạ th́ không lại đi t́m ở trong đê! Làm ǵ có xác trôi sông vượt qua được con đê để vào tận trong đồng! Chị Tiến và chị Nhương cũng có mặt, hai chị khuyên chúng tôi nhận lấy bộ hài cốt răng trắng chôn ở góc đa phía trên bến đ̣.

Duy có anh Th́n, con cụ Giám, hiện là Hiệu Trưởng trường cấp hai, th́ nói: bố anh hồi ấy có vớt được ba cái xác hai nữ một nam- kéo qua đê, rồi chôn ở cánh đồng này. Cụ Giám, theo dân làng nói, là người rất nghèo (làm nghề đơm đó và đánh dậm) nhưng bạo gan, nhà ai có việc đào huyệt, bốc mộ th́ đều nhờ đến cụ, cả những cháu bé bị chết, cụ cũng sẵn sàng vác lên vai đem đi chôn giúp. Từ hồi kháng chiến chống Pháp, có nhiều xác chết nổi lên ở vụng Quạ, làng cũng giao cho cụ vớt lên chôn cất. Cụ Yến xác nhận rằng cụ Giám được làng phụ cấp để làm việc đó, nếu có xác chết chôn ở đây th́ chỉ là nhờ tay cụ Giám thôi. Cụ Trọng th́ nhất quyết bài bác: làm ǵ có chuyện đó! Anh Th́n đưa ra thông tin trên là đưa vào tiết lộ của cụ Giám, nhưng cụ Giám th́ mất cách đây 18 năm. Hồi c̣n sống, cụ đă được tặng bằng khen v́ những thành tích trong kháng chiến chống Pháp.

Tôi gọi điện cho anh Nhă. Anh nói: Nghe gia đ́nh đă báo cáo t́m thấy đủ các dấu hiệu th́ tôi cũng tin, tuy rằng cự ly có phần không đúng. Bây giờ th́ phải lật cái bản đồ mà xem từ âm bản. Tôi hỏi: Như vậy có nghĩa là phần mộ sẽ nằm ở bên kia sông, tức là trên đất Thái B́nh? Anh nói: Phải vậy đó. Rồi anh dặn tiếp: Phải t́m đến một cái vụng xoáy, “một cái vụng do nước xoáy vào băi sông mà tạo thành” ở đó có một xóm mới, dân mới ra ở đó khoảng hai chục năm, trong đó có cô Nhường, có ông An. Mộ nằm trên đất cô Nhường, trên mộ vẫn những dấu hiệu như đă chỉ.

T́m mộ ngày thứ tư và thứ năm.

Các con tôi, vốn đă không tin vào phương pháp thần bí, đều không muốn đi tiếp. Các lăo già (chị và các em tôi) th́ đều đă mệt mỏi. Chỉ có anh Tân Cương là vẫn vững ḷng tin, v́ chính anh đă nhờ vào các nhà ngoại cảm mà t́m được mồ mả gia tiên. Anh nhận giúp tôi t́m kiếm tiếp. Anh cùng anh Đạt vượt bến đ̣ La Tiến sang đất Thái B́nh, đi dọc sông để t́m cái vụng xoáy, chốc chốc lại gọi điện thoại di động về. Xế chiều, cách bến đ̣ La Tiến chừng 8 cây số, một cụ già bảo anh: phía Thái B́nh không có vụng xoáy đâu. V́ nước sông ở đoạn này quật sang đất Hưng Yên. Cụ chỉ sang vụng bà Khán Mỹ bên kia sông. Gọi thế là v́ bà Khán Mỹ nhiều năm sinh sống trên vụng đó bằng thuyền đánh cá. Vậy là lại phải qua sông để trở về đất Hưng Yên. Cạnh vụng bà Khán Mỹ. Trên đất băi có một xóm mới, trong đó có một chị tên là Nhường, có một anh tên là An có mấy ngôi mộ vô thừa nhận, nhưng chẳng có dấu hiệu nào khớp với bản đồ mà anh Nhă đă cho.

Anh Tân Cương đi tiếp một ngày nữa, từ vụng bà Khán Mỹ ngược lên vụng Quạ. Nơi nào có mộ vô thừa nhận là anh đến. Nhưng chẳng đâu t́m thấy đủ những dấu hiệu mà anh Nhă cho.

Cuộc t́m kiếm theo đủ mọi hướng đến đây xem như tắc tị. Cái tính hoài nghi khoa học vốn có của tôi trỗi dậy: Tôi nghĩ: Lăo Nhă này, hắn đánh đố ḿnh! Hắn bày ra cả một “trận đồ bát quái”, nào là dấu hiệu, tín hiệu, tên người và tên đất, rồi bảo ḿnh phải đi t́m cho đủ. Lục t́m cả cái đất nước này, chưa chắc đă có nơi nào khớp được với cái trận đồ bát quái của hắn!

Nghĩ thế rồi tự trách ḿnh là vô lư. Đă chấp nhận đi theo “thầy Nhă mà tỷ lệ trúng mộ chỉ đạt 60% th́ lư ǵ lại thắc mắc khi trường hợp của ḿnh rơi vào 40% kia?”. Đă chấp nhận t́m đến con đường thần bí như nguồn hy vọng cuối cùng th́ lư ǵ lại đ̣i hỏi phải lư giải cái “Trận đồ bát quái kia?”

--o0o--

GỌI HỒN

Theo đuổi hai nhà ngoại cảm nổi tiếng đă vẽ trúng hàng trăm ngôi mộ liệt sĩ, nhưng đến lượt ḿnh th́ không có duyên, tôi bàn với anh Tân Cương chỉ c̣n cách là t́m đến những người có khả năng gọi hồn. Theo tin của anh th́ cô Phan Thị Bích Hằng đă mất năng lực đó vài năm nay rồi, anh đang giúp tôi liên hệ với một bà ở Cẩm Giang và một bà ở Hải Pḥng. Chị Tuyết Nga cũng khuyên tôi t́m kiếm theo hướng đó. Chị cho tôi một địa chỉ điện thoại mà điều tra ra th́ đó chính là địa chỉ của cô Bích Hằng. Trong quá tŕnh t́m mộ, tôi thường hay kể lại với bạn bè khi rảnh rỗi. T́nh cờ một hôm, anh Trần Công Bảy biết tôi có ư định gọi hồn, liền nhận giúp tôi liên hệ với cô Bích Hằng. Cô nhận giúp tôi vào chiều ngày 9.8.1999.

Ngày 9.8.1999 tiếp xúc với linh hồn.

Qua cô Bích Hằng, tôi hy vọng có được thông tin về phần mộ em tôi, nhưng điều c̣n quan trọng hơn là: Kiểm nghiệm xem có thật linh hồn c̣n tồn tại sau khi người ta chết không. Tôi lục t́m trong trí nhớ những vụ việc mà chỉ tôi và em tôi biết, để kiểm tra xem có thật là linh hồn em tôi đang nói với tôi không. Dự buổi  gọi hồn có chị tôi và em gái tôi, nhưng tôi dặn không ai được nói, đề pḥng hớ hênh, để lộ thông tin cho “thầy bói nói dựa”.

Bích Hằng là một cô gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và thùy mị, năm nay 27 tuổi tốt nghiệp đại học kinh tế quốc dân, hiện đang làm kế toán cho một công ty xây dựng của quân đội, đồng thời vẫn theo học lớp đào tạo thạc sĩ quản lư kinh doanh do trường đại học Oxtord (Anh) tổ chức tại Hà Nội.

Tôi hỏi cháu có khả năng đặc biệt từ bao giờ. Cô nói: từ khi c̣n đang học phổ thông, sau khi bị chó dại cắn, lên cơn nhưng không chết. Cô bạn cháu cùng bị chó dại cắn th́ chết. Một hôm, giỗ bà nội, cháu nh́n lên bàn thờ thấy bà ngồi cùng hai đứa bé. Cháu hỏi ông nội: hai cậu bé ngồi cùng bà nội kia là ai? Sau một hồi kinh ngạc, ông nội giải thích: người con thứ nhất của bà được hơn một tuổi th́ chết, người con thứ ba sau bố cháu được hơn hai tuổi cũng chết. Từ đó trở đi, khi qua nghĩa địa, cháu nh́n thấy vô số là vong hồn người nằm, người đứng, khi tỏ khi mờ giống như nh́n vào cái màn h́nh bị nhiễu. Mới đầu th́ rất sợ, sau cũng quen dần đi.

Tôi lại hỏi: “Có tin nói là khả năng đặc biệt của cháu suy giảm rồi, có đúng không?”. Cô trả lời: “Khi cháu có bầu và sinh con, cháu phải lấy cớ đó để từ chối. Bây giờ con cháu đă 14 tháng, cháu mới nhận giúp bác”.

Khác với anh Nhă, cháu Hằng yêu cầu đặt lên một cốc nước, một cốc gạo để cắm hương, một ngọn nến và một bức ảnh của cô Khang theo cháu nói là để nhận diện vong hồn được triệu về có đúng là cô không. Cháu mang theo một xấp giấy tiền đặt lên bàn.

Thắp hương và đốt nến xong, cháu khấn mời cô Khang bằng một giọng nhỏ nhẹ, tưởng chừng như cô đang ngồi trước mặt.

Rồi quay sang nói với tôi: Ở căn pḥng này, bác không thờ bao giờ, có thể là khó về.

Nghe Hằng nói, tôi đâm lo. Chẳng những không thờ bao giờ mà 10 năm nay tôi không ở nhà này, giao cho con. Nh́n quanh cửa kính đóng kín mít (dễ mở máy điều ḥa nhiệt độ) th́ mùi hương bay đi đâu mà cô nhận biết được? Cháu Hằng có lời mời nhưng cô ở đâu mà nghe thấy được? Nếu nghe thấy th́ t́m sao nổi đến địa chỉ này giữa cái thành phố ồn ào bát ngát? Nếu t́m thấy địa chỉ th́ lách qua kẽ hở nào mà vào được?

Một phút chờ đợi căng thẳng trôi qua. Cháu Hằng vẫn dán mắt vào tấm ảnh. Rồi hai phút, rồi ba phút. Bỗng cháu Hằng hớn hở: Cháu chào cô ạ! Cháu là Phan Thị Bích Hằng. Bác Trần Phương nhờ cháu mời cô về để hỏi cô hài cốt của cô hiện nay ở đâu?

Rồi Hằng vội quay sang tôi, hạ giọng nói: Có một người đàn ông, thanh niên đi cùng với cô. Tôi ngồi im, cố đoán xem người đó là ai.

Cháu Hằng vẫn chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại vâng à, à, thế ạ! à, cái ǵ ngân, cô Ngân hay là cái ǵ?

Qua phiên dịch của cháu Hằng, cô Khang nói: người thanh niên đi cùng em chính là anh Sơn đấy. Anh vẫn thường xuyên đến gặp em (Anh Sơn thật ư? Người anh, người bạn và người đồng chí thân thiết nhất của tôi! Tôi muốn reo lên, gọi thật to tên anh. Nhưng tôi cố nén ḿnh lại, chờ xem sao). Anh không có duyên rồi, anh đi t́m em, đối mặt với em rồi mà không đến được với em. Từ hôm anh đến mấy chị với em trong đội Hoàng Ngân của em cứ bảo sao lâu quá không thấy anh Phương trở lại. Chỗ em nằm chỉ cách chỗ anh đào 3 bước chân xoải dài ra phía bờ ao (tôi hỏi: Vậy em nằm trên vườn hay dưới ao? Đến bờ ao cũng c̣n ba bước chân nữa. Phía trên em chừng 2 mét là chị Nguyễn Thị Bê, đội viên đội nữ du kích Hoàng Ngân, quê ở ngay làng La Tiến. Cách chỗ em nằm cũng chừng hai mét về phía Đông là một nam, bị bắt từ Hải Dương về, em không biết tên. Ba cái mộ gần như nằm trên một đường thẳng. Hai người kia cùng bị giết một ngày với em. Chúng cột tay ba người lại với nhau rồi vất xuống sông vào nửa đêm. Dân pḥng ta có đi t́m nhưng không thấy. Măi mấy ngày sau, xác mới nổi lên. Dân vớt được thực ra, dân cũng là dân pḥng giả dạng thôi. Đưa về đây chôn, v́ thế mà ba cái mộ sát gần nhau. Xa hơn, c̣n mấy người nữa. Chỗ này c̣n có cả thẩy bảy người cơ. Mấy người nổi lên trước th́ dân c̣n cho được manh chiếu. C̣n nổi lên sau th́ đến manh chiếu cũng không có, nói ǵ đến quan tài! (v́ cháu Hằng hỏi: Chôn cô có quan tài không?)

Rồi cô chỉ dẫn tỉ mỉ chỗ cô nằm, với các đặc điểm cây cỏ chung quanh, bắt đầu từ cây nhăn ở góc vườn mà tôi nhận ra ngay. Đó là cây nhăn giáp với nhà bà Nhờ, tôi đă ngồi ở đó để theo dơi việc đào mộ.

Tôi hỏi: Em có biết chỗ em nằm thuộc về đất của ai không? Của bà nào không?

Cô đáp: Em cũng không biết nữa.

Cháu Hằng xem ảnh bác Sơn, bảo đúng, nhưng trông bác già hơn và gầy hơn trong ảnh. Thực vậy, bức ảnh chụp năm 1948, trong tư thế rất bảnh trai, khi anh tôi đang công tác ở Sơn Tây.

Anh nói: Chú đi t́m em Khang mà chẳng nói với anh một câu. (Tôi xin lỗi anh. Nhưng trong bụng vẫn nghĩ: Oan em quá, em đâu có biết anh c̣n tồn tại?). Lần sau, chú báo trước cho anh, anh sẽ dẫn đường cho chú đến tận nơi. Người trên này có tâm đấy, nhưng ṃ kim đáy biển, biết chỗ nào mà đào? Ai khoanh cho chú chỗ ấy là họ hiểu biết đấy. Cũng may mà khúc sông ấy hơi cong lại, xác em ḿnh dạt vào, nếu không th́ đă trôi tuột đi rồi.

Mẹ th́ khóc thương em nhiều lắm, cứ muốn em về bên mẹ để mẹ ôm ấp. C̣n anh th́ anh khuyên em về nghĩa trang liệt sĩ. V́ đấy là vinh dự của em ḿnh, của gia đ́nh ḿnh cơ mà. Tổ quốc ghi công ḿnh, đời đời người ta thắp hương cho ḿnh, chứ đâu chỉ con cháu trong gia đ́nh ḿnh. Vả lại đời anh chị em ḿnh đă vậy, chứ đến đời thằng An th́ nó c̣n biết ǵ! (Tôi giật ḿnh, v́ thằng An chính là con tôi, 10 năm sau khi hy sinh, nó mới ra đời).

Hôm nào khi đưa em Khang về nghĩa trang liệt sĩ, chú cũng cần nói lại với bố mẹ như thế.

Hôm chú đi t́m mộ em Khang, anh cũng có theo dơi. Chú đào xuyên đến cả lớp đất nguyên thủy. Em ḿnh đâu có nằm sâu đến thế. Chỉ hơn một mét là đến lớp cát đen rồi. Em ḿnh cũng chỉ nằm ở tầm ấy thôi. Lần này chú để ư sẽ thấy một thanh củi mục. Thực ra, đấy là cái cán thuổng mà người đào đất đánh găy vất lại đó, vô t́nh như đánh dấu cho ḿnh.

Bỗng cháu Hằng nói như ra lệnh: Pha chén nước chè!

Tôi hỏi nhỏ cháu sao lại làm như vậy?

Hằng nói Bác Sơn bảo: Nói chuyện khan thế này thôi à?

Cháu Hùng đứng dậy đi ra ngoài, rồi lại vào ngồi cạnh tôi. Một lát cháu đứng dậy đi ra cửa, đỡ lấy hai chén trà nóng đặt lên bàn.

Cháu Hằng quay sang tôi nói: Bác Sơn bảo: Ơ ḱa cái thằng An! Nó vào mà không chào bác.

Cháu Hằng và tôi đều ngồi quay lưng ra cửa, không để ư ai đă hé cửa đưa chén trà cho Hùng. Sau mới biết là cháu An, nó vừa đi làm về.

Bác Sơn nói tiếp: Các cháu học sinh nó không biết đấy thôi. Người âm không giúp được ǵ nhiều, nhưng cũng có lúc đỡ được. Có lần, chỉ cần anh đến chậm một tư th́ cháu Trang đă gặp nguy hiểm rồi (Tôi kinh ngạc khi anh nhắc đến tên cháu Trang con của An).

Tôi hỏi: Anh bảo sẽ dẫn đường cho em, làm cách nào mà em nhận biết được?

Anh nói: Anh không thể nắm tay chú, nhưng anh sẽ t́m con vật nào đấy: con ong, con bướm chẳng hạn, sai khiến nó để nó dẫn đường cho chú. Làm việc này đối với người âm là khó đấy, nhưng anh sẽ cố. Khi thấy con vật chú gọi nó lại, rồi đi theo nó đến chỗ nó đậu.

Một lúc lâu cháu Hằng không dịch, mà trao đổi ǵ đó. Tôi chỉ nghe cháu nói (cháu c̣n con nhỏ. Vâng, cháu sẽ cố. Sau này hỏi lại, Hằng nói: cô Khang cứ thuyết phục cháu đi đến mộ để cô nói với cháu, chỉ cho cháu đúng chỗ cô nằm, kẻo lại đào chệch như lần trước. Bác Sơn cũng dỗ cháu. Bác bảo: Chú Phương chú ấy quen tác phong chỉ huy, ra lệnh. C̣n bác th́ bác nhờ cháu. Bác Sơn bác ấy vui tính lắm. Hễ bác nói là thấy không khí vui vẻ, phấn khởi ngay. C̣n cô Khang th́ có vẻ hơi buồn.

Cháu Hằng lại hỏi: Bác Phương muốn biết chính xác ngày giỗ của cô. Bác ấy chỉ biết vào khoảng 20 tháng sáu dương lịch.

Rồi Hằng nói tiếp: Cô cười bảo: Đối với anh Phương th́ ngày nào mà giỗ chẳng được. Em bị chúng nó bắt, có được bóc lịch đâu mà biết ngày. Chỉ nhớ một hôm, khoảng 18 hay 19 ǵ đó, thằng quan tư bảo: “Bọn mày cứng đầu! Đến ngày 24 mà không khai th́ bắn bỏ”, anh cứ lấy ngày ấy là được. C̣n ngày âm lịch em không biết là ngày nào.

Anh Sơn bổ sung: Cứ qua ngày giết sâu bọ là em Khang lại bảo anh: Sắp đến ngày giỗ em rồi đấy.

(Sau này tôi tra lịch th́ biết: ngày 24.6.1950 là ngày mùng mười tháng năm âm lịch).

Rồi anh nói tiếp: Hôm nào đi t́m mộ em Khang, các cô kiếm lấy ít hoa quả, thắp hương mời chị em. Người ta chết cùng nhau, ḿnh chỉ h́ hục đào t́m em ḿnh th́ người ta cũng tủi, phía trên mộ cô Khang là mộ một chị liên lạc, cấp dưỡng cho đội du kích, người địa phương (cô Khang nhắc: chị Nguyễn Thị Bê) nên báo cho gia đ́nh chị ấy biết mà đến t́m. Chú Phương kiếm cho anh mấy bao (cháu Hằng nói: bao ǵ ạ... à vâng), bao thuốc Cáp tăng để anh mời anh em. Bây giờ anh cũng chỉ huy cả trung đoàn đấy.

Bỗng cháu Hằng nói như ra lệnh: Đốt tiền đi! Sắp đi rồi đấy.

Tôi hỏi nhỏ cháu: Sao lại làm vậy?

Cháu nói: Bác Sơn bảo.

Chúng tôi vội hỏi đôi điều về “đời sống” của anh tôi và em tôi. Cô Khang nói: Có lần em về thăm chị Nghĩa, chỉ đứng ngoài mà không vào được (chị Nghĩa là chị lớn nhất nhà của chúng tôi).

Anh Sơn nói: Em bị chết trôi sông, đă có ai bắc cầu đâu mà hễ nhớ chị nhớ em th́ chỗ nào cũng đ̣i vào. Bận sau đi với anh. Bây giờ công việc ở đây đă xong, đi với anh đến nhà Quỳnh chơi (Quỳnh là em út của chúng tôi. Tuy là út, nhưng cũng đă thành một “ông lăo ngoại 60 rồi”). Chỉ riêng cách xưng hô đó cũng chỉ nói lên vị thế và t́nh cảm của người anh cả đối với thằng em út.

Nói rồi, biến mất. Cuộn băng ghi âm 90 phút cũng vừa hết.

Sau đó tôi nghe lại băng ghi âm nhiều lần. Quả thật lại quá nhiều điều bí ẩn do chính anh tôi nói ra mà tôi không kịp hỏi lại. Nhưng, qua những tên người trong gia đ́nh được nhắc đến một cách ngẫu nhiên, qua cách xưng hô, sự hiểu biết về tính cách từng người c̣n sống, cách xử sự và tâm tư t́nh cảm của người nói, tôi nhận ra đúng là anh tôi và em tôi. Người khác, dù biết rơ gia đ́nh tôi đến mấy, cũng không thể sáng tác ra một kịch bản như thế, huống hồ là cháu Hằng, một người mà tôi vừa mới gặp lần đầu. Cháu chỉ đơn thuần đóng vai người phiên dịch, chăm chú lắng nghe, hỏi lại cho đúng rồi nói lại. Cháu hỏi han, vâng dạ, trao đổi với người chết cứ như nói chuyện với người sống đang ngồi trước mặt, hoàn toàn không phải là một cô đồng nửa tỉnh nửa mê.

Nếu thừa nhận người đang nói đúng là anh tôi và em tôi th́ không thể không thừa nhận: Sau khi người ta chết đi, vẫn c̣n lại một cái ǵ đó mà ta quen gọi là linh hồn. Nhưng linh hồn là ǵ? Tôi tự hỏi. Nó phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó th́ cháu Hằng mới nh́n thấy và nhận diện được qua tấm ảnh. Nó phải phát ra tiếng nói qua một tần số nào đó th́ cháu Hằng mới nghe thấy mà nói lại cho tôi. Đối với tôi nó là vô h́nh, nhưng đối với cháu Hằng th́ nó lại là hữu h́nh. Đối với tôi nó là câm lặng, nhưng đối với cháu Hằng th́ nó lại phát ra những âm thanh có thể nghe thấy, những âm thanh này chuyển tải đủ cả những sắc thái sống động của t́nh cảm, của tư duy, hệt như tiếng nói của người sống vậy.

Nếu linh hồn đă là một dạng vật chất có h́nh thù và khả năng phát ra âm thanh th́ “theo cách nói của triết học” nó thuộc phạm trù “Tồn tại” mang tính khách quan, chứ không thuộc phạm trù ư thức mang tính chủ quan. Nhận biết nó hay không nhận biết được nó, là tùy ở khả năng của từng người. Cháu Hằng có khả năng nhận biết được nó. C̣n tôi th́ không. Nhưng đâu phải v́ tôi không có khả năng nhận biết được nó mà tôi có quyền phủ nhận sự tồn tại của nó? Đối với tất cả những ǵ ta chưa có khả năng nhận biết được chớ vội vất vào cái sọt rác mê tín dị đoan th́ khoa học c̣n việc ǵ để làm, c̣n ǵ để khám phá? Lâu nay, tôi đinh ninh ḿnh là duy vật, hóa ra chính ḿnh lại là duy tâm chủ quan: “Cái ǵ ta cho là tồn tại th́ nó tồn tại, cái ǵ ta cho là nó không tồn tại th́ nó không tồn tại, nó chỉ là mê tín dị đoan!”.

Lần đầu tiên trong đời tiếp xúc với linh hồn, tôi nhận ra như thế, hoặc suy ra như thế. Tuy nhiên, cũng c̣n phải chờ cuộc đào bới tiếp mới kiểm nghiệm được những thông tin do linh hồn cung cấp là đúng hay sai.

Vùng đào bới tiếp lại trùng hợp với vùng đào bới do anh Nhă chỉ dẫn. V́ vậy, cũng là một việc để kiểm nghiệm lại cái trận đồ bát quái của anh.

Hy vọng và hoài nghi lẫn lộn, tôi nóng ḷng chờ ngày hẹn của cháu Hằng để cùng về La Tiến. Cuối cùng ngày hẹn được ấn định: 17.8.1999.

Ngày 17.8.1999 cuộc đào bới lần thứ hai.

Ngay sau khi nhận được hẹn của cháu Hằng, tức là 4 ngày trước khi tiến hành cuộc đào bới lần thứ hai, tôi cử chú Quỳnh cùng anh Tân Cương về La Tiến làm các công việc chuẩn bị. Khi c̣n cách La Tiến 40 cây số, anh Tân Cương gọi điện cho anh Nhă. Anh rất mừng khi biết tin Bích Hằng vào cuộc. Lần này anh cho Tân Cương một tín hiệu: 10 giờ hôm đó, sẽ có hai con bướm màu bay lượn quanh mộ rồi đậu lại, hăy đánh dấu lấy chỗ đó.

Đến nhà ông Điển, đúng giờ hẹn, anh Tân Cương ra gốc nhăn ngồi. Cái hố mà chúng tôi đào hôm trước nay đă được lấp bằng. Một lát, có hai con bướm đen đốm hoa bay đến, rồi một con bay đi, một con đậu lại trên cành nhăn. Anh Tân Cương chiếu thẳng từ cành nhăn xuống đất cắm một cây que đánh dấu lại. Cây que cách chỗ tôi đặt quả trứng hôm trước 2 mét ra phía bờ ao. Ông Điển đứng bên tường hoa theo dơi, chỉ tủm tỉm cười. Vào trong nhà ông mới kể: Sau lần đào bới hôm trước, ông mời “thầy” về cúng, thầy bảo mộ cô nằm cũng ở chỗ cây que đó.

Nghe anh Tân Cương thuật lại câu chuyện, tôi chỉ biết ghi nhận. Tất cả c̣n phải chờ kết quả cuộc đào bới tiếp. Nhưng nếu đúng th́ thật kỳ lạ. Anh Nhă ở tận Sài G̣n, làm sao điều động được hai con bướm đến một điểm chỉ cách thành hồ cũ 1 mét? Điểm ấy đúng như ư anh chỉ đạo lần trước là phát triển về hướng Nam, nhưng không phải về hướng Nam như tôi đă thực hiện, mà xa hơn. C̣n bà “thầy vườn”? Chẳng lẽ đất nước này cũng lắm người có tài năng kỳ bí, chứ không phải chỉ rặt một hạng người buôn Thần bán Thánh nhảm nhí?

Trong những việc tôi nhờ anh Tân Cương, có việc điều tra xem trong danh sách liệt sĩ của xă, có ai là Nguyễn Thị Bê. Anh thất vọng kể lại: Chẳng những lục t́m sổ sách mà c̣n đi hỏi rất nhiều cụ 70 tuổi trong làng, không đâu biết có một cái tên như thế. Đối với tôi th́ sự thất vọng càng lớn. Vậy là em gái tôi nói sai? Và cả anh tôi nữa. Thậm chí anh tôi c̣n nói cụ thể chị ấy là liên lạc cấp dưỡng của đội du kích. Em gái tôi và anh tôi th́ tôi biết là người không thể nghi ngờ được. Vậy dấu hỏi phải đặt vào người nói: Có thật là người nói em gái tôi và anh tôi không?

Tối hôm 16.8, tôi không quên thắp hương và báo cáo với anh tôi rằng sớm ngày mai chúng tôi sẽ về La Tiến t́m mộ em Khang.

Đến nơi, chị tôi theo đúng lời dặn của anh Sơn, bày hoa quả vào mâm đặt lên tường hoa, cháu Hằng khấn mời. Khấn xong, cháu cầm bó hương, đi thẳng ra gốc cây vải (cách gốc cây nhăn 6 mét về hướng Đông, cả hai cây đều sát bờ ao). Ngắm nghía rồi cắm hương xuống đất. Lấy bó hương làm tâm, cháu vạch một cái hố h́nh chữ nhật để đào. (Sau này Hằng bảo tôi: Khi cháu đang khấn th́ đă thấy bác Sơn và cô Khang đứng ở gốc cây vải cô vẫy cháu lại rồi chỉ cho cháu chỗ cắm hương, đầu và chân ngôi mộ).

Nh́n bó hương của Hằng, tôi thấy nó cách quả trứng của tôi 3 mét ra phía bờ ao, nhưng lại lui về hướng Đông dọc theo bờ ao 2 mét nữa. Cái hố mà cháu vạch không nhằm thẳng hướng Tây - Đông như cái hố hôm trước mà đầu về hướng Tây Bắc, cuối về hướng Đông Nam, sát gốc cây vải nghĩa là gần như vuông góc với cái hố hôm trước. Cái hố mới nằm ngoài h́nh tam giác hôm trước, cạnh của nó là cạnh đáy của h́nh tam giác nối dài ra phía bờ ao.

Trong khi thợ đào đất chuẩn bị làm việc, Hằng đặt ảnh cô Khang ở dưới gốc cây vải; rồi nói:

- Thưa cô, chỗ cô nằm, cháu đă vạch theo chỗ cô chỉ. C̣n hài cốt th́ như hiện trạng cháu nh́n thấy, c̣n rất ít, khi bốc lên có thể mủn ra. Vậy xin cô cho phép bốc lẫn cả đất mang về. Nếu không được đầy đủ th́ cô cũng thông cảm cho. (sau này tôi hỏi Hằng: Cháu nh́n thấy hiện trạng của hài cốt thật ư ? Hằng nói: cháu nh́n thấy.

- Hồi năm 1994, t́m hài cốt 13 liệt sĩ ở núi Non Nước - Ninh B́nh, cháu nh́n thấy hài cốt bị vùi dưới lớp đất sâu 4,5 mét. Khi đào đến độ sâu 3 mét, không thấy ǵ, mọi người đă nản, nhưng cháu yêu cầu đào thêm, v́ cháu đă nh́n thấy hài cốt ở độ sâu ấy).

- Cô Khang nói: Lần này nh́n thấy cậu Quỳnh là chị phấn khởi rồi, cậu Quỳnh mà đi th́ chắc là được (Lần trước Quỳnh không đi, Quỳnh lại là người tin vào thần Phật). C̣n anh Dung (Tôi tên thật là Vũ Văn Dung) th́ thần thánh anh ấy cũng chẳng sợ, có khi chỉ nhiễu quan trần, c̣n quan âm th́ chẳng ai giúp ḿnh. Anh Sơn tức anh Nhung nhà ḿnh (tên thật của anh tôi là Vũ Văn Nhung) cũng ở đây suốt từ sáng. Anh cứ bảo sao ḿnh chưa đến. Anh trách cháu An, nếu mà có kiên tŕ, b́nh tỉnh th́ đă đưa được cô về từ lần trước để thu dọn chiến trường.

- Cháu Hằng hỏi: Ai là Hậu? Cô gọi chị Hậu. Chị tôi vội chạy từ trong nhà ra. Cô Khang nói tiếp:

- Chị đă xuống đây mà không ra với em, lại cứ ngồi trong ấy. Hài cốt của em th́ không c̣n nguyên vẹn. Nhưng chị bốc cho em một nắm đất về quê ḿnh th́ em cũng mừng rồi. Ở đây tuy có nhiều chị em đồng đội, nhưng không phải là ruột thịt, cả năm cũng chả ai đến thắp cho một nén hương. Chả lẽ cứ ở đây quấy quả nhà ông An măi!

- Bác Sơn nói: Cứ bốc cho bằng hết, dù ít dù nhiều th́ cũng là máu thịt của em ḿnh. Không bỏ vừa trong tiểu th́ đắp lên mộ cho em. Cái con Uyên là người hợp với em nhất, được cô cho nhiều lộc nhất, đáng lẽ hôm nay nó đi th́ mới phải (Uyên là con gái út của tôi, nó đă đi hôm đầu tiên).

- Anh Tân Cương hỏi cô có biết cháu là ai không?

- Cô Khang nói: Nếu tôi không biết anh Cương th́ hóa ra tôi vô t́nh quá, Anh lăn lộn với tôi nhiều.

- Bác Sơn bổ sung: Thằng Tuấn Anh chưa chắc đă lăn lộn với cô bằng anh Cương (Tuấn Anh là con thứ hai của tôi, nó sinh ra mấy ngày sau khi anh tôi hy sinh).

- Tân Cương lại hỏi: Ai mai táng cô, cô có biết không? Nhiều người không tin là thi thể cô có thể trôi dạt vào đây. Cô vừa nói đến ông An, là ông An nào, ở đâu?

- Cô Khang nói: Nếu có cách ǵ là cho cụ Đặng Đ́nh Giám sống lại th́ gia đ́nh ḿnh khỏi mất công t́m kiếm. Rất tiếc là đă gặp cụ ở âm phủ mất rồi. Em bị chúng nó ném xuống sông, khi xác nổi lên, gặp lúc triều cường, dạt vào một khúc quanh, được cụ Giám vớt lên, kéo qua một cái rănh nước rồi dừng lại. Cụ bảo: Mấy vị chết ở đây, nếu đói khát, khi nào nhà ông An lên hương th́ vào mà xin lộc. 

- Được chị động viên, Quỳnh kể về quá tŕnh đi t́m hài cốt của chị, trong đó có đoạn: Chị Tiến và chị Nhương báo cho gia đ́nh ḿnh đến nhận bộ hài cốt chôn ở gốc đa phía trên bến đ̣. Người ta bảo cô Chử Thị Dung ở Thái B́nh đă t́m thấy hài cốt của bố cô ấy chôn cùng với người phụ nữ đó. Để xác minh, em đă theo dấu chân cô ấy từ Thái B́nh đến tận Vũng Tàu. Nhưng cô ấy nói rằng chính cô ấy cũng t́m thấy hài cốt của bố cô ấy.

- Nghe xong, cô Khang nói: Chị nói cho em biết cái mộ ở gốc đa nếu là một nữ du kích mà nhận là chị th́ c̣n được, đằng này lại không phải nữ du kích, sao ngộ nhận như thế được! C̣n Chử Thị Dung, chính bố cô ấy đă kể với chị rằng em đă đến t́m gặp cô ấy. Ông ấy nhờ chị nói với em nhắn giùm cho cô ấy đến t́m bố. Bố cô ấy cũng nằm ở đây.

- Rồi cô chỉ chỗ ngôi mộ, ngay dưới chân cái hố sắp đào. Đó chính là ngôi mộ người đàn ông bị bắt từ Hải Dương về (Sau này Hằng kể lại người đàn ông lúc ấy cũng đứng bên cạnh cô Khang nói lại, cháu mới nghe thấy, khi cô chỉ ngôi mộ, cháu nh́n xuống th́ thấy hài cốt không có đầu).

- Đến đây cháu Hằng nói: Xin phép cô cho bắt đầu.

- Đào hết lớp đất vượt thổ th́ Hằng bảo thợ ngừng đào. Cháu nhảy xuống hố, lấy dầm gạt nhẹ từng lớp cát đen. Chỉ hơn một gang tay th́ vướng vào thanh củi mục, nạy lên, thả vào nước th́ nhận ra đó là một khúc tre già, thịt tre đă bị phân hủy hết, nhưng xơ tre và đốt tre th́ vẫn c̣n nguyên. Khúc tre dài hơn một gang tay, đường kính tương đối lớn, không thể tra vừa bất cứ một loại xẻng hay cuốc nào, chỉ có thể tra vừa cái thuổng h́nh lưỡi mai (mặt phẳng bề ngang nhỏ hơn lưỡi xẻng, nhưng dài hơn lưỡi xẻng).

- Mọi người đều kinh ngạc khi biết thông tin về cái thuổng đă được báo trước. Riêng tôi th́ mừng khôn xiết. V́ đây là dấu hiệu đáng tin cậy nhất để nhận biết nấm mộ này đích thực là mộ em gái tôi. Cái cán thuổng đă bị vùi dưới đất cách đây 50 năm, người đời không ai ngụy tạo ra nó được. Dấu hiệu đó lại được linh hồn mách bảo cho tôi chính ngày trước khi khai quật. Người đời không ai nh́n thấy mà mách bảo được. C̣n sự chính xác th́ đạt đến mức chi tiết. Thú thật, khi nghe anh tôi nói đến cái cán thuổng, tôi nghi ngờ : Hoặc là anh tôi nhận định sai, hoặc là cháu Hằng dịch sai. V́ người đào huyệt phải dùng mai, xẻng cuốc, chứ sao lại dùng thuổng? Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đến loại thuổng thông dụng nhất loại có lưỡi h́nh vũm để đào gốc cây, chứ không nghĩ đến loại thuổng h́nh lưỡi mai để đào đất, tác dụng giống như cái mai nhưng khỏe hơn cái mai. Loại thuổng này cũng c̣n nơi gọi là mai.

- Sau khi t́m thấy cái thuổng, chỉ gạt vào lớp cát mỏng là thi hài em tôi hiện ra. Khi chôn, người ta đă đặt em tôi nằm nghiêng, người hơi cong, mặt hướng ra vụng Quạ, đầu về hướng Tây Bắc, chân về hướng Đông Nam. Trùm lên sọ là một mảng tóc đen nhánh, rồi đến những đốt xương cổ nh́n rất rơ. Nhưng khi bốc lên th́ tóc rụng ra ngay, những đốt xương nguyên vẹn găy ra như những chiếc bánh bích quy thấm nước. Cháu Hằng hỏi cô Khang: Răng cô ở đâu, để cháu mang đi đăi. Cuối cùng t́m được 5 chiếc răng. Tôi xem th́ đúng là răng trắng, nhưng do ngâm lâu trong bùn nên ngả sang màu xám và đen xỉn. Theo đúng mệnh lệnh của anh Sơn, chúng tôi bốc tất cả số bùn đất theo h́nh người nằm cong, bỏ vào túi mang về. Cháu Hằng t́m măi không thấy chiếc c̣ng sắt. Cháu hỏi cô Khang, cô cũng không chỉ được. Tôi nhận định: có thể là nó đă rỉ đất qua 50 năm trong bùn.

- Lúc này th́ Hằng không dịch, nhưng hôm sau, cháu nói với tôi: Lần này đi t́m mộ cô Khang, cháu thương cô quá. Lúc t́m được răng rồi, mấy người ở trên miệng hố nhắc cháu t́m móng tay. Cháu bèn hỏi cô: Móng tay của cô ở chỗ nào cô chỉ cho cháu. Cô giơ hai bàn tay lên trước mặt cho cháu, nói: Chúng nó rút hết móng tay của cô rồi, c̣n đâu mà t́m!

- Tôi vô cùng kinh ngạc, v́ điều này chỉ ḿnh tôi biết. Sau khi em tôi bị giặc sát hại. Huyện ủy Phù Cừ gửi riêng cho tôi bản báo cáo gửi lên cấp trên (Trước đó, tôi là phó bí thư tỉnh ủy Hưng Yên, có nhiều gắn bó với Huyện Phù Cừ) kể rơ em tôi bị bắt, bị tra tấn và bị giết như thế nào. Trong những cực h́nh mà địch sử dụng, có việc dùng ḱm rút hết móng tay rồi cắm kim vào đó, dí điện vào hai đầu vú, thọc gậy vào âm hộ, treo ngược lên cành cây mà đấm đá. Tôi không muốn một ai khác trong gia đ́nh phải chịu đựng những nỗi thương xót như tôi, v́ vậy đă giấu kín những tin này. Nay được cháu Hằng kể lại, tôi tin chắc người nằm dưới mộ đích thực là em gái tôi.

- Cháu Hằng lúi húi t́m kiếm và chỉ đạo mấy người giúp việc, thỉnh thoảng lại nhô đầu lên nói chuyện với những người ngồi trên miệng hố. Bỗng Hằng nói: Có một cụ cứ tủm tỉm ngồi nh́n, không biết có phải là cụ Giám không? Rồi Hằng cất giọng, lễ phép nói :

- Cháu chào cụ ạ. Cụ cho phép cháu được biết quư danh của cụ.

  Lắng nghe hồi lâu, Hằng nói như reo lên:

- Cụ An!

Rồi Hằng tự giới thiệu ḿnh cùng gia đ́nh đi t́m hài cốt cô Khang, đề nghị cụ giúp đỡ.

Cụ An nói: Tôi là hàng xóm, nhà tôi ở vệ đê, bên kia đầm, lần nào các bác về đây mà tôi chả biết. Tôi nhớ, đêm hôm ấy, vào lúc gà gáy canh hai, ông Giám qua nhà tôi, hỏi mượn tôi cái mai. Tôi hỏi để làm ǵ? Ông Giám: Suỵt! Để chôn người chết trôi. Tôi nh́n ra th́ thấy một cái xác cụt đầu, biết ngay là cán bộ cách mạng. Ở chỗ kia ḱa có cái rănh nước, ông Giám kéo mấy cái xác vào rănh nước, đến đây là chân ruộng mạ. Ông Điển mới ra ở đây thôi, chứ ngày ấy là ruộng mạ, thuộc chủ khác.

Cháu Hằng đưa ảnh cô Khang, hỏi cụ có nhận ra người chết được không? Cụ An nói: Bà này là thân nhân của ông cán bộ trước là tỉnh ủy ở đây. Nhưng chôn cất như thế nào th́ cả tôi, cả ông Yền, ông Trọng đều không biết ǵ đâu. Chỉ có ông Giám là biết thôi. Để tôi đi t́m giúp ông Giám.

Một lúc lâu cụ An đi cùng với cụ Giám về. Hằng nói nhỏ: Cụ này già thế nhỉ! Rồi Hằng tự giới thiệu và nêu ra đề nghị: nhận diện người chết qua tấm ảnh cái c̣ng sắt nằm ở chỗ nào?

Cụ Giám nói: Đêm tối, tôi chỉ thấy loáng thoáng thôi. Xác ngâm lâu đă trương lên rồi, mặt mũi th́ nh́n không rơ. Tóc th́ không vấn như thế này đâu, mà cắt ngang gáy như cô bây giờ, nhưng xơa xượi dưới nước. Lần ấy tôi đem về đây không phải một người, mà ba người cơ. Tôi kéo người phụ nữ lên trước, cứ thấy vướng. Th́ ra tay trái cô ấy xích vào tay phải người đàn ông. Khi chôn, chẳng lẽ lại chôn hai người một hố, tôi tuột tay một người ra khỏi cái ṿng. Tôi chôn người phụ nữ ở đây, c̣n người đàn ông th́ ở chỗ kia. Sức tôi cũng chỉ kéo được đến thế. Khi tôi chôn th́ xác bị trói đă cứng, không nắn thẳng ra được, đành đặt hơi nghiêng, mặt hướng ra sông cho mát mẻ. C̣n người phụ nữ nữa, tôi chôn ở góc kia (cụ chỉ ra phía gốc nhăn) nhưng bây giờ th́ đă tụt xuống ao rồi h́nh như lúc bị chết bà ấy đang có chửa.

Tân Cương nói: Một số người không thể hiểu được xác chết trôi sông lại có thể vào được đến đây.

Cụ giám nói: Cái con mẹ Tiến nó cứ mồm năm miệng mười, chứ làm sao mà nó biết được bằng tôi. Ở ngoài kia nước cả, không đem vào đây th́ vùi làm sao được? Cụ nói tiếp: Điều này th́ tôi chỉ nghe phong phanh thôi. Tụi lính đóng ở đồn nó bảo người phụ nữ bị giết đêm hôm ấy là bà bé của tay xếp bót.

Cụ An căi lại: Ông th́ chỉ được cái ăn no vác nặng, chẳng có hiểu biết ǵ. Có lần ông chôn một anh bộ đội, ông lại bảo thằng lính dơng. Tôi th́ không được kéo xác như ông, nhưng việc này th́ tôi biết rơ. Có một người phụ nữ du kích bị bắt, thằng xếp Bách dụ làm vợ bé không được, nó đă giết đi. Ở bót này có một thằng quan tư là quan thầy người Pháp, c̣n thằng Bách tuy là tay sai nhưng cũng được  gọi là (thằng Bách lấy vợ người La Tiến, dân đều biết rất rơ về nó).

Trời đă xế chiều. Mọi người hối hả thu dọn.

Hằng nói: Bác Sơn bảo: C̣n cái chân của cô, moi sâu vào mà bốc. Bác bảo cứ b́nh tỉnh! Từ sáng, bác đă rải quân canh pḥng từ đầu làng rồi, không cho phép quấy rối. (Tôi không biết thực hư thế nào, nhưng lần nào bới trước có cả trăm người vây ṿng trong ṿng ngoài, c̣n hôm nay th́ chỉ có mấy đứa trẻ). Bác bảo: Được bà chị xuống với em, chẳng giúp được việc ǵ, chỉ ngồi khóc!

Tân Cương tưởng anh tôi nói về cô em dễ xúc động của tôi, liền chêm vào: sáng nay bà ấy cứ nhất định đ̣i đi.

Hằng cải chính - Bác Sơn nói là nói đến bà chị - Bác Nghĩa. Từ năy, bà già cứ ngồi một chỗ khóc: Nhà có sáu chị em gái, ai nấy đều có phận, đâu đến nỗi nào, riêng em tôi giỏi giang xinh xắn nhất nhà th́ thế này! Không t́m được  xác em tôi, tôi chết cũng không nhắm được mắt. Bây giờ t́m được em th́ ḿnh cũng đă ra người thiên cổ rồi!

Bất chợt nghe thấy con số 6, tôi vội bấm đốt ngón tay: 6 hay 5 nhỉ ? đúng là 6.

Bác Sơn (như hiểu ư anh Tân Cương) nói: Cho cái cô Nam nhà tôi xuống đây th́ chỉ được cái bù lu bù loa, chẳng cho ai làm ǵ. Tính cái con ấy nó vậy!

Cô Khang nói: Sau lần gặp cô em, ông anh tôi đă về bốc cát lập ngay 7 bát hương, mỗi người một bát! Đúng là một cuộc cách mạng với ông anh tôi! Em Khang cảm động khi nhận tấm ḷng của anh Phương, chị Thủy.

Cụ An nói: Bà cô là liệt sĩ, sao không làm lễ truy điệu rồi hăy mang về quê?

Bác Sơn nói: Hôm nay cập rập quá, gia đ́nh chuẩn bị không kịp. Hôm nào đưa về nghĩa trang liệt sĩ của huyện, sẽ làm lễ truy điệu.

Cô Khang nói: Cậu Quỳnh c̣n giữ những giấy tờ, bằng khen của chị không? (Quỳnh đáp: Bằng khen và huân chương của chị em vẫn giữ). Hôm nào làm lễ truy điệu chị ở nghĩa trang liệt sĩ, cậu nhớ mang theo.

Tôi thật không ngờ; người chết đă 50 năm mà vẫn quan tâm đến những vinh dự của ḿnh nơi trần thế!

Hằng nói: Cô cười bảo: Cụ Giám ạ! Cụ nói oan quá, đă được làm bé ngày nào đâu? (mọi người cùng cười). Nhưng cụ nói đúng đấy. Ngày xưa ai cũng gọi là cô Khang tóc dài, nhưng khi bị bắt, nó đă cắt cụt hết tóc. Trong việc chôn cất các liệt sĩ ở đây, cụ là người có công nhất: Chúng tôi rất biết ơn cụ.

Công việc thu vét hài cốt xong xuôi th́ mặt trời sắp lặn. Mọi người vây quanh gốc cây vải, nơi đặt bàn thờ tạm. (Sau này Hằng kể lại: Suốt ngày cô Khang và bác Sơn quanh quẩn ở đó, buổi chiều th́ bác Nghĩa cũng ngồi ở đó ôm lấy tấm ảnh, cụ An và cụ Giám th́ ngồi ở xa hơn, về phía tường hoa).

Cô Khang nói lời cảm ơn đối với gia đ́nh bác Điển, bác Đạt, nhờ bác Điển chuyển lời thăm hỏi đến chị Nhương, chị Tiến.

Nay tôi về Mỹ Hào quê tôi, về với anh tôi. Nằm tại đây c̣n một bộ hài cốt, gia đ́nh người ta cũng sẽ đến bốc về. Chỉ c̣n chị Bê, hài cốt không c̣n ǵ. Nhờ bác Điển hương khói cho vong hồn chị, chị sẽ phù hộ cho. Hồi đi hoạt động lấy tên là Nguyễn Thị Bê, nhưng tên thật của chị là Nguyễn Thị Út (Mấy người làng ồ lên: bà Út! Thế mà t́m kiếm măi!)

Cuối cùng cô dặn: Nhờ bác Điển đem mâm lễ phát lộc cho các cháu.

Chúng tôi đưa hài cốt em tôi về nhà, và 2 hôm sau, đưa về nghĩa trang liệt sĩ của huyện, có mặt đông đủ họ hàng nội ngoại. Sự xúc động được đón người thân sau 50 năm cách biệt xen lẫn với niềm tự hào về người con gái của ḍng họ đă hiến cuộc đời ḿnh cho cuộc sống hạnh phúc ngày hôm nay”.

--o0o--

M̉ T̀M TRONG BÍ ẨN
NHỮNG THÔNG TIN ĐÁNG TIN CẬY

Từ hôm gặp anh Nhă đến hôm bốc được hài cốt là một hành tŕnh ṃ lần trong bí ẩn. Những thông tin do anh Nhă đưa ra, đối với chính anh cũng là điều bí ẩn: trúng hay trật, chính anh cũng không biết. C̣n linh hồn? Chỉ có cháu Hằng nh́n thấy và nghe thấy. Cháu nói lại những điều cháu nghe được, c̣n thực hư thế nào cháu đâu có biết.

Cuộc hành tŕnh đầy bí ẩn đă buộc tôi ṃ đến hai nhà ngoại cảm nổi tiếng, mỗi người một phương pháp: vẽ mộ và gọi hồn. Cả hai phương pháp đều dẫn tôi đến cùng một kết quả.

Hai mươi bốn ngày ṃ t́m trong bí ẩn, chỉ đến ngày cuối cùng “ngày bốc mộ” mới kiểm chứng được các thông tin. Tập hợp lại các thông tin, tôi có được một hệ thống thông tin mà tôi cho là đáng tin cậy, một số có thể xem như vật chứng bằng chứng. Những thông tin thu được qua các linh hồn.

1- Điều đầu tiên đặt ra với tôi: Có đúng là những linh hồn người thân đang nói với tôi không? Cháu Hằng nhận dạng được các linh hồn, cả những lúc cười cả vẻ mặt buồn hay vui. Linh hồn cô Khang và anh Sơn đă được cháu Hằng nhận diện qua tấm ảnh, c̣n tôi không nh́n thấy, tôi kiểm tra qua những điều mà linh hồn nói ra.

Hôm đầu tiên gọi hồn, ḷng đầy nghi ngờ, tôi thủ sẵn trong túi tấm ảnh của anh Sơn, định bụng sẽ đưa ra hỏi linh hồn. Nhưng, ngay khi nh́n thấy cô Khang, cháu Hằng đă báo cho tôi: có một người đàn ông, thanh niên đi cùng với cô. Nếu là một cô đồng gà mờ bịp bợm th́ dại ǵ mà “đẻ số” cho ḿnh như thế? Tiếp đến, cô Khang nói ngay: Người thanh niên đi cùng với em chính là anh Sơn đấy. Vậy là tôi đă kiểm tra được linh hồn cô Khang qua anh Sơn, và không những thế, đă nhờ cháu Hằng nhận diện cả hai linh hồn qua ảnh.

Ngày đầu tiên hai linh hồn đă nhắc đến 5 người trong gia đ́nh tôi, với sự hiểu biết rất chính xác về tính cách của từng người. Ngày thứ hai tức ngày 17, hai linh hồn đă nhắc đến 10 người trong gia đ́nh tôi, cũng với sự hiểu biết chính xác như thế. Cách xưng hô cũng thể hiện rất đúng vị thế, thái độ và t́nh cảm của người nói đối với những người được nhắc đến.

Các con tôi, có ư kiến nói: Bích Hằng đă điều tra gia đ́nh ḿnh từ trước rồi. Sự nghi ngờ đó, tôi biết là vô căn cứ, nhưng dù có điều tra đi nữa, cũng không thể đặt vào miệng người nói những câu như thế mà không phạm sai lầm.

Ngoài những người trong gia đ́nh, cô Khang c̣n nhắc đến chị Tiến, chị Nhương là những người quen biết cũ, nhắc đến cả anh Cương, anh Đạt là những người không quen biết nhưng đă góp sức vào việc t́m mộ gần đây.

Ngày 17 xuất hiện thêm 4 linh hồn nữa. Lần này th́ không có ảnh để nhận diện. Nhưng qua những điều mà linh hồn nói ra th́ phải thừa nhận đúng là những người đă chết đang nói. Bà già ngồi một chỗ khóc than, kể lể  về sáu chị em gái, đúng là chị cả của chúng tôi chị Nghĩa. Cụ An là người cho mượn cái mai và chứng kiến việc chôn cất, cụ Giám là người chôn cất, mỗi cụ nói ra những điều thể hiện đúng tư cách của ḿnh. C̣n linh hồn người đàn ông họ Chử tuy nói không nghe rơ, nhưng đă nhờ cô Khang nói với chú Quỳnh nhắn giùm cho con gái ông ấy ở Vũng Tàu. Khớp lại những điều mà các linh hồn nói ra th́ đều xác nhận hài cốt đă được bốc lên đúng là em tôi.

1- Cái cán thuổng là một vật chứng xác nhận thông tin mà linh hồn em tôi cung cấp, đồng thời xác nhận ngôi mộ: đúng là mộ em tôi.

2- Răng trắng chuyển sang màu đen xỉn là một vật chứng xác nhận thông tin của linh hồn em tôi, đồng thời xác nhận hài cốt đúng là em tôi.

3- Thông tin của em tôi về chị Nguyễn Thị Bê, khi được biết tên thật là Nguyễn Thị Út, đă được xác nhận. Chị nằm trong danh sách liệt sĩ của xă.

4- Thông tin của em tôi về cái c̣ng sắt khóa tay em tôi với tay người đàn ông đă được xác nhận qua lời kể của cụ Giám, tuy hiện vật th́ không t́m thấy có thể nó đă rỉ thành đất.

5- Thông tin của em tôi về vị trí ngôi mộ cách cái hố đào lần trước ba bước chân xoải dài ra phía bờ ao đă được xác nhận trên thực tế. Thông tin của em tôi về 3 ngôi mộ sát gần nhau, gần như nằm trên một đường thẳng, trong đó mộ em tôi nằm giữa, điều này khớp với chỉ dẫn của cụ Giám.

6- Thông tin của em tôi về người dân đă vớt xác, thực ra cũng là dân pḥng giả dạng thôi, điều này khớp với bằng khen về thành tích kháng chiến mà cụ Giám nhận được, đồng thời khớp với lời kể của cụ Yền về vai tṛ mà làng giao cho cụ Giám.

7- Buổi sáng ngày 17, khoảng 10 giờ cô Khang nói rằng: Người vớt xác là cụ Đặng Đ́nh Giám, th́ buổi chiều khoảng 3 giờ, chính cụ Giám xuất  hiện kể về việc cụ đă vớt và chôn như thế nào.

8- Buổi sáng cô Khang kể về việc cụ Giám dừng lại bảo, khi nào nhà ông An lên hương th́ vào mà xin lộc, th́ buổi chiều, cụ An xuất hiện nói về việc cụ Giám vào mượn cái mai, rồi kéo xác qua cái rănh nước đến chân ruộng mạ như thế nào.

9- Khi xem ảnh, cụ Giám bảo người phụ nữ mà cụ chôn cất không để tóc dài như trong ảnh, mà cắt tóc đến gáy như Bích Hằng. Cô Khang xác nhận là đúng, chính bọn địch đă cắt cụt tóc cô. Mớ tóc trùm lên sọ mà chúng tôi t́m thấy cũng là mớ tóc ngắn.

10- Cụ Giám tả lại khi chôn, cụ đă đặt cái xác hơi nghiêng v́ không nắn thẳng ra được, mặt hướng ra sông cho mát mẻ. Trước đó chúng tôi đă t́m thấy hài cốt ở tư thế ấy.

11- Cô Khang kể với cháu Hằng về móng tay của cô. Điều này đối với tôi là một bằng chứng vô cùng quư giá để khẳng định hài cốt đúng là em tôi.

12- Cô Khang khoe với mọi người về việc ông anh bốc cát lập bát hương. Điều này tuy chỉ là tiểu tiết, nhưng chứng tỏ linh hồn em tôi đă biết việc tôi làm, kể cả việc nhồi cát vào 7 bát hương mấy ngày trước đó.

Nh́n lại cái trận đồ bát quái của anh Nhă. Với những thông tin đáng tin cậy thu thập được qua các linh hồn, kết hợp với những thông tin do dân làng cung cấp qua cuộc điều tra của chúng tôi, tôi nh́n lại cái trận đồ bát quái của anh Nhă. Mọi thông tin anh cho tôi đều đúng, nhưng do sắp xếp không theo một trật tự lôgíc nên khó hiểu, rối mù như một trận đồ bát quái. Bây giờ việc đă thành, tôi hiểu nó như sau:

1- Trước tiên phải t́m đến một cái vụng xoáy. Chính ở cái vụng này. Xác em tôi khi c̣n ch́m dưới đáy sông, đă bị cuốn vào. Cuối tháng 6 đang là mùa nước, mực nước sông Luộc khi chưa đến mức báo động, thường cách mặt đê chỉ vài mét. Lúc xác nổi lên gặp lúc triều cường th́ không trôi tuột đi mà dạt vào một khúc quanh của con đê. Cái vụng xoáy chính là vụng Quạ. Khúc quanh của con đê cũng ở đó.

Vào mùa nước th́ dải đất băi ngoài đê, kể cả cây cối, đều ngập bỉm dưới nước, không thể chôn trên đất băi được, mà phải kéo xác qua đê vào trong đồng. Nhưng dưới chân đê lại là một vùng ruộng trũng. Tháng 6 đang là mùa mưa, ruộng trũng đang bị ngập nước, v́ thế phải kéo xác vào vùng chân mạ, cao hơn.

2- Ông Giám đă kéo 3 cái xác qua đê không khó khăn ǵ, v́ mặt nước gần sát mặt đê. Nhưng nhà ông ở măi cuối làng, cách đó một cây số, ông phải tạt vào nhà ông An để mượn cái mai. Khi dừng lại, ông đă nói với xác chết về việc xin lộc, ông An mà anh Nhă nói không phải là anh An - con đă tiếp chúng tôi, mà là ông An - bố tức là cụ An, cụ đă mất cách đây 40 năm. Cái quán ông An không phải là cái nhà anh An bây giờ, anh chị mới ra ở đó chừng 10 năm nay thôi. Bố mẹ anh vẫn ở cách đó 300m, sát mép cái đầm sen về phía Tây. Ông làm nghề chở đ̣ ở bến La Tiến, c̣n bà làm hàng xáo và bán bánh đúc. Cái nhà tranh lụp xụp của ông bà đồng thời là cái quán bán bánh đúc.

3- Mượn được mai rồi, ông Giám đi trên con đường bờ vùng, c̣n xác th́ kéo trên cái lạch nước gần nhà ông An, đến cái cống ở cửa chùa để đến vùng chân mạ mà nay là đất ở của cụ Nhờ và ông Điển. Con đường bờ vùng và cái lạch nước nay đă biến mất trong ḷng cái đầm sen. Cái cống lấy nước từ lạch vào vùng ruộng mạ th́ nay vẫn c̣n, nhưng đường làng đă ngăn cách nó với đầm sen, nó không c̣n tác dụng lấy nước vào vùng ruộng mạ nữa.

4- Hồi cải cách ruộng đất vợ chồng bà Nhờ được chia một mảnh ruộng mạ của địa chủ mà nay là đất ở của bà và ông Điển. Năm 1960, trong phong trào hợp tác hóa, ông bà đă góp ruộng vào hợp tác xă. Năm 1969, ông Điển được hợp tác xă chia cho một mảnh ruộng là đất ở. Mấy năm sau, bà Nhờ và nhiều nhà trong vùng cũng được chia đất ở. Đó chính là cái xóm mới, dân mới ra khoảng 20 năm. Mộ nằm trên đất cô Nhường, đúng ra là trên đất cô Nhờ, cái âm thanh mà anh Nhă nghe lơ lớ như Nhường, Nhương, Nhượng, thực ra là Nhờ, một cái tên rất quê và cũng ít gặp.

5- Đường sá mà anh Nhă vẽ trên bản đồ th́ anh Đạt và cụ Yền nhận ra ngay, nhưng cụ Yền nhận xét: nó được vẽ theo đường ngày xưa, ang áng như bây giờ thôi.

Tất cả những thông tin trên, đến với anh Nhă đúng như đă diễn ra cách đây 50 năm (Chính xác là 49 năm + 1 tháng), sớm nhất cũng là 20 năm. Nhưng thông tin đến với anh không theo tŕnh tự thời gian và cũng chẳng có mối liên kết giữa các hiện tượng, thành thử đă có lúc tôi nghĩ nó chỉ là trận đồ bát quái do anh bày ra.

6- Những dấu hiệu và tín hiệu khác cũng rất đúng nhưng lại là những hiện tượng mới xảy ra, đang xảy ra hoặc sắp xảy ra. Cái gốc cây đổ là cây nhót mà ông Điển mới chặt, nhưng chưa kịp đánh gốc. 5 cây cỏ lại có 10 bông hoa màu tím nhạt th́ sớm nhất cũng chỉ ra hoa được một tuần trước đó. Rồi bé gái mặt áo hoa xanh, rồi con chó vàng nằm một chỗ như ốm, rồi cái nhà mà bốn mặt đều sơn màu trắng lốp, trước nhà đầy hoa đỏ... tất cả đều đúng, nhưng tại sao anh Nhă nói trúng như thế, chính anh cũng không hiểu th́ tôi làm sao mà hiểu được?

7- Cái bản đồ do anh Nhă vẽ, sau này tôi mới hiểu là chỉ có thể dùng để định hướng thôi, không thể xem như một bản đồ địa chính. Có những chỗ rất đúng về chi tiết như: rẽ trái 60 mét, rồi rẽ phải 45 mét. Nhưng cái quán ông An th́ lại không nằm cạnh đường, mà nằm bên kia cái đầm sen, cách nhà ông Điển chừng nửa cây số; cái quán tạp hóa có cửa màu xanh dương cũng không nằm cạnh ngă tư, mà nằm ở bên kia một cái ao to, tuổi tác của cô Nhường, của ông An, cũng chỉ áng chừng chứ không thực chính xác.

8- Địa điểm ngôi mộ rất đúng, nhưng chỉ đúng cho một h́nh vuông, có cạnh 5 mét. Ngoài h́nh vuông đó sẽ chạm vào 2 ngôi mộ khác. Trong khoảng diện tích 25m đó phải đào một cái hố chỉ rộng 2,5 mét, quả là không dễ ǵ trúng ngay được. Khi vẽ bản đồ anh ghi: Mộ nằm cách gốc cây đổ 4 mét. Nếu đào đúng như thế về hướng Đông - Đông Nam th́ trúng. Nhưng khi anh hướng dẫn tôi về h́nh tam giác th́ lại chỉ c̣n cách gốc cây đổ 1,5 mét. Khi chỉnh mộ th́ anh bảo phát triển về hướng Nam, đúng ra là phải phát triển về hướng Đông - Đông Nam. Lần thứ hai, với sự chỉ dẫn của đôi bướm màu, th́ tiến thêm về Đông Nam là đúng hướng. Nhưng nếu đào th́ phần cuối của hố mới gần chạm đến đầu hài cốt. Phải đào một cái hố thứ ba, xoay ngang theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và lùi hẳn về hướng Đông hai mét, lấy dải hoa tím chiếu thẳng ra bờ ao làm cạnh của hố, mới trúng được hài cốt. Qua đây, tôi hiểu tại sao anh Nhă dặn tôi, chỉnh mộ là một quá tŕnh vất vả lắm đấy. Thực t́nh nếu phải đào đến cái hố thứ hai mà không đạt kết quả th́ niềm tin và hy vọng mong manh của tôi vào con đường thần bí chắc sẽ bốc hơi hết, không c̣n ǵ để đào tiếp cái hố thứ 3. Nếu không nhờ được cháu Hằng chỉnh mộ theo con đường gọi hồn th́ bao nhiêu công sức của anh Nhă và của tôi đều bỏ phí, xem như rơi vào tỷ lệ trật 40% .

9- Về độ sâu của cái hố phải đào th́ chỉ dẫn đầu tiên của anh Nhă là rất đúng. Chính ở độ sâu một 1,5 mét, chúng tôi đă bốc được hài cốt. Nhưng khi chỉnh mộ th́ anh lại hai lần yêu cầu đào sâu thêm nữa. Phải chăng chính anh cũng đang phải ṃ mẫm trong sự bí ẩn?”

--o0o--

KHÁM PHÁ SỰ BÍ ẨN

Hài cốt em tôi th́ tôi đă t́m thấy, nhưng những con đường bí ẩn dẫn đến kết quả ấy th́ vẫn là bí ẩn. Khám phá ra những điều bí ẩn ấy không phải là điều dễ dàng. Tôi chỉ qua thể nghiệm của riêng ḿnh mà đề xuất một số vấn đề, một số câu hỏi để các chuyên gia về lĩnh vực này xem xét.

1- Tôi có căn cứ để tin rằng đă gặp linh hồn em tôi, anh tôi và chị tôi, cả linh hồn cụ Giám là người chôn cất và linh hồn cụ An là người chứng kiến. Cháu Hằng đă nhận dạng được linh hồn, thậm chí nhận diện được linh hồn qua tấm ảnh, đă nghe được tiếng nói của linh hồn. Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có h́nh thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đă là một dạng vật chất th́ vật lư học, hóa học, y học, sinh học, với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày t́m ra. Các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp ǵ theo hướng đó?

2- Tôi nhận thấy linh hồn người chết vẫn thể hiện những t́nh cảm vui buồn quan tâm, ước muốn (thậm chí giận dữ như cụ Giám, tranh căi như cụ An) vẫn nhớ và kể lại những việc đă qua, kể cả những việc xảy ra sau khi thể xác ḿnh đă chết, vẫn theo dơi và đánh giá được những việc mà người sống đang làm. Như vậy, linh hồn không phải là một vật thể vô tri vô giác, mà là một vật thể sống, có t́nh cảm và tư duy. Điều này đặt ra một câu hỏi: Có một thế giới linh hồn ngoài thế giới của con người đang sống không?

Thế giới linh hồn hoạt động như thế nào? Có khả năng tác động ǵ vào thế giới của con người đang sống không?

Để đáp ứng những sự mong muốn của linh hồn người thân, người sống dâng đồ cúng tế tiền bạc, đồ dùng hằng ngày (dưới dạng vàng mă) là đúng hay nhảm nhí? Linh hồn có tiêu vong đi không? Hay là tồn tại măi măi?

T́m lời giải cho những vấn đề này, nếu chỉ dựa vào suy luận th́ sẽ dẫn đến tranh căi bất tận. Vấn đề là chứng minh.

3- Hầu hết mọi người đều không có khả năng nh́n thấy linh hồn, nh́n thấy hài cốt vùi lấp dưới lớp đất dày mấy mét. Chỉ một số ít người như cháu Hằng có khả năng đó. Khả năng đặc biệt ấy là do cấu tạo đặc biệt sinh lư nào vậy? Y học nên quan tâm t́m ra lời giải.

4- Nếu khả năng nh́n thấy linh hồn và nghe thấy tiếng nói của linh hồn có thể quy về cấu tạo sinh lư đặc biệt của một số người th́ khả năng nhận biết được những thông tin bí ẩn của anh Nhă, anh Liên và một số người khác càng khó khám phá hơn. Nhưng một khả năng đă giúp cho nhân dân t́m được hàng ngàn hài cốt liệt sĩ, chẳng lẽ không đáng bỏ công t́m hiểu, khám phá?

5- Để làm những công việc trên, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đă lập ra một trung tâm nghiên cứu có tên là “Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người”. Song quyền hạn và phương tiện th́ rất hạn hẹp. Nên chăng thành lập một viện nghiên cứu có sự hỗ trợ về kinh phí của nhà nước, có sự quyên góp tự nguyện của những người quan tâm? Công việc của viện này, nếu thành công, xác nhận được sự tồn tại của linh hồn, th́ không những có ư nghĩa nhân văn mà c̣n có ư nghĩa về nhiều mặt khác, kể cả về h́nh sự (Nếu người bị giết khi nói ra th́ kẻ giết người tránh sao khỏi tội?), không những có ư nghĩa quốc gia mà c̣n ư nghĩa quốc tế.

Trong khi chờ đợi nghiên cứu thành công, th́ cần có những chánh sách chế độ để những người có khả năng đặc biệt có thể phát huy tài năng nhiều hơn vào việc t́m kiếm hài cốt liệt sĩ, là nguyện vọng tha thiết của hàng chục vạn gia đ́nh.

Tránh những lời bổ báng, vội vă, tránh vơ đũa cả nắm, nhập cục vào số người buôn thần, bán thánh, lợi dụng mê tín, dị đoan. Càng nên tránh những thái độ thô bạo cấm đoán, bắt bớ, giam cầm.

Mới chỉ cách đây 50 năm thôi, nhiều nhà khoa học Liên Xô, v́ nghiên cứu, đă bị tống giam vào nhà thương điên. Trên con đường khúc khuỷu của khoa học đă xảy ra biết bao nhiêu sự kiện đau ḷng như thế, chẳng nên lấy đó làm răn ư !?”.

--o0o--

THAY LỜI KẾT LUẬN

Tôi viết bài này với mục đích chính là trong tôi có một sự nghi ngờ rất lớn mà tôi không thể trả lời được.

Khi viết gần xong, t́nh cờ tôi có dịp làm quen với giáo sư Đào Vọng Đức và thiếu tướng - Phó tiến sĩ Nguyễn Chu Phác là những người phụ trách chủ chốt của Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người. Biết được mục tiêu nghiên cứu của các anh, tôi sẵn sàng gửi câu chuyện gia đ́nh của tôi cho các anh, để Trung tâm sử dụng như một tư liệu tham khảo. Với ư nghĩa đó, tôi đă viết thêm một đoạn “Khám phá sự bí ẩn?” hy vọng những lời bàn chầu ŕa của một người ngoài lĩnh vực này (tôi chỉ là một nhà kinh tế) có chút ǵ bổ ích cho công cuộc nghiên cứu của các anh chăng?”.

Hà Nội, tháng 12 năm 1999

Giáo sư Trần Phương

NƠI XUẤT PHÁT THẾ GIỚI SIÊU H̀NH

ĐỂ TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI CỦA
GIÁO SƯ TRẦN PHƯƠNG
VỀ THẾ GIỚI SIÊU H̀NH

Sau khi đọc bài viết của giáo sư Trần Phương “T̀M HÀI CỐT LIỆT SĨ, MỘT HÀNH TR̀NH ĐẦY BÍ ẨN”. Trong bài viết này đoạn cuối, chúng tôi thấy giáo sư có đưa ra nhiều câu hỏi để gợi ư giúp cho Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Của Con Người qua tựa đề “KHÁM PHÁ SỰ BÍ ẨN”.

Theo nhận xét của chúng tôi những hiện tượng đă xảy ra trong chuyến đi t́m hài cốt của cô em gái của giáo sư Trần Phương, dù cho mười cái Trung Tâm Nghiên Cứu và tập trung tất cả các nhà khoa học trên thế giới cũng không giải thích được, trừ ra sự tiến bộ của khoa học đă tạo ra được một bộ óc điện tử như bộ óc của con người th́ mới xác định được thế giới siêu h́nh có hay không. Và những hiện tượng con người có khả năng thấy và nói chuyện với ma cũng như làm thông dịch lại cho chúng ta biết.

Đọc qua những câu hỏi của giáo sư, chúng tôi thấy đây là những câu hỏi của mọi người, chứ không riêng ǵ của giáo sư. Những câu hỏi của giáo sư đại diện cho giới trí thức đang bị những hiện tượng kỳ lạ, dày ṿ tâm tư mà không thể giải đáp được.

Với một số ngôn ngữ hiện có, khó mà giải thích cho quư bạn hiểu biết một cách rành rẽ về những hiện tượng này, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng. Tin hay không tin là quyền ở các bạn. Phải chi chúng tôi có được nhiều người như chúng tôi, th́ chắc chắn các bạn sẽ dễ tin hơn.

Trước khi nghe chúng tôi tŕnh bày những hiện tượng này. Chúng tôi xin có những lời khuyên các bạn: “Trong cuộc sống của con người điều quan trọng và cần nhất là đạo đức, cái ǵ phi đạo đức là chúng ta không chấp nhận, bởi v́ có thế giới siêu h́nh tác động vào cuộc sống của loài người th́ có sự phi đạo đức”.

Ví dụ: Con cháu làm điều tội lỗi phạm pháp luật, bị tù tội, tai nạn, bệnh tật khổ đau v.v.. Những linh hồn ông bà cha mẹ, v́  thương con cháu nên phù hộ chúng, cho thoát nạn, tai ương, họa khổ v.v.. hoặc những linh hồn này thù oán ai, khiến cho họ đau bệnh, hoặc gặp tai nạn này tai nạn khác. Và như vậy là một việc làm phi đạo đức. C̣n nếu thế giới linh hồn người chết mà không tác dụng lợi ích cho cuộc sống của con người th́ thế giới linh hồn có để làm ǵ? Hay để làm hao tốn tiền bạc, của loài người, trong khi những linh hồn này không làm ra vật chất, mà đ̣i hỏi vật chất thế gian: Trà nước, thuốc Cáp Tăng, giấy tiền vàng mă (cháu Hằng thông dịch lại), quần áo, nhà cửa, kho đụn, xe cộ, tivi, tủ lạnh, v.v.. Đó có phải thế giới linh hồn là một thế giới phi đạo đức không???

Thưa các bạn! Chúng tôi đă nhờ sức Tứ Thánh Định của Phật giáo mà biết được những hiện tượng phi không gian và thời gian này xảy ra do năng lực nào và năng lực ấy từ đâu xuất phát làm nên những hiện tượng kỳ lạ này?

Sau khi đọc xong bài “T́m hài cốt liệt sĩ” cái cảm tưởng đầu tiên của chúng tôi là xúc cảm, thương đau cho những người anh, người chị, người em trai và người em gái của chúng tôi, khắp nơi trên đất nước Việt Nam, quê hương này, đă v́ tổ quốc chịu biết bao nhiêu cực h́nh, cay đắng rồi hy sinh mạng sống của ḿnh cho dân, cho nước, cho Đảng. Để ngày nay chúng ta, những người c̣n sống, thọ hưởng sự độc lập, tự do, b́nh đẳng và hănh diện với mọi người khắp năm châu.

Một đất nước bị nô lệ ngoại xâm, th́ dân nước đó phải chịu khổ biết dường nào. V́ nhân quyền không có. Nếu đứng lên chống giặc ngoại xâm th́ xương máu phải tô thắm đỏ mảnh đất này.

Chúng tôi cũng có người em trai đă hy sinh trong trận Đồng Khởi Tua Hai Tây Ninh, xác em tôi được chôn vùi nơi b́a rừng. Chiến tranh chấm dứt th́ nơi đó đă trở thành nơi dân cư trù phú, v́ thế chúng tôi không thể t́m hài cốt em tôi được. Và chúng tôi thiết nghĩ, xương thịt của em tôi dù chôn vùi bất cứ nơi đâu trên mảnh đất quê hương này, th́ nó cũng xứng đáng là một công dân Việt Nam yêu nước, yêu quê hương, yêu tổ quốc và thương yêu dân tộc của nó.

Giáo sư Trần Phương thương khóc cho cô em gái của ḿnh phải chịu đựng những cực h́nh khổ đau nhất đời của những con người không phải người, hung ác hơn loài ác thú. Hôm nay giáo sư đă t́m được hài cốt cô em gái của ḿnh, cô Khang.

C̣n chúng tôi th́ sao? Các anh, các chị và các em gái của chúng tôi đă hy sinh thân ḿnh cho tổ quốc, cho dân tộc, cho quê hương xứ sở này. Hôm nay có người t́m được hài cốt đem về nghĩa trang liệt sĩ, nhưng có người chưa t́m được c̣n nằm rải rác khắp nơi trên mảnh đất quê hương này.

Thân cát bụi trả về cho cát bụi, c̣n linh hồn th́ sao, có hay là không có?

Chúng tôi không trích ra từng đoạn để trả lời giáo sư về thế giới linh hồn, mà cho in cả bài này vào tập Đường Về Xứ Phật. V́ bài này nói lên được ư nghĩa kiên cường, bất khuất của một dân tộc anh hùng, dân tộc Việt Nam.

Sau khi t́m hài cốt cô em gái của ḿnh giáo sư Trần Phương không c̣n đứng yên trên vị trí khoa học nữa mà đă bị đảo lộn tư tưởng bởi những nhà ngoại cảm làm sống lại cái thế giới siêu h́nh. Rồi đây ai cũng nghĩ: sau khi chết c̣n có sự sống. Sau khi chết c̣n có sự sống, th́ tệ nạn mê tín dị đoan lại sẽ gia tăng lên nhiều hơn nữa, th́ đạo đức lại xuống dốc.

Giáo sư nêu lên những câu hỏi để mong cầu những ai có thể giải đáp cho ḿnh, cho mọi người những điều mắt thấy tai nghe mà riêng tri thức của giáo sư cũng như mọi người khác không thể hiểu và giải thích được. Những câu hỏi ấy giáo sư đă lấy tên: “KHÁM PHÁ SỰ BÍ ẨN”. Có nghĩa là ai trả lời được những câu hỏi của giáo sư là khám phá ra sự bí ẩn của thế giới siêu h́nh.

Đọc bài này chúng tôi cảm thấy vô t́nh giáo sư đă làm sống lại cái thế giới siêu h́nh mà từ lâu các nhà khoa học không chấp nhận, thường t́m mọi cách để chứng minh cho mọi người biết thế giới siêu h́nh không có, nhưng khả năng của khoa học c̣n phải tiến xa hơn nữa và tiến xa hơn nữa th́ mới có mong khám phá ra những sự bí ẩn này.

C̣n hiện giờ th́ sao? Th́ cứ mặc t́nh cho mọi người mê tín dị đoan. Do kẽ hở này mà một số tôn giáo, một số người lợi dụng khoa học không giải thích được thế giới siêu h́nh mà bịa ra nhiều điều mê tín, dị đoan để làm tiền thiên hạ mà không pháp luật nào bắt tội họ được.

Đứng trước những sự lừa đảo lường gạt người bất chánh của Đại Thừa giáo, của các thầy phù thủy, của đồng, bóng, cốt, tự xưng là Phật, Thánh, Tiên, bà Chúa Tiên, Chúa Xứ, quỷ, ma, cô, cậu v.v..

Bài viết này của giáo sư Trần Phương, là một cái cớ để cho những người vô loại này thừa “nước đục thả câu” mà phát triển giáo pháp mê tín, th́ đạo đức nhân bản - nhân quả làm người sẽ mất dần và loài người không c̣n là người nữa mà là ác thú, ác quỷ.

Hiểu được điều này chúng tôi không thể làm ngơ. V́ ích lợi cho mọi người và v́ nền đạo đức của con người trên hành tinh này, v́ thế chúng tôi xin mạo muội trả lời những câu hỏi của giáo sư không phải để khám phá những điều bí ẩn của giáo sư mà chỉ nêu lên một sự thật “Thế giới linh hồn không có” để đem lại sự lợi ích cho mọi người, không c̣n bị người khác lợi dụng sự chưa hiểu của ḿnh mà làm những điều lừa gạt bất chánh.

--o0o--

LINH HỒN LÀ DO TƯỞNG TRI CỦA CON NGƯỜI C̉N SỐNG

Chúng tôi xin trả lời câu hỏi thứ nhất của giáo sư:

1- Câu hỏi giáo sư đă xác định: “Tôi căn cứ để tin rằng đă gặp linh hồn em tôi, anh tôi và chị tôi, cả linh hồn cụ Giám là người chôn cất và linh hồn cụ An là người chứng kiến. Cháu Hằng đă nhận dạng được linh hồn, thậm chí c̣n nhận diện được linh hồn qua tấm ảnh, đă được nghe tiếng nói của linh hồn. Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có h́nh thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đă là một dạng vật chất th́ vật lư học, hóa học, y học, sinh học, với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày t́m ra. Các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp ǵ theo hướng đó?”

Cách đây 2548 năm có một người đă xác định rằng: “không có thế giới siêu h́nh”, có nghĩa là không có đời sống sau khi chết Ngài đă chia thân người làm năm phần:

- Phần thứ nhất là sắc uẩn.

- Phần thứ hai là thọ uẩn.

- Phần thứ ba là tưởng uẩn.

- Phần thứ tư là hành uẩn.

- Phần thứ năm là thức uẩn.

Một người chết năm uẩn này đều tan ră không c̣n một chút xíu nào cả. Người xác định điều này là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vậy th́ cái ǵ c̣n lại gọi là linh hồn của con người?

Theo cái nh́n của Phật giáo th́ một con người là do năm duyên hợp lại mà thành ra. Và xa hơn nữa là vạn vật trên thế gian này đều hiện hữu, sự hiện hữu có mặt của một vật đều do nhiều duyên hợp lại. Cho nên, một thế giới mà có được th́ phải có nhiều duyên kết hợp mới lập thành. Một thế giới không thể nào chỉ có một vật thể đơn điệu được.

Ví dụ 1: Một cái cây kia, nếu không có đất, nước, gió, không khí và nhiệt độ, nóng lạnh, ẩm thấp, nắng mưa, v.v.. th́ cây kia không thể sống được.

Ví dụ 2: Một con người sanh ra ở đời, nếu không có cỏ cây, thực phẩm để nuôi sống th́ con người cũng không sanh ra được, nếu có sanh ra được th́ cũng không sống được. Cỏ cây, con người và vạn vật không có sự hiện hữu trên hành tinh này th́ làm sao gọi là thế giới.

V́ thế, nếu quả chăng con người có sự sống sau khi chết, th́ thế giới của người chết phải có một môi trường sống riêng cho linh hồn, chứ đâu cần ǵ chúng ta phải cúng những thực phẩm mà những thực phẩm ấy chỉ nuôi sống cho những duyên hợp hiện hữu của nó, chứ đâu phải những thực phẩm của chúng ta là để cho linh hồn thọ dụng. V́ thế, cúng lễ những thực phẩm hoặc đốt hương, vàng mă của thế giới hữu h́nh cho thế giới vô h́nh th́ quư vị suy nghĩ có đúng không? Hay làm một việc nhảm nhí?

Nếu quả chăng có thế giới siêu h́nh th́ những linh hồn đó, phải có một h́nh dáng cố định, v́ thế giới siêu h́nh là thế giới thường hằng không thay đổi th́ không thể nào linh hồn lấy h́nh dáng của con người làm h́nh dáng của ḿnh. Khi mà h́nh dáng của con người vô thường không cố định chỉ trong một đời người mà đă thay đổi nhiều lần: trẻ có h́nh dáng khác, thanh niên có h́nh dáng khác và già có h́nh dáng khác, huống là đời này mang h́nh dáng này đời sau mang h́nh dáng khác. Xét như vậy chúng ta thấy linh hồn có đúng không?

Cho nên, thế giới hữu h́nh của chúng ta do các duyên hợp thành, v́ do các duyên mà thành nên có sự vô thường thay đổi liên tục. V́ vậy một con người mới sanh ra cho đến 7, 8 chục năm sau th́ không giống nhau. Chúng ta hăy quan sát một con người từ h́nh dáng của một đứa bé mới sanh so sánh với h́nh dáng của một ông cụ già 7, 8 mươi tuổi th́ hai h́nh dáng này không giống nhau, như vậy chứng tỏ sự vô thường thật sự, như trên chúng tôi đă nói.

Như các bạn thường nghĩ và cho linh hồn là một vật thể không thay đổi. V́ thế, linh hồn là bất tử, nên thường đi tái sanh luân hồi từ thân này, đến thân khác. Thân th́ có trẻ, có già, có chết. C̣n linh hồn th́ không già, không trẻ và không chết. Như vậy cháu Bích Hằng phải xem bức ảnh của cô Khang rồi mới nhận ra linh hồn của cô Khang th́ như vậy không đúng. V́ sao vậy? Là v́ linh hồn của cô Khang bây giờ không c̣n là h́nh dáng của cô Khang nữa, mà là h́nh dáng bất di bất dịch của linh hồn. Khi linh hồn ấy c̣n mang thân xác của cô Khang th́ h́nh dáng ấy là h́nh dáng xác thân của cô Khang, chứ đâu phải là h́nh dáng linh hồn của cô Khang phải không thưa quư vị? Khi cô Khang chết th́ h́nh dáng của cô Khang cũng không c̣n, th́ như vậy linh hồn của cô Khang phải trở về với h́nh dáng nguyên thủy của nó, th́ làm sao linh hồn có h́nh dáng giống cô Khang được. V́ linh hồn là một vật không thay đổi, như chúng tôi đă nói ở trên.

Xét ở góc độ này th́ cháu Bích Hằng gọi hồn cô Khang về là một năng lực trong thân ngũ uẩn của cháu Bích Hằng tạo ra linh hồn của cô Khang, chứ không phải có linh hồn cô Khang thật, v́ thế cháu phải nh́n h́nh ảnh cô Khang rồi mới tạo ra h́nh ảnh cô Khang được.

Do đó, chúng ta suy ra, nếu có thế giới linh hồn của người chết th́ những linh hồn ấy không có h́nh dáng giống như chúng ta. Tại sao vậy?

Tại v́ một linh hồn phải trải qua nhiều lần tái sanh luân hồi, do đó mỗi lần tái sanh là mỗi lần có h́nh dáng khác nhau của thân xác, có nhiều h́nh dáng khác nhau như vậy th́ làm sao linh hồn cô Khang giống cô Khang được?

Tất cả những sự việc này lần lượt chúng tôi sẽ cố gắng vén bức màn bí ẩn để quư vị không c̣n thấy nó là bí ẩn nữa.

--o0o--

KHÁM PHÁ SỰ BÍ ẨN CỦA ANH NHĂ

Trạng thái ngoại cảm của anh Nhă rất rơ nét, v́ anh làm việc ngoài ư thức của anh, có nghĩa là trong đầu anh nghe nói tên (Nhương, Nhường, Nhượng) hoặc tự điều khiển anh viết hoặc vẽ bản đồ chứ riêng anh không có chủ ư viết hoặc vẽ. Tự trong đầu anh có sự điều khiển trong vô thức. (“Tôi thấy trong đầu tôi hiện ra như thế nào th́ tôi vẽ như thế ấy, tôi cũng chẳng hiểu nữa”). Đây là lời của anh Nhă nói, khi giáo sư Trần Phương hỏi. Và anh c̣n nghe được những âm thanh trong tai (“Tôi thấy trong tai tôi như có âm thanh ấy”).

Qua sự tŕnh bày của anh Nhă chúng tôi xin giải thích để quư vị rơ. Do đâu điều khiển mà anh Nhă đă vẽ được bản đồ của một vùng chưa bao giờ đi đến và vị trí địa thế ngôi mộ cũng được xem là đúng ở cự ly rộng.

Trong bộ óc của con người có nhiều nhóm tế bào năo, mỗi nhóm tế bào năo đều làm việc theo phận sự của nó.

Ví dụ: Một người đang thức và đang làm một việc ǵ đó, hay đang tư duy suy nghĩ về một vấn đề ǵ, th́ nhóm tế bào năo thuộc về ư thức hoạt động, làm việc, trường hợp đó cũng giống như chúng tôi đang tư duy, suy nghĩ để viết sách và viết như thế nào để quư bạn dễ hiểu và hiểu một cách cụ thể hơn.

Chúng ta có thể gọi nhóm tế bào năo bộ này là nhóm tế bào năo bộ ư thức.

C̣n trường hợp chúng ta đang ngủ mà bị chiêm bao th́ nhóm tế bào năo nào làm việc đây?

Chúng tôi xin giải thích, khi chúng ta đang ngủ th́ toàn bộ nhóm tế bào thuộc về ư thức, chắc chắn phải ngưng hoạt động, như lúc ngủ mắt không thấy vật, tai không nghe âm thanh, ư không phân biệt, v.v.. như vậy rơ ràng là nhóm tế bào ư thức chúng ta ngưng hoạt động. Vậy cái ǵ hoạt động trong giấc chiêm bao?

Xin thưa, khi nhóm tế bào năo thuộc về ư thức không hoạt động, th́ nhóm tế bào năo thuộc về tưởng thức hoạt động, do nhóm tế bào tưởng thức này hoạt động nên người ta mới có chiêm bao.

C̣n trường hợp của anh Nhă th́ hai nhóm tế bào năo trong óc anh nó kết hợp (câu hữu) làm việc với nhau, và sự kết hợp làm việc này mới xảy ra với anh chứ trước kia anh không có trạng thái này.

Ở đây, chúng ta cần phải hiểu thêm về nhóm tế bào năo thuộc về ư thức, khi nó hoạt động th́ không vượt qua được không gian và thời gian, v́ thế khoảng cách xa, như ngăn sông, cách núi, hoặc dưới ḷng đất, dưới đáy biển đại dương, v.v.. th́ nó không thể thấy biết được. Về thời gian, nó bị chia cắt có quá khứ, vị lai và hiện tại, quá khứ nó không nhớ biết, vị lai th́ mờ mịt không rơ. Ngược lại, nhóm tế bào năo bộ thuộc về tưởng thức, khi nó hoạt động th́ nó vượt qua hàng rào không gian và thời gian, nên thời gian và không gian không c̣n chia cắt và trải dài. V́ thế, nó bắt gặp hay nói cách khác là giao cảm với những ǵ đă xảy ra ở quá khứ và vị lai.

Ở trường hợp này nhóm tế bào năo tưởng thức của anh Nhă th́ quá rơ ràng, không có trạng thái đồng cốt như cháu Bích Hằng, nhưng nó hoạt động chưa chính xác 100%. V́ tưởng thức của anh tự nó hoạt động chứ không phải do anh triển khai, điều khiển, nên mức độ hoạt động của nó chưa hoàn chỉnh và chính xác.

Khi tưởng thức hoạt động th́ anh Nhă cảm thấy như ḿnh không chủ động, tự trong đầu nó điều khiển như thế nào th́ anh làm theo như thế ấy, nhưng ư thức của anh vẫn biết rơ ràng, thậm chí những âm thanh nói trong tai, anh vẫn nghe và biết rơ. Xét trường hợp trong đầu anh Nhă, th́ trong đầu anh làm việc hai phận sự:

1- Làm việc bị hạn cuộc trong không gian và thời gian, có nghĩa là không vượt ra khỏi thời gian chia cắt và không gian trải dài hay bị ngăn cách.

2- Làm việc không bị hạn cuộc trong không gian và thời gian, có nghĩa là vượt qua không gian và thời gian. Sự làm việc này gọi là làm việc trong vô thức.

Người tu theo đạo Phật khi nhập được Tứ Thánh Định th́ người ta hiểu biết rất rơ ràng. Trường hợp anh Nhă, ư thức của anh kết hợp với tưởng thức của anh hoạt động hai mặt:

a- Hữu thức

b- Vô thức

Tóm lại, trường hợp của anh Nhă trong một bộ óc của anh làm việc hai phận sự hữu h́nh và vô h́nh, hay nói cách khác cho dễ hiểu hơn là bộ óc anh có phần làm việc bị hạn cuộc không gian và thời gian và có phần làm việc không bị hạn cuộc không gian và thời gian, nhưng chưa chính xác 100%.

Cho nên, sự bí ẩn của anh Nhă không có ǵ bí ẩn, anh sử dụng được những tế bào năo ư thức và những tế bào năo tưởng thức, khiến chúng hoạt động khi ư muốn anh khởi ra.

Tóm lại, sự bí ẩn của anh Nhă th́ không có ǵ là bí ẩn cả, chỉ có bộ óc của anh làm việc được hai phần: “phần ư thức và phần tưởng thức”.

--o0o--

KHÁM PHÁ SỰ BÍ ẨN VỀ CHÁU BÍCH HẰNG

Trường hợp cháu Bích Hằng th́ không giống trường hợp anh Nhă, hiện tượng của cháu Hằng xảy ra giống như có một linh hồn người chết nhập vào như thật.

Khi trực tiếp chứng kiến năng lực của tưởng uẩn con người. Nhất là trường hợp của cháu Bích Hằng, khiến cho giáo sư Trần Phương không c̣n đứng vững trên lập trường khoa học nữa, ông đặt ra nhiều câu hỏi: “Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có h́nh thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đă là một dạng vật chất th́ vật lư học, hóa học, y học, sinh học v.v.. Với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn có ngày t́m ra. Các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp ǵ theo hướng đó?”.

C̣n lâu lắm các nhà khoa học Việt Nam mới có thể chứng minh và giải thích những hiện tượng đó bằng hóa học, sinh học, y học, lư học, v.v.. C̣n bây giờ th́ sao? Hay để cho nhân dân Việt Nam sống trong mê tín, phải chịu tốn hao với một số tiền bạc vô nghĩa (đốt tiền vàng mă, cúng sao giải hạn, cầu an, cầu siêu, v.v..).

Khi đọc bài của giáo sư Trần Phương, chúng tôi thấy, nếu bài này được phổ biến sâu rộng trong khắp nước, mà các nhà khoa học Việt Nam không có tiếng nói, th́ chắc chắn nạn mê tín, dị đoan sẽ lan rộng khắp nơi. Và sẽ có một số người lợi dụng trường hợp này mà gây tạo ra nhiều loại mê tín khác nữa để lừa đảo người.

Chúng tôi đọc bài tâm nguyện của một cư sĩ M.N.C.S ở Long Hải nói rằng: “Những nhà ngoại cảm này thường khoe khoang, nhà nước đang t́m kiếm những người tài như họ để trưng dụng về việc quốc pḥng”. Lời nói này chúng tôi e rằng những hạng người này “thừa nước đục thả câu”, lợi dụng trạng thái tưởng thức không có không gian và thời gian, giao cảm mọi sự việc xảy ra tạo dựng thế giới siêu h́nh để lừa đảo mọi người, chứ từ xưa đến giờ chưa có lịch sử nước nào ghi công lao của những người làm đồng, cốt và những nhà ngoại cảm, nhờ lên đồng, nhập cốt và ngoại cảm mà ngăn giặc, đuổi giặc, giữ nước, dựng nước, bắt những kẻ trộm cướp giết người, hiếp dâm, giữ ǵn trật tự, an ninh cho quê hương, xứ sở.

V́ biết rằng các nhà khoa học không thể chứng minh được những hiện tượng hoạt động của tưởng thức, nên trong các tôn giáo người ta cố ư tu tập để triển khai tưởng thức hoạt động ngơ hầu lấy đó tạo dựng thế giới siêu h́nh và thần thông để lừa đảo mọi người. V́ không nhận ra những hiện tượng đó nên mọi người tin tưởng gia nhập vào tôn giáo, nuôi hy vọng khi chết đi sẽ được sanh về nơi đó (Cực Lạc, Thiên Đàng, Niết Bàn), hay có những thần thông pháp thuật.

Do phong thổ, thời tiết, thức ăn nước uống tại địa phương, hoặc do tai nạn xảy ra gây ảnh hưởng năo bộ, hoặc sự phát triển hoạt động của năo bộ không đồng đều, khiến cho tưởng thức hoạt động nhiều hơn ư thức (trường hợp cháu Bích Hằng), hoặc ư thức và tưởng thức cùng hoạt động (trường hợp như anh Nhă). V́ thế, biến họ từ một con người b́nh thường trở thành đồng, cốt và các nhà ngoại cảm. Một con người có khả năng đặc biệt.

Chúng ta không hiểu được năng lực của tưởng thức khi nó hoạt động không giống như ư thức chút nào cả:

1- Nó hoạt động rất đặc biệt tại một điểm, nên không có không gian và thời gian, khoa học không thể chứng minh được.

2- Nó giao cảm được mọi âm thanh sắc tướng, v́ các từ trường của nó. Các nhà khoa học có thể chứng minh được.

3- Nó biến hiện ra muôn h́nh sắc tướng của những người đă chết không sai một nét nào cả. Đó là năng lực duyên hợp của tưởng thức. Các nhà khoa học không thể chứng minh được, v́ nó không phải là vật lư học, hóa  học, y học, sinh học, v.v..

4- Nó tạo ra một người thứ hai đang tiếp chuyện với ư thức của nó. Đó là năng lực hợp duyên của tưởng thức, khoa học không thể chứng minh được.

5- V́ không có không gian, nên nó nh́n suốt trong ḷng đất thấy mọi vật và bất cứ địa phương nào ở nơi đâu, cách xa bao nhiêu, nó cũng biết được. Khoa học có thể chứng minh được v́ đó là từ trường của tưởng thức.

6- V́ không có thời gian nên bất cứ chuyện ǵ đă xảy ra hoặc sắp xảy ra bao lâu nó cũng biết được. Và biết một cách rất cụ thể. Đó là từ trường của tưởng thức giao cảm và bắt gặp những hành động, h́nh ảnh và âm thanh của mọi sự việc đă xảy ra c̣n lưu lại trong môi trường sống, khoa học có thể chứng minh được. Cũng như những sự việc sắp xảy ra trong môi trường sống nhân quả của mỗi con người, nó đều bắt gặp và giao cảm được cả, khoa học không có thể chứng minh được.

Hiện giờ giáo sư Trần Phương hy vọng vào các nhà khoa học Việt Nam, quang học và điện tử tinh vi để giải đáp: “Linh hồn có hay không?”, nhưng giáo sư phải c̣n chờ đợi lâu lắm, có lẽ giáo sư sẽ chết mất mà những câu hỏi này chưa được giải đáp.

Là một nhà tu tập thiền định theo Phật giáo, tự bản thân chúng tôi đă trực tiếp truy t́m thế giới siêu h́nh để thấy, nghe, hiểu biết, th́ chúng tôi biết nó từ đâu xuất hiện những hiện tượng đó. V́ thế, chúng tôi xác định quả quyết: “Thế giới siêu h́nh không có, chỉ là năng lực tưởng thức của mỗi con người c̣n đang sống tạo ra, chứ người chết rồi th́ không c̣n lưu lại một vật ǵ cả”. Xưa, thái tử Sĩ Đạt Ta khi tu thành Phật, Ngài cũng xác định: “Thế giới siêu h́nh là thế giới của tưởng tri”.

Câu hỏi thứ hai của giáo sư nêu lên t́nh cảm vui, buồn, quan tâm, ước muốn, giận dữ, tranh căi của linh hồn để rồi nêu lên câu hỏi: Có một thế giới linh hồn ngoài thế giới con người đang sống không? Thế giới linh hồn hoạt động như thế nào? Có khả năng tác động ǵ vào thế giới của con người đang sống? Để đáp ứng mong muốn của linh hồn người thân, người sống dâng đồ cúng lễ, tiền bạc đồ dùng hằng ngày (dưới dạng vàng mă) là đúng hay nhảm nhí? Linh hồn có tiêu vong đi không, hay là tồn tại măi măi?

Để trả lời những câu hỏi này:

1- Ngoài hai trạng thái h́nh và bóng của cuộc sống con người hiện hữu trên hành tinh này, th́ không c̣n có thế giới linh hồn nào khác nữa. Thế giới linh hồn mà người ta cảm nhận được là do năng lực của tưởng thức trong mỗi người giao cảm mà tạo ra. Năng lực ấy được phát triển là do tu tập các loại thiền định tưởng hoặc bị tai nạn hay bị một cú “sốc” ǵ trong cuộc đời, khiến cho phần nhóm tế bào năo tưởng thức hoạt động, đó là trường hợp của các nhà ngoại cảm.

2- V́ không có thế giới linh hồn nên nó không có sự sinh hoạt riêng, không có sự sống riêng. Do tưởng thức của con người c̣n đang sống, nên sự sinh hoạt của nó cũng mang đầy tính chất của con người: t́nh cảm vui, buồn, quan tâm, ước muốn, giận dữ, tranh căi v.v.. Nếu quả chăng có thế giới linh hồn của con người th́ phải có sự sinh hoạt khác hơn con người, từ thực phẩm ăn uống, đến t́nh cảm, truyền thông, diễn  đạt v.v..

3- Nếu có khả năng tác động vào con người th́ có hai góc độ:

a- Gia hộ con người, giúp cho con người tiêu tai, thoát nạn, bệnh  tật tiêu trừ.

b- Hủy diệt loài người để cho thế giới linh hồn tăng trưởng.

Trong hai điều kiện trên đây đều phi đạo đức và phi nhân quả cả. V́ thế, nên thế giới linh hồn không được loài người chấp nhận. Nếu con người chấp nhận nó, là tự con người làm khổ ḿnh, khổ người.

Thế giới linh hồn của con người do năng lực tưởng thức của người c̣n sống tạo ra th́ có hai trường hợp:

1- Không tin nó là thế giới linh hồn của người chết, mà biết sử dụng năng lực tưởng thức đó áp dụng vào cuộc sống hiện hữu của con người th́ rất có lợi ích như: t́m hài cốt liệt sĩ, báo động trước những tai nạn sẽ xảy ra v.v..

2- Nếu tin nó là thế giới linh hồn của con người, th́ đó là một tai họa rất lớn, gây cho chúng ta bệnh tật và tai nạn “tiền mất tật mang”. Nếu tin nó th́ đời sống của chúng ta hoàn toàn bị lệ thuộc, mất tự chủ, sống thiếu đạo đức.

V́ thế giới linh hồn không có, người thân chúng ta chết, nghiệp lực đă tiếp tục tái sanh luân hồi c̣n đâu mà cúng lễ, tiền bạc, đồ dùng hằng ngày (dưới dạng vàng mă) hay tụng kinh cầu siêu v.v.. th́ đó là nhảm nhí.

 V́ thế giới linh hồn không có th́ làm ǵ có linh hồn tiêu vong hay tồn tại măi măi.

Ở đây, chúng tôi không suy luận để tranh căi mà là sự chứng nghiệm của bản thân chúng tôi. Nhập vào trạng thái tưởng thức th́ chúng tôi bắt gặp thế giới linh hồn của con người qua năng lực tưởng thức của chúng tạo ra, chứ không phải thế giới linh hồn của con người có sẵn. V́ thế, chúng tôi biết rất rơ ràng.

Hầu hết mọi người đều có khả năng nh́n thấy linh hồn, nghe thấy tiếng nói của linh hồn, nh́n  thấy hài cốt lắp vùi dưới lớp đất dày mấy mét v.v.. không riêng ǵ cháu Bích Hằng, chỉ v́ mọi người chưa được triển khai tưởng thức đúng mức, nên không thấy không nghe được như cháu Bích Hằng mà thôi.

Khả năng đặc biệt, ấy do một nhóm tế bào năo của tưởng thức. Nếu các nhà y học và khoa học chịu khó nghiên cứu bộ năo của con người th́ sẽ khám phá ra rất dễ dàng.

4- Do sự không hiểu biết, giáo sư Trần Phương cho rằng: Những thông tin bí ẩn của anh Nhă, anh Liên, cháu Bích Hằng là những khả năng đặc biệt càng khó khám phá.

Sự thật không phải vậy. Bởi v́ thế giới siêu h́nh không có, tức là không có linh hồn người chết, không có linh hồn th́ làm sao có chất liệu quang học, y học, vật lư học mà khám phá. Nếu rời khỏi bộ óc con người mà khám phá th́ chẳng bao giờ khám phá ra được thế giới linh hồn.

Cho nên, các nhà y học và khoa học hăy khám phá nơi bộ óc của một nhà ngoại cảm đang hoạt động, th́ có thể sẽ khám phá ra từ những từ trường của những tế bào năo tưởng thức phóng ra giao cảm với những từ trường c̣n lưu giữ trong không gian, những h́nh ảnh, âm thanh, sắc tướng, những hành động và t́nh cảm của mỗi con người trước khi chết. Đó là y học và khoa học có thể khám phá ra được. Nhưng có những điều mà khoa học và y học không thể khám phá ra được, đó là năng lực của tưởng thức, năng lực đó có thể biến tạo ra hàng vạn vạn triệu triệu linh hồn con người chết và mỗi linh hồn người chết, từ hành động cử chỉ, lời ăn, tiếng nói đến đặc tướng, cung cách không sai khác như người đó lúc c̣n sống. Nhất là những linh hồn do tưởng thức của nhà ngoại cảm biến hiện ra, lại nói chuyện với nhà ngoại cảm, nhà ngoại cảm hiện giờ như người trung gian nói lại cho chúng ta nghe những sự việc xảy ra mà chỉ có những người thân trong gia đ́nh mới biết. Chúng tôi xin nêu lên một ví dụ để quư vị dễ hiểu hơn.

Trong giấc mộng chúng ta gặp lại ông, bà, cha, mẹ đă chết cách 10 năm hoặc 20 năm, cùng lúc trong đó chúng ta cũng gặp lại những người c̣n sống như anh, chị, em, cô, bác cùng bà con hàng xóm. Chúng ta đừng hiểu nông cạn là những linh hồn người c̣n sống cùng với những linh hồn người chết về gặp chúng ta trong giấc mộng. Nếu quả chăng những người c̣n sống xuất hồn gặp chúng ta th́ những người ấy phải nằm mộng như chúng ta. Nhưng sự thật những người ấy không có nằm mộng. Như vậy những người gặp chúng ta trong giấc mộng là ǵ? Đó là do năng lực tưởng thức của chúng ta biến hiện ra, nó có thể biến hiện một số lượng người và xe cộ đông đúc như chợ Bến Thành, nó có thể biến hiện ra một thủ đô lớn như thủ đô Hà Nội, v.v..

Xét qua giấc mộng th́ năng lực tưởng thức của giấc mộng chỉ bằng 1 phần trăm của tưởng thức cháu Hằng khi t́m hài cốt liệt sĩ, và khả năng tưởng thức c̣n gấp trăm triệu lần khả năng tưởng thức của cháu Hằng hiện giờ, khi nó làm những việc c̣n siêu việt hơn. Cho nên, những nhà Khí công, nhà Nhân điện đều dùng khả năng của tưởng thức.

Giáo sư Trần Phương với hy vọng: “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, xác nhận được sự tồn tại của linh hồn th́ không những có ư nghĩa nhân văn mà c̣n có ư nghĩa về nhiều mặt khác, kể cả về h́nh sự (nếu người bị giết mà nói ra th́ kẻ giết người tránh sao khỏi tội?), không những có ư nghĩa quốc gia, mà c̣n có ư nghĩa quốc tế”.

Sự hy vọng của giáo sư Trần Phương không thể thành đạt được, là v́ linh hồn không có, chỉ có năng lực tưởng thức tạo ra.

V́ thế, Thiền xuất hồn là một phương tiện tu tập khai triển năng lực của tưởng thức. Khí công là một môn vơ học tập luyện để triển khai năng lực tưởng thức; Mật Tông cũng là một pháp môn triển khai sự mầu nhiệm của năng lực tưởng thức; Nhân điện cũng là một phương pháp triển khai năng lực tưởng thức để trị bệnh; Tịnh Độ Tông triển khai năng lực tưởng thức tạo ra thế giới siêu h́nh Cực Lạc Tây Phương; Thiền Tông là một pháp môn tu tập triển khai năng lực tưởng giải ảo giác, Chân không, Phật tánh v.v..

Cho nên, từ trong các tôn giáo cho đến những người có kiến thức khoa học c̣n nông cạn và chưa thấu suốt nền đạo đức nhân bản nhân quả, nên tin rằng có thế giới linh hồn người chết, đó là một điều mê tín, lạc hậu mà trong thời đại này không thể tha thứ được.

V́ sự thật hiển nhiên, là không có thế giới linh hồn người chết, mà chỉ có sự biến hiện do năng lực tưởng thức của con người c̣n sống tạo ra. V́ thế, Trung Tâm nghiên cứu tiềm năng con người có ra đời cũng chỉ loanh quanh nghiên cứu trong đống sách cũ của những người xưa, toàn là sách tưởng do những nhà tưởng học để lại. Nếu có nghiên cứu xa hơn th́ cũng dựa vào những nhà Nhân điện tưởng, Khí công tưởng, Xuất hồn tưởng, Vơ công tưởng, Thiền tưởng, Định tưởng, Thần chú tưởng, Ngoại cảm tưởng v.v.. th́ cũng không thể nào giải quyết được những ǵ mà giáo sư mong đợi. C̣n nếu đem những nhà ngoại cảm này áp dụng vào h́nh sự th́ chúng tôi e rằng không chính xác, v́ các nhà ngoại cảm không phải tự ḿnh điều khiển cái năng lực đó, mà chính cái năng lực tự động của tưởng thức đó điều khiển họ, nên có khi chính xác và có khi không chính xác, có nghĩa là tưởng thức của họ, lúc làm việc, lúc không làm việc. Cũng giống như trường hợp anh Nhă, lúc nó làm việc th́ chính xác, lúc nó không làm việc th́ anh ṃ mẫm như người mù ḍ đường.

Cho nên, đem những h́nh bóng biến hiện linh hồn người chết của tưởng thức vào việc lấy hài cốt liệt sĩ th́ tốt nhất, c̣n về việc h́nh sự và quốc pḥng th́ cũng chẳng khác nào đem sự mê tín vào những vấn đề quan trọng của đất nước, th́ chúng tôi e rằng không có lợi mà có hại nhiều hơn.

Bởi v́ các nhà ngoại cảm không điều khiển được tưởng thức của ḿnh mà bị tưởng thức của ḿnh điều khiển lại ḿnh.

Tóm lại bài này viết, v́ lợi ích cho mọi người trên hành tinh này, chúng tôi nói lên sự thật, sự thật 100%. Chúng tôi nói lên không cần quư vị tin, mà chỉ cần đem lại sự lợi ích cho quư vị, để quư vị trở thành những người không mù mờ, không dại dột bị kẻ khác lợi dụng tưởng thức của ḿnh lừa đảo. Tưởng thức như con dao hai lưỡi, nếu quư vị biết dùng nó, th́ nó lợi ích cho quư vị, c̣n quư vị không biết dùng nó, th́ nó trở lại làm khổ và làm hại quư vị.

Sự thật là sự thật, không thể nói khác được, chúng tôi nêu lên một sự thật, thời gian và sự tiến bộ của loài người sẽ xác chứng những điều này, những điều chúng tôi đă nói ngày hôm nay “Thế giới linh hồn là do tưởng tri”.

PHỤ CHÚ I

TỬ BIỆT SANH LY LÀ MỘT
SỰ ĐAU KHỔ CỦA KIẾP NGƯỜI

Trả lời thư Liễu Tâm

Câu chuyện tử biệt sanh ly của gia đ́nh nhà con, là những câu chuyện nức nở thương tâm đau khổ thường xảy ra trong kiếp sống của con người, mà mỗi gia đ́nh nào cũng đều  không tránh khỏi.

Luật nhân quả quá khắc nghiệt, v́ sự công bằng và công lư của nó. Nó chẳng động ḷng thương xót và chẳng tư vị một ai.

Trong cuộc sống của gia đ́nh là một cộng nghiệp của nhân quả, vui buồn, khổ đau, hay hạnh phúc, phiền năo, bất toại nguyện... đều là do sự vay trả, trả vay của nhân quả.

Một cộng đồng nhân quả trong một gia đ́nh, người nào tuổi trẻ mà chết trước là người đó đă trả xong nhân quả trong cộng đồng đó. Khi trả xong dù muốn sống thêm một ngày cũng không thể sống thêm được nữa. Do vậy, mới bảo rằng luật nhân quả quá khắc nghiệt.

Cháu Thanh Phước cũng vậy, cháu đă trả xong nợ nhân quả, v́ thế cháu phải ra đi, ra đi vĩnh viễn v́ cháu đă hết nợ trong cộng đồng đó. Riêng các con không thấy được nợ vay của luật nhân quả mà cho đến giờ này c̣n khóc thương thảm thiết.

Thầy xin nêu lên một ví dụ để con hiểu cho rơ ràng: Ví như, con là một người thiếu một món nợ rất lớn của một ông chủ, con phải đến nhà của ông chủ nợ cố gắng làm lụng hết sức ḿnh để trả xong món nợ, khi con đă trả xong món nợ, con rời khỏi gia đ́nh ông ta, th́ ông ta kêu khóc thảm thiết không cho con đi, lúc nào cũng muốn con ở lại làm cho ông ta nữa. Như vậy, con thấy ông ta có công bằng không? Và con là người đă trả nợ xong th́ con vui mừng rời khỏi gia đ́nh ông ta th́ hạnh phúc biết bao! V́ không c̣n nợ nần nữa.

Như vậy, con nên tư duy theo luật nhân quả, th́ sự thương khóc của con có công bằng không? Khi cháu Thanh Phước đă trả xong nợ nhân quả của cộng đồng gia đ́nh con, cháu ra đi như trong thư con đă thuật lại: “Cháu rất hiền lành và tốt bụng, thương yêu vợ con hết mực, hiếu thảo với cha mẹ bốn bên, đối với bạn bè cơ quan ai cũng khóc thương...”. Nhờ những sự tốt bụng này, tức là thiện pháp mà cháu Thanh Phước đă trả xong món nợ nhân quả quá nhanh, v́ thế cháu ra đi lúc đầu c̣n xanh tóc, vừa mới 45 tuổi.

Nếu cháu Thanh Phước c̣n nghe tiếng khóc thương của con và mọi người th́ cháu rất buồn, v́ cháu đă trả xong nợ, mà cứ kêu gọi đ̣i nợ cháu hoài, th́ cháu rất đau khổ và không hài ḷng phải không hỡi các con?

Sao các con lại vô minh đến thế? Người c̣n sống là c̣n nợ nhân quả, sao các con không lo trả cho hết? Người trả xong nợ ra đi th́ các con phải vui mừng cớ sao lại buồn khóc, thật là đảo điên.

Cuộc đời là một bi hài kịch trên sân khấu nhân quả, có ǵ là thật đâu mà phải thương khóc, hết đóng vai này đến đóng vai khác và luôn luôn tiếp diễn những tṛ ảo ảnh đó vô cùng, vô tận. Thế mà, các con tự ḿnh chuốc lấy sự khổ đau cho ḿnh mà không biết, đó là vô minh, thiếu sự hiểu biết.

Có một câu chuyện nhân quả mà Thầy được ông thân Thầy kể lại: “Có một gia đ́nh kia, chỉ sanh ra một cậu con trai duy nhất, cậu rất hiền lành dễ thương, hiếu hạnh chăm học, không bao giờ căi lời và làm cha mẹ buồn khổ, lớn lên cậu rất cần cù làm ăn khiến cho gia đ́nh giàu có nhất trong vùng. V́ thế, cha mẹ thương yêu cậu hơn là vàng bạc châu báu. Nhưng không may cậu lâm bệnh ít hôm rồi chết, để lại sự thương tiếc của cha mẹ vợ con và xóm làng.

Trong làng có một vị phù thủy rất cao tay ấn thường đánh thiếp cho người xuống âm phủ gặp những người thân ḿnh đă chết.

V́ thương con nên ông cụ đến nhờ Thầy đánh thiếp xuống âm phủ để gặp con. Khi xuống đến âm phủ, ông cụ bước vào một cái quán bên lề đường hỏi thăm. Người chủ quán cho biết cách đây  khoảng  hơn hai tháng có một cậu thanh niên ở trên trần gian mới xuống, và bảo ông cụ: “Cụ hăy ngồi ở đây chờ một chút, thế nào cậu trai ấy cũng sẽ cưỡi ngựa đi ngang qua đây, chừng đó cụ sẽ ra nh́n mặt, coi có phải là con trai của cụ không?”.

Ông cụ nghe lời, ngồi chờ chẳng bao lâu nghe tiếng vó ngựa, cụ ra đón đường, quả đúng là cậu con trai, con của cụ. Mừng quá cụ vừa khóc, vừa níu tay con và vừa nói: “Sao con bỏ bố mẹ, trong khi bố mẹ thương con hết mực...”. Ông cụ vừa nói đến đó th́ cậu con trai thét lên: “Ai là con cái nhà ông, chúng tôi đă mắc nợ ông, làm trả nợ cho ông xong th́ chúng tôi có quyền đi, cớ sao ông cứ theo đ̣i nợ hoài”. Nói xong cậu con trai quất ngựa chạy đi, chẳng hề đoái hoài đến ông cụ. Ông cụ sững sờ nh́n theo bóng cậu con trai mà bao ḷng thương của cụ đều buông xuống sạch. Câu chuyện trên đây con nên suy ngẫm, để thấu suốt lư nhân quả, nhờ đó con mới chuyển được và tâm hồn mới thanh thản an lạc và vô sự.

Cháu Thanh Phước ra đi là nhắc nhở cho con thấy: “Đời là vô thường, là khổ đau và cuối cùng là không có ǵ cả”. Chính con là người vay nợ nhân quả rất nhiều, do đó con là người chịu khổ đau nhiều nhất trong cộng đồng gia đ́nh này. Nếu con không gặp chánh pháp của Phật th́ giờ này con sẽ trở thành người điên mất.

Khi đọc xong bức thư này con hăy tư duy suy nghĩ để tự cứu ḿnh ra khỏi sự vô minh ngu dại của ḿnh đă tự dày ṿ, đă tự làm khổ đau cho ḿnh mà cứ măi làm khổ đau không dứt, đó là một điều thiếu đạo đức nhân bản làm người đối với ḿnh, con ạ!

Hăy đứng lên, tự thắp đuốc đạo đức mà đi, đừng để sống trong đêm đen tối mờ mịt mà món nợ nhân quả chưa biết kiếp nào trả xong.

Thầy có lời thăm và chúc các con quán xét xả tâm tốt để có một bầu trời thanh thản, an lạc và vô sự.

  Kính thư

 Thầy của các con

PHỤ CHÚ II

TU TẬP TỨ NIỆM XỨ

Kim Quang hỏi đạo

Hỏi: Kính thưa Thầy, xin cho con hỏi: Khi tu Tứ Niệm Xứ trên Tứ Niệm Xứ, nếu vọng niệm, cảm thọ đến th́ con phải dùng câu tác ư đuổi đi phải không Thầy? Hay là giữ tâm bất động trước các cảm thọ đó, không cần phải nhắc câu hướng tâm đuổi đi?

Theo con hiểu th́ khi các niệm ác, cảm thọ nóng, lạnh, đau nhức đến th́ phải dùng câu tác ư đuổi đi. C̣n giữ tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ là tâm không tham, sân giận, kiêu mạn, nghi ngờ, sợ hăi, ảo tưởng… trước các ác pháp và các cảm thọ.

Đáp: - Khi tu tập Tứ Niệm Xứ là tu tập để tâm thanh thản an lạc và vô sự tự nhiên chứ không được bắt buộc ức chế tâm giữ ǵn thanh thản, an lạc và vô sự. Mục đích của Tứ Niệm Xứ là khắc phục đẩy lui những điều làm cho thân, thọ, tâm, pháp bất an, cho nên có vọng niệm hay cảm thọ đến là con dùng câu tác ư đuổi đi là đúng, không cần phải dùng câu pháp hướng dài ḍng, chỉ ngắn gọn đủ nghĩa.

TƯỞNG UẨN

Kim Quang hỏi đạo

HỏiKính thưa Thầy, khi ngồi tu th́ con thấy các cơ mặt của con tự nhiên bị giựt nhẹ nhẹ, con dùng câu tác ư : “Tưởng hành lui đi”, vậy có đúng không thưa Thầy? Bởi v́ sự giựt cơ này không phải do con ư thức làm mà do tự nhiên nó giựt, nhưng nó cũng không phải là trạng thái b́nh thường nên con nghĩ là do tưởng điều khiển.

Đáp: Khi ngồi tu có những trạng thái ǵ xảy ra đều do tưởng cả, con nên tác ư đuổi đi: “tưởng hành lui đi” là đúng.

TRONG KHI TU TẬP TỨ NIỆM XỨ
CÓ HỌC TẬP HAY LÀM MỘT VIỆC G̀
KHÁC ĐƯỢC KHÔNG?

Kim Quang hỏi đạo

Hỏi: Hôm qua con có viết thơ hỏi Thầy về việc nghỉ học tiếng Anh. Con nghĩ hiện nay con sống trong môi trường xă hội, muốn tu tập xả bỏ mọi thứ th́ con phải sống trong nó và xả bỏ trong mọi hoàn cảnh, chứ nếu con lư luận rằng bởi v́ khi đi học tiếng Anh làm cho tâm con lo lắng không an, nên con nghỉ học tiếng Anh th́ đó là hèn nhát chạy trốn, chứ không phải xả tâm. Có phải như vậy không Thầy?

Đáp: Đúng vậy, nếu con bỏ học tiếng Anh không có nghĩa là con xả bỏ những ác pháp. Xả bỏ những ác pháp là xả bỏ những pháp tác động vào thân tâm con làm con khổ đau, chứ phải không xả bỏ tiếng Anh là xả bỏ các ác pháp, v́ tiếng Anh đâu phải là ác pháp. Cho nên, con học tiếng Anh là một điều cần thiết cho những người Việt ở nước ngoài. Có lợi ích chứ có hại cho con đâu.

KIÊU MẠN

Kim Quang hỏi đạo

Hỏi: Khi tâm ưa lư luận, phân tích việc làm, lời nói, ư kiến, điệu bộ, oai nghi, tư cách của người khác là tâm c̣n chấp ngă phải không Thầy? Có phải là tâm kiêu mạn, chưa có sống tùy thuận theo mọi người. Con dùng câu tác ư: “Bản ngă hăy lui đi”. Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này đâu phải là  ta, là của ta, vậy th́ lư luận, phân tích so sánh làm ǵ, cho ai, hăy sống biết tôn trọng tất cả mọi thứ, mọi hành vi của mọi người (suy nghĩ, việc làm, lời nói, ư kiến, điệu bộ, oai nghi, tư cách…).

Đáp: Đúng vậy, khi tâm ưa lư luận phân tích việc làm, lời nói, ư kiến, điệu bộ, oai nghi, tư cách của người khác là tâm con c̣n chấp ngă, c̣n kiêu mạn v.v..

Vậy con hăy từ bỏ, con hăy nghe Phật dạy: “Biết chuyện ḿnh đừng biết chuyện người”. “Đừng thấy lỗi người mà hăy thấy lỗi ḿnh”. Thấy lỗi người là tâm con bất an, tự con đă làm khổ cho con, cho nên nói xấu người khác là ḿnh xấu đấy con ạ!

BỊ TRẠO CỬ PHẢI
KHẮC PHỤC NHƯ THẾ NÀO?

Kim Quang hỏi đạo

HỏiKính thưa Thầy, xin cho con hỏi:

Khi con ngồi tu Tứ Niệm Xứ, các cảm thọ (ngứa, lạnh, đau…), các hành (tay, chân, thân bị co giật, hoặc đầu bị căng), các niệm (xấu, ác, quá khứ, tương lai…) xuất hiện liên tục. Con dùng câu hướng tâm: “Ác lui đi” để đuổi các pháp trên đi.

Hết giờ này sang giờ khác con cứ đuổi liên tục như vậy, không có được giây phút nào ngừng nghỉ, nghĩa là thân tâm của con không có thanh thản, an lạc và vô sự.

Con tự hỏi ḿnh rằng: Nếu có ư muốn nhắc câu tác ư để đuổi các ác pháp và các cảm thọ đi th́ không biết có rơi vào Tưởng hay không? V́ Tưởng biết được là ư con muốn ǵ, và nó sẽ dẫn dắt đi sâu vào Tưởng.

Đáp: Khi tu tập Tứ Niệm Xứ con bị trạo cử như vậy th́ nên tác ư nhắc tâm đuổi ác pháp đó đi. Do ư thức chủ động điều khiển tâm nên không bị tưởng lôi. T́nh trạng trạo cử thân tâm con là do nghiệp nhân quả cộng thêm tưởng uẩn tác động vào thân tâm con. Do đó, con dùng ư thức tác ư dẹp trạo cử tức là chuyển nghiệp nhân quả. Chuyển nghiệp nhân quả tức là dẹp luôn tưởng uẩn, cho nên dù tưởng uẩn có biết nó cũng phải ra đi theo nghiệp.

TÂM BẤT ĐỘNG KHÔNG
PHẢI LÀ TÂM KHAM NHẪN

Kim Quang hỏi đạo

Hỏi: Mục đích của Tứ Niệm Xứ là giữ ǵn tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Nghĩa là tâm phải bất động trước các pháp ác và các cảm thọ xuất hiện. Vậy khi các ác pháp và các cảm thọ xuất hiện con nhắc câu tác ư là để tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ, chứ không phải là để đuổi các ác pháp và các cảm thọ đó đi. V́ theo con hiểu Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là vô thường, khổ và vô ngă. Vậy th́ ta không nên để tâm dính mắc vào các ác pháp và các cảm thọ đó, nghĩa là không cần phải cố gắng tiêu diệt hết các cảm thọ và các ác pháp, chỉ cần nhắc tâm không bị dính mắc vào những ác pháp đó thôi. Và đừng để cho có tâm ham muốn xuất hiện kể cả ham muốn diệt các ác pháp và các cảm thọ, hoặc là tu như thế này th́ sẽ có kết quả như thế này, là diệt được cái này. Nếu con c̣n lư luận như thế th́ con nghĩ con vẫn c̣n lẩn quẩn trong ảo tưởng.

Đáp: Những lư luận của con ở trên đây là con đă chịu ảnh hưởng của các hệ phái phát triển, những lư luận này trong kinh sách phát triển rất đầy đủ, đó là những lư luận lẩn quẩn không lối thoát. Cho nên, diệt dục cả thiện lẫn ác th́ con người là đá, là vật vô tri vô giác, diệt dục cả thiện lẫn ác là không đúng nghĩa của Phật giáo. Đạo Phật ai cũng biết: “Ngăn ác diệt ác, sinh thiện tăng trưởng thiện” là đường lối tu tập của Phật giáo. Do đó, chúng ta biết diệt dục ác, chứ dục thiện c̣n giữ lại. Cho nên, đạo Phật là đạo diệt ngă xả tâm ly dục ly ác pháp nhưng diệt ngă ác, xả tâm ác, ly dục ác, ly ác pháp, chứ không diệt ngă thiện, không xả tâm thiện, không xả dục thiện, không ly thiện pháp. V́ thế đạo Phật mới chấp nhận Bát Chánh Đạo và không chấp nhận Bát Tà Đạo. Cho nên, đạo Phật có bờ bên này và bờ bên kia; bờ bên này là ác, bờ bên kia là thiện. V́ thế, đạo Phật có hai lộ tŕnh: một là lộ tŕnh thiện; hai là lộ tŕnh ác.

Do chỗ tà, chánh, thiện, ác này mà đức Phật đă chỉ cho chúng ta biết có bốn chân lư của đời người. Đó là đức Phật gợi ư cho chúng ta hướng về sự thoát khổ. Hướng về sự thoát khổ tức là muốn thoát ra mọi sự khổ đau, nếu diệt hết ḷng ham muốn th́ lấy cái ǵ để tu tập hay biến ḿnh thành cây đá th́ có lợi ích ǵ cho ḿnh cho người.

Do ư muốn mà con người càng ngày càng tiến bộ trên hành tinh này về khoa học, kỹ nghệ, thông tin v.v..; do ư muốn thoát khổ nên các tôn giáo trong đó có Phật giáo mới có mặt trên hành tinh này. V́ thế, Pháp của Phật là pháp môn tu tập để “muốn” làm chủ sanh, già, bệnh, chết; muốn giải thoát ra khỏi mọi sự khổ đau của kiếp làm người, nếu không có ư muốn thoát khổ th́ chúng ta đi tu để làm ǵ? Nghe đạo Phật nói diệt dục (Diệt Đế) là các con điên đảo hiểu biết một cách sai lạc, diệt hết tâm dục là thành tựu đất đá, tu hành để thành đất đá th́ c̣n có nghĩa ǵ là con người nữa phải không con? Nếu hiểu nghĩa như vậy là không đúng nghĩa của Phật giáo. V́ mục đích của Phật giáo là làm chủ nghiệp nhân quả và các cảm thọ. Cho nên, trong Tứ Niệm Xứ dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu ở đời, trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu ở đời, trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu ở đời, trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu ở đời”. Khắc phục có nghĩa là làm cho hết đau chứ không phải chỉ có giữ tâm bất động không. Mục đích của đạo Phật là chỗ tâm bất động, nhưng tâm bất động trong sự làm chủ nghiệp và các ác pháp bằng Tứ Thần Túc chứ không phải bất động trong sự chịu đựng của các ác pháp và sự chịu đựng của các cảm thọ.

Cho nên, sự hiểu biết của con như vậy là sự hiểu biết theo kinh sách phát triển, là sai không đúng nghĩa của Phật giáo.

Đức Phật dạy:

“Thiên thượng thiên hạ

   Duy ngă độc tôn

Nhất thiết thế gian

Sanh, lăo, bệnh, tử”

Tạm dịch:

Trên trời, dưới trời

Khắp trong thế gian

Con người là duy nhất

Làm chủ: sanh. già, bệnh, chết

TÂM KHÔNG CHƯỚNG NGẠI PHÁP
TH̀ TÁC Ư: TÂM THANH THẢN, AN, LẠC VÀ VÔ SỰ,
C̉N CÓ CHƯỚNG NGẠI PHÁP
TH̀ TÁC Ư: ÁC PHÁP LUI!

Kim Quang hỏi đạo

Hỏi: Xin Thầy cho con biết khi nào th́ nhắc câu tác ư “Thân tâm phải thanh thản, an lạc và vô sự.” và câu “Ác pháp lui đi”.

 Đáp: Khi nào thân tâm con b́nh an yên ổn th́ thỉnh thoảng con tác ư một lần: “Thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự”, để duy tŕ trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự, c̣n khi thân tâm con bị chướng ngại pháp tức là bị các cảm thọ, bị trạo cử, bị các niệm ác xen vào hay bị hôn trầm, thùy miên, vô kư và ngoan không th́ con nên tác ư: “Ác pháp lui đi” hoặc con tác ư rơ ràng hơn từng đối tượng của nó như: đầu, cổ, tay, chân, lưng, ngực, bụng: “Thọ là vô thường, cái đầu đau nhức này phải lui đi và thân tâm phải thanh thản, an lạc và vô sự” hoặc về tâm th́ con bảo: “Tâm là vô thường, ái kiết sử này phải ra khỏi nơi đây, thân tâm phải thanh thản, an lạc và vô sự”.

KHI TÁC Ư BỆNH LUI ĐI
CÓ PHẢI LÀ TƯỞNG KHÔNG?

Câu hỏi của Kim Quang

Hỏi: Khi con ngồi tu Tứ Niệm Xứ, các cảm thọ hay các hành xuất hiện con dùng câu tác ư “Ác pháp lui đi”. Khi con nhắc như vậy th́ các cảm thọ hay là các hành mất ngay, nhưng sau đó th́ các cảm thọ hoặc hành khác mới xuất hiện và con lại nhắc tiếp đuổi bọn nó đi. Con thấy rằng những cảm thọ và các hành này giảm dần về cường độ mạnh và nhỏ đi.  (Con không biết con có bị Tưởng hay không?) Và cứ như vậy suốt nhiều tiếng đồng hồ.

Xin Thầy chỉ dạy kỹ lại cho con hiểu rơ để con biết đúng phương hướng tu tập không phải rơi vào Tưởng. Cám ơn Thầy.

Đáp: Con nên lưu ư kỹ về pháp môn Tứ Niệm Xứ mà đức Phật đă dạy: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu ở đời”. Cụm từ này cần phải hiểu rơ nghĩa: “Khắc phục tham ưu ở đời”. Khắc phục tham ưu ở đời có nghĩa là làm cho hết đau khổ và hết ưu phiền. Vậy phải làm bằng cách nào? Căn cứ vào bài kinh nào mà chúng ta khắc phục được bệnh khổ nơi thân?

Con hăy đọc lại đoạn kinh Đại Bát Niết Bàn này: “Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán... Vậy Ta hăy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy tŕ mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy tŕ mạng căn. Rồi Thế Tôn lành bệnh”. (Kinh Trường Bộ tập I trang 582 kinh Đại Bát Niết Bàn).

Đọc đoạn kinh này chúng ta nhận xét rất rơ khi bị bệnh đức Phật giữ tâm chánh niệm tỉnh giác không một chút rên la đau đớn: “Nhưng Thế Tôn giữ chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán”. Đây là cách thức giữ tâm bất động trong cơn đau dữ dội. Có lẽ con đă biết cách giữ tâm chánh niệm tỉnh giác rồi chứ. Giữ tâm chánh niệm tỉnh giác tức là nhiếp tâm an trú trên thân hành nội hoặc thân hành ngoại.

Khi nhiếp tâm an trú được trên thân hành nội hay ngoại th́ bắt đầu nhiếp phục bệnh đau trên thân. Con hăy lắng nghe Phật dạy tiếp: “Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy, duy tŕ mạng căn. Rồi Thế Tôn lành bệnh”. Với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy. Vậy Với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy là làm ǵ?

Với sức tinh tấn tức là siêng năng; nhiếp phục bệnh ấy tức là tác ư ngay bệnh đau đó ra khỏi thân tâm, như đức Phật đă dạy: “Tác ư một tướng khác th́ tướng kia bị diệt”.

Với cảm nhận của con về sự tác ư đuổi bệnh ra khỏi thân, cơn đau giảm từ từ, đó không phải là tưởng.

TU TỨ NIỆM XỨ CÓ CẦN
NGỒI KIẾT GIÀ HAY KHÔNG?

Kim Quang hỏi đạo

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con muốn hỏi Thầy về việc ngồi kiết già có cần thiết hay không?

Hiện nay con chỉ ngồi trên ghế thường thôi. Con có cố gắng ngồi kiết già mỗi ngày 10-15 phút, nhưng sau đó con thấy chân bị đau.

Con nghĩ việc ngồi kiểu ǵ đâu có quan trọng, quan trọng là tâm ly dục ly ác pháp phải không Thầy?

Đáp: Đúng vậy, hiện giờ sự tu tập của con, quan trọng nhất là ở chỗ tâm bất động ly dục ly ác pháp, chứ không phải ở chỗ ngồi kiết già, cho nên sự tu tập của con là phải tu tập trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Đi, đứng, nằm, ngồi cách nào cũng được, miễn: đi, đứng, nằm, ngồi sao cho thoái mái, dễ chịu, an ổn v.v..

Tâm bất động ly dục ly ác pháp là tâm thanh thản an lạc và vô sự. Tâm thanh thản an lạc và vô sự là tâm Tứ Niệm Xứ. Như vậy con đang Tứ Niệm Xứ: “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu ở đời, trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu ở đời, trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu ở đời, trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu ở đời”. Có các chướng ngại trên thân, thọ, tâm và các pháp th́ phải đuổi ngay liền. Cho nên, không cần phải ngồi kiết già, nhưng nếu ngồi được kiết già cũng tốt v́ nó là tướng phước điền nên nhiếp phục được mọi người khi họ nh́n thấy con đang tu tập.

Tóm lại, khi tu tập Tứ Niệm Xứ để diệt ngă xả tâm ly dục ly ác pháp th́ không cần ngồi kiết già, ngồi cách nào tu tập cũng được.

PHỤ CHÚ III

 SỐNG TẺ NHẠT, ĐƠN ĐIỆU,
BUỒN CHÁN, LĂNG PHÍ THỜI GIAN

Câu hỏi của N.C

Hỏi 1: Kính thưa Thầy! Nh́n thấy cuộc sống của mọi người trong tu viện sao tẻ nhạt, đơn điệu quá. Thầy chỉ nhận chúng về đây tu học chứ không bắt chúng làm công quả nặng nhọc như những chùa khác. Chúng sống như thế có buồn chán hay lăng phí thời gian không thưa Thầy?

Đáp: Khi đă trực tiếp về đây tu học theo giáo lư Nguyên Thủy của đức Phật, th́ con đă biết độc cư là bí quyết thành công của sự tu tập thiền định. Vậy sao con hỏi câu này với ư nghĩa ǵ hỡi con? Ở đây tu viện không có mời thỉnh một ai về đây sống độc cư để cho tâm hồn họ buồn chán, tẻ nhạt, đơn điệu và lăng phí thời gian, chẳng có ích lợi ǵ cho bản thân, cho đời, cho đạo. Mà chính mọi người về đây đều phải tự nguyện, tự giác chấp nhận nếp sống tẻ nhạt, đơn điệu này. Đó là nếp sống của tu viện như vậy, nếu ai không bằng ḷng, không chấp nhận nếp sống này th́ chắc chắn sẽ không tu tập theo giáo pháp Nguyên Thủy được.

Sự tu tập này là đem lại lợi ích cho bản thân người tu, chứ không phải làm lợi ích cho người khác, nếu ai thấy nếp sống này không lợi ích, tẻ nhạt, đơn điệu, buồn chán, lăng phí thời gian th́ không nên đi con đường này. Phải không con?

Con có biết không? V́ có sống tẻ nhạt, đơn điệu mới nhận ra từng tâm niệm làm khổ ḿnh, làm khổ người và làm khổ cả hai. Đó là phương pháp chứng đạt đạo đức chân lư của đạo Phật. V́ thế, tu viện chấp nhận một nếp sống tẻ nhạt, đơn điệu, li dục, li ác pháp không giống như nếp sống ồn ào chạy theo dục và ác pháp như ngoài đời.

Nếu không chấp nhận sống tẻ nhạt, đơn điệu th́ nên sống như người ngoài đời. Có ai bắt buộc ai phải sống nhàm chán, tẻ nhạt, đơn điệu lăng phí thời gian chôn vùi một đời người trong đau khổ đâu?

Như con đă biết: đời phải sống đúng đời, đạo phải sống đúng đạo; đạo đời không thể lẫn lộn; đạo đời lẫn lộn không phải đạo. Có phải vậy không con?

Ở trong đạo tập họp nói chuyện là phá hạnh độc cư, là phi đạo, phi đời. Đời chẳng giống đời, đạo chẳng giống đạo. Ngày xưa, đức Phật gọi những người hay tập họp nói chuyện là ngoại đạo.

Tại sao con lại có tâm niệm cho rằng: sống hạnh độc cư của những bậc vượt thoát trần lao là đơn điệu, tẻ nhạt, buồn chán, lăng phí thời gian?

Nếu con đem đời sống thất t́nh lục dục của con người b́nh thường mà lồng ghép trong hạnh độc cư của những bậc thoát ḍng tục lụy th́ làm sao con chẳng cảm thấy tẻ nhạt, đơn điệu, buồn chán, lăng phí thời gian. Phải không con?

Thầy nghĩ rằng với kiến thức của con hiện có, chưa phải thiếu sáng suốt như vậy mà con hỏi những câu hỏi này quả là trí tuệ con đang bị đám mây mù che khuất. Bởi v́ con đă từng đọc sách của Thầy th́ lư đâu con như người chưa từng đọc, như người chưa hiểu ǵ cả. Tâm con đang bị điên đảo tưởng, điên đảo tâm, điên đảo t́nh cảm. Phải không con?

V́ lợi ích Thầy không bắt buộc mọi người về đây tu tập làm công quả nặng nhọc như các chùa khác, chỉ muốn cho họ đừng phí thời giờ tu tập, nên ghép họ vào nếp sống độc cư, nhưng họ tu tập không đúng cách, c̣n thừa thời giờ nhiều nên sinh ra buồn chán, đi tập họp nhau nói chuyện, phá hạnh độc cư, như vậy họ rất lăng phí thời gian và rất tội nghiệp. Bỏ đời vào chùa tu tập xả tâm, thế mà lại phá hạnh độc. Phá hạnh độc cư có lợi ích ǵ. Đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo như trên đă nói. Tiếc thay! Uổng thay! Phí cả một đời người.

VỊ  A LA HÁN TỪ TUỆ SINH
ĐỨC HAY TỪ ĐỨC SINH TUỆ

Câu hỏi của N.C

Hỏi 2: Kính thưa Thầy! Trên bước đường Thầy đào tạo A La Hán tương lai th́ giữa Đạo đức và Trí tuệ Thầy chú trọng mặt nào hơn? Vị A La Hán đó từ Tuệ sanh Đức hay từ Đức sanh Tuệ?

Đáp: Thầy đào tạo bậc A La Hán đúng theo tiêu chuẩn của đức Phật đă dạy: ‘Trí tuệ ở đâu th́ đức hạnh ở đó, đức hạnh ở đâu th́ trí tuệ ở đó; trí tuệ làm thanh tịnh đức hạnh, đức hạnh  làm thanh tịnh trí tuệ?”.

Câu hỏi của con trí tuệđức hạnh là hai pháp. Đó xác định sự hiểu biết của con về đạo Phật chưa toàn diện. Chưa hiểu rơ đạo Phật nên con mới hỏi Thầy: “Đào tạo A La Hán tương lai th́ giữa đạo đức và trí tuệ Thầy chú trọng mặt nào hơn?”. Con đă từng đọc sách Phật mà lại hỏi Thầy. Như vậy con có ngớ ngẩn không ?

Trong đạo Phật đức hạnh là giới luật, ngoài giới luật đi t́m đức hạnh th́ không bao giờ có. Cho nên, đức hạnh của Phật là giới luật. V́ vậy Phật dạy: “Đức hạnh ở đâu th́ trí tuệ ở đó”. Con có nghe lời dạy này chăng?

Bậc A La Hán đức hạnh và trí tuệ là một. C̣n phàm phu th́ trí tuệ là trí tuệ, đức hạnh là đức hạnh. Cho nên, trí tuệ và đức hạnh là hai pháp. Do đó, người đời thường hay đau khổ v́ trí tuệ không có đức hạnh, nên tâm tham, sân, si, mạn, nghi lẫy lừng.

A La Hán không phải từ tuệ sinh đức, mà cũng không phải từ đức sanh tuệ. A La Hán là trí trong đức, đức trong trí. Người có trí tuệ đức hạnh không làm khổ ḿnh, khổ người là A La Hán. Do trí tuệ đức hạnh như vậy tâm mới vô lậu. Tâm vô lậu là quả A La Hán tại đó, không cần t́m đâu xa, không tu tập thêm ǵ cả.

KHẨU KHÍ A LA HÁN

Câu hỏi của N.C

Hỏi 3: Kính thưa Thầy! Bài Thần Thông tác giả Nguyên Thanh thay Thầy trả lời câu hỏi. Ng̣i bút của cô quá thẳng như nhát roi quất mạnh vào lưng người hỏi. Đọc xong người ta không tỉnh ngộ mà c̣n phẫn nộ. Có người bảo Nguyên Thanh bản ngă cao, Thầy cho đó là khẩu khí của A La Hán, con không biết nghiêng về phía nào?

Đáp: Nguyên Thanh viết bài Thần Thông là để trả lời cho những người hiểu sai Phật giáo, thẳng thắn vạch trần những tư tưởng xuyên tạc Phật giáo, cố ư d́m Chánh pháp, d́m đạo đức chân chánh của Phật.

Theo Thầy hiểu: Nguyên Thanh nói như vậy c̣n nhẹ, v́ những người này là Nhất Xiển Đề trong Phật giáo. Có lẽ con quá yếu đuối trước thế lực của tà đạo hay có sự mặc cảm nào, vội lên án Nguyên Thanh ngă mạn cao, “nói như roi quất vào lưng họ. Người hiểu Phật pháp sai, nên dạy cho họ biết cái sai, để không c̣n hiểu sai nữa là ơn, chứ sao lại thành oán, dù là lời nói thẳng mạnh, nhưng không mạ lị, mạt sát người.

Con có nghe đức Phật nói về Nhất Xiển Đề không? Nhất Xiển Đề là những người không thể giáo dục, cảm hóa được, những hạng người này cần phải nói thẳng, đập mạnh như đức Phật ngày xưa đă từng chỉ thẳng mặt Nhất Xiển Đề, Ngài bảo: “Ông là người ngu si, là vô giáo dục”. Nhờ có nói thẳng, đập mạnh như vậy mới khiến họ dẹp bỏ tính vô minh, kiến chấp. Thuốc đắng đă tật. Con có biết không?

Trong đạo Phật thường dạy: “Thấy lỗi ḿnh, đừng thấy lỗi người”, c̣n ở đây Thầy nhờ Nguyên Thanh trả lời dùm, nên Nguyên Thanh phải trả lời hết ư theo bài luận vấn nạn, mạt sát, mạ lị người của Đại Thừa. V́ thế, Nguyên Thanh phải vạch rơ những cái sai của người dốt mà hay nói chữ.

Người viết văn c̣n sai lầm văn phạm và chính tả th́ không nên phê b́nh văn ai cả, thế mà dốt lại dám phê b́nh văn của kẻ khác, th́ Nguyên Thanh chỉnh lại để sau này họ viết văn cẩn thận tốt hơn, đấy là làm ơn, chứ đâu phải nói nặng người.

V́ Chánh pháp của Phật, khi tu hành chưa chứng đạt chân lí, mà dám cầm bút phê b́nh người chứng đạt chơn lí, th́ việc làm ấy quá nông cạn, không biết ḿnh, không biết người. Cho nên, Nguyên Thanh khuyên bảo: “Biết th́ thưa thốt, không biết th́ dựa cột mà nghe”. Đó là một lời khuyên rất tốt, rất đúng. Sao lại bảo Nguyên Thanh bản ngă cao?

Nếu không có Nguyên Thanh thẳng thắn khuyên bảo th́ ngựa quen đường cũ, cứ vẫn viết văn phê b́nh người khác th́ càng lộ tẩy cái ngu dốt của họ cho mọi người khác biết th́ rất tội nghiệp. Như vậy, Nguyên Thanh đă làm ơn, chứ đâu có gieo oán với ai đâu. Vậy mà Nguyên Thanh mang tiếng bản ngă cao.

Người Nhất Xiển Đề không bao giờ tỉnh ngộ, không bao giờ thấy lỗi lầm, chỉ biết phẫn nộ, nhưng phẫn nộ là địa ngục, Nhất Xiển Đề luôn luôn mở cửa địa ngục.

Nguyên Thanh nói thẳng mạnh để các hệ phái phát triển biết rằng: “Những pháp môn của các ngài đều sai, không phải chỉ có một ḿnh Thầy Thông Lạc biết mà c̣n có nhiều người biết nữa, như: Minh Điền, Thu Phương, Hạt Cát, Diệu Quang, Mật Hạnh, Nguyên Thanh...”.

Ví dụ có một người nói sai về ba mẹ con, con phải làm sao? Hay phải nhỏ nhẹ năn nỉ ông ta.

Khi gặp sự bất b́nh nói sai về cha mẹ ḿnh, ít ra con phải nói cho ông ta biết rằng: “Ông nói như vậy là không đúng về cha mẹ tôi. Biết th́ ông nói, c̣n không biết th́ ông đừng nên nói”. Đó là lời khuyên tốt, chứ đâu mắng chửi ông ta. Có phải vậy không con? Khi người ta phân giải đúng sai, phải trái, lại bảo người ta bản ngă cao. Con nói như vậy có đúng không?

Phân tích cho người ta biết cái hiểu sai để người ta sửa, bằng một lời khuyên chân t́nh. Khi đọc bài Thần Thông họ đă nhận được cái sai của ḿnh th́ hết sức cám ơn Nguyên Thanh. C̣n con đọc bài Thần Thông, th́ cho là Nguyên Thanh bản ngă cao.

Khuyên người làm sai không nên làm sai nữa, th́ bị các con lên án, sau này có ai làm sai, chắc không dám nói thẳng và khuyên bảo nữa. Như vậy cuộc đời này sẽ ra sao?

Nguyên Thanh dám dùng lời nói thẳng thừng khuyên dạy người trong khi ḿnh tu chưa chứng. Đấy không phải khẩu khí làm Thầy thiên hạ sao? Con có thấy điều này không?

Để trả lời câu hỏi này, con không biết nghiêng về phía nào, Như vậy đợi Nguyên Thanh chứng quả A La Hán sẽ trả lời câu hỏi của con.

Một lần nữa, lời Thầy nói chưa đủ ḷng tin. Vậy con hăy đợi đức Phật vị lai ra đời sẽ trả lời câu hỏi này của con.

Trong thời đức Phật c̣n tại thế mọi người đang theo Phật tu hành, khi nghe người ta nói xấu Phật có thai với một phụ nữ, mọi người không suy nghĩ kỹ, vội bỏ Phật không theo tu nữa. Người ta đă hiểu lầm, khi một người tu chứng đạt chân lí th́ dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu đă được làm chủ và đoạn diệt th́ làm sao lại có chuyện có thai với người phụ nữ. Họ nói và hiểu người tu chứng đạt chân lí như kẻ phàm phu. Họ đâu biết rằng: Khi chứng đạt chân lí th́ thân tâm người tu hành thanh tịnh, trong sạch, không c̣n bẩn thỉu, ô trược, uế nhiễm mùi tục lụy thế gian.

Đối với đức Phật ngày xưa, Ngài tu hành chứng đạt chân lí cho Ngài, giải thoát cho Ngài, chứ đâu phải tu hành để cầu mọi người theo ḿnh. Sau khi tu hành chứng đạt chân lí, Ngài thấy ḿnh được giải thoát hoàn toàn, nên v́ ḷng thương chúng sanh mà đem giáo pháp dạy lại cho con người. Cho nên, ai theo Phật tu tập th́ Phật phải nhọc nhằn, không ai theo Phật tu tập th́ Phật thảnh thơi. C̣n Thầy th́ sao? Các con không tin, không theo Thầy tu hành th́ Thầy thảnh thơi. Danh lợi làm chi cho nhọc nhằn. Phải không con?

Hạt Cát, Thu Phương, Minh Điền, Mật Hạnh, Diệu Quang, đă vạch trần cái hiểu biết sai lầm của người khác, nhưng không có lời khuyên bảo như Nguyên Thanh nên không bị mọi người lên án ngă mạn cao.

Cuộc đời con luôn học đạo đức với Thầy mà lại nghĩ xấu về người khác, trong khi Phật dạy: “Thấy lỗi ḿnh không nên thấy lỗi người”. Thầy không có dạy con vạch lỗi người khác, thế mà con vạch lỗi, nói xấu người khác, trong khi Nguyên Thanh là một bạn gái đồng tu như các con; trong khi Nguyên Thanh chưa có một lỗi lầm nào với các con. Vậy mà các con nỡ ḷng nào nói những lời như vậy; trong khi Nguyên Thanh chỉ vâng lệnh, trả lời giúp Thầy, nhưng đều phải qua sự duyệt lại của Thầy. Các con chê bài viết của Nguyên Thanh là ngă mạn cao tức là các con cho Thầy là ngă mạn cao. Các con có hiểu không? Các con không kém ǵ số người ở hệ phái khác đă từng nói Thầy ngă mạn cống cao chê các Tổ.

Sau thời gian về đây tu tập, Thầy tưởng các con tu tập xả tâm tốt, nhưng không ngờ...

Mọi người đều nghi ngờ Thầy như các con th́ đạo đức nhân bản - nhân quả sẽ không có mặt trên thế gian này. Đạo đức nhân bản - nhân quả sẽ không có mặt trên thế gian này th́ mọi người sẽ t́m hạnh phúc trong sự làm khổ ḿnh, làm khổ người, và loài người sẽ đi về đâu!?  Các con có biết không?

KHẢ NĂNG LÀM VIỆC PHI THƯỜNG

Câu hỏi của N.C

Hỏi 4: Kính thưa Thầy! Tháng hè con ở tu viện Chơn Như thấy Thầy và cô Út làm việc vất vả cật lực thậm chí không có thời gian để nghỉ ngơi. Thầy từng nói thân Thầy cũng vô thường như thân con. Vậy sao Thầy và cô Út có khả năng làm việc phi thường đến như thế?

Đáp: Thầy và cô Út không có sức khoẻ phi thường như con nghĩ, Thầy và cô Út làm việc v́ lợi ích cho mọi người sống có đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người, nên vui vẻ. V́ thế mà việc làm khỏe hơn.

MANG LẤY NGHIỆP THẢM HẠI

Câu hỏi của N.C

Hỏi 5: Kính thưa Thầy! Những người về Chơn Như tu học có người thật sự nhiệt tâm tu, tu rất tốt nhưng lại không chứng quả A La Hán c̣n mang lấy nghiệp thảm hại. Thầy có thể nói rơ nguyên nhân để những người sau biết đường tu, tránh dẫm lên bước chân lầm lạc.

Đáp: Tại sao con hỏi như vậy? Có ư nghĩa ǵ? Những người về tu viện Chơn Như có người tu thật sự nhiệt tâm, tu rất tốt nhưng lại không chứng được quả A La Hán, c̣n mang lấy nghiệp thảm hại. Con hỏi như vậy có nghịch lư không con?

Tại sao tu thật nhiệt tâm, tu rất tốt nhưng không chứng quả A La Hán mà c̣n mang lấy nghiệp thảm hại?

Một câu hỏi không có lư, một người tu thật nhiệt tâm, tu rất tốt, ngay trong sự tu tập nhiệt tâm buông xả, rất tốt buông xả là đă chứng quả A La Hán ngay đó rồi, v́ nhiệt tâm và rất tốt buông xả th́ tham, sân, si đă quét sạch th́ quả A La Hán tại đó con ạ! Tâm c̣n tham, sân, si th́ c̣n mang lấy nghiệp thảm hại; tâm hết tham, sân, si th́ c̣n mang lấy nghiệp thảm hại chỗ nào được? Cho nên, tâm tham, sân, si sạch th́ quả A La Hán tại chỗ đó như đă nói trên.

Những người về tu viện Chơn Như tu tập xả tâm chưa sạch, nhưng vẫn làm muội lượt tham, sân, si. Tham, sân, si muội lượt th́ sự đau khổ cũng giảm rất nhiều và như vậy c̣n mang nghiệp thảm hại ở chỗ nào? Khi người ấy biết xả tâm.

Ở tu viện đâu có dạy trộm cướp, giết người mà phải mang lấy nghiệp thảm hại vào thân. Chỉ có những người về tu viện không tu tập dụm năm, dụm ba nói xấu người này, nói xấu người kia th́ phải mang lấy nghiệp thảm hại vào thân; chỉ có những người về đây tu tập kết phe, kết đảng, li gián, gây rối th́ những người này mới mang lấy nghiệp thảm hại vào thân.

Những ngày qua các con tu tập nói chuyện quá nhiều, nên mang lấy nghiệp thảm hại vào thân. Các con có biết không?

Nghiệp thảm hại là ǵ các con có biết không? Đó là những sự kiện xảy ra làm cho thân tâm bất an. Thân tâm bất an th́ tu hành rất khó khăn, có khi phải bỏ cuộc trở về thế tục.

Thầy rất đau xót khi thấy các con tập họp nhau nói chuyện th́ công lao dạy dỗ của Thầy như nước chảy qua cầu, c̣n ǵ nữa đâu. Phải không con ?

HAI TÂM ĐÓ CÓ KHÁC NHAU KHÔNG?

Câu hỏi của N.C

Hỏi 6: Kính thưa Thầy! Mục đích của người tu theo Thiền tông, để trở về với tâm Chân Như, c̣n tu theo pháp Nguyên Thủy của Thầy th́ sống với tâm bất động trước ác pháp, hai tâm đó có khác nhau không vậy Thầy?

 Đáp: Tâm Chân Như là tâm chẳng niệm thiện, niệm ác. Tâm chẳng niệm, thiện niệm ác là tâm tưởng không niệm. Tâm tưởng không niệm là tâm chẳng có ích lợi ǵ cho đời sống tu hành giải thoát của ḿnh, tâm Chân Như khi xả ra, trở lại tâm b́nh thường th́ tham, sân, si vẫn c̣n dẫy đầy, không muội lượt chút nào.

Ngược lại, tâm bất động Nguyên Thủy không có nghĩa là tâm không có niệm thiện, niệm ác. Tâm bất động Nguyên Thủy là tâm ly dục ly ác pháp, nên tâm tham, sân, si đều xả sạch; tâm bất động là tâm không có dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

DUY TR̀ TUỔI THỌ

Câu hỏi của N.C

Hỏi 7: Kính thưa Thầy! Nếu chưa đào tạo được A La Hán kế tiếp mà Thầy nhập diệt, con e rằng Chánh pháp sẽ bị d́m mất lần thứ 2. Thương chúng sanh đau khổ Thầy có thể nào duy tŕ tuổi thọ lâu dài hay hóa sanh trở lại tiếp tục dẫn dắt đàn con qua bờ bên kia không Thầy?

Đáp: Nếu mọi người về đây không lo tu tập xả tâm, thường phá hạnh độc cư, hội họp nói chuyện. Đó là phước báo của chúng sanh đă hết, không c̣n đủ duyên với đạo đức nhân bản - nhân quả, th́ Thầy đào tạo A La Hán làm chi nữa cho khổ nhọc. Viết sách đạo đức có lợi ích ǵ cho ai nữa. Trường hợp này Thầy sẽ đi ẩn bóng là vừa, và cũng là sự ra đi vĩnh viễn, để ngày mai có những vị Phật tương lai ra đời dạy họ tu tập tốt hơn.

GÓP PHẦN VÀO VIỆC GIỮ
G̀N VÀ XÂY DỰNG CHÁNH PHÁP

Câu hỏi của N.C

Hỏi 8: Kính thưa Thầy! Là đệ tử tại gia của Phật, chúng con cũng muốn đóng góp ḿnh cho việc giữ ǵn và xây dựng Chánh pháp. Chúng con có thể làm được những ǵ, nhất là trong thời c̣n Đại Thừa đang phát triển mạnh, ác pháp đang lan tràn, làm con người sống trong đảo điên tâm tưởng.

Đáp: Muốn góp phần vào việc giữ ǵn và xây dựng Chánh pháp th́ phải tu tập và giữ ǵn giới hạnh đúng pháp như trong những ngày Thọ Bát Quan Trai, rồi đem sự tu tập này áp dụng vào đời sống hằng ngày xả tâm để thực hiện đạo đức làm người sống không làm khổ ḿnh, khổ người. Đó là góp phần vào việc giữ ǵn và xây dựng Chánh pháp.

Muốn góp phần vào việc giữ ǵn và xây dựng Chánh pháp không phải ở chỗ xây dựng cơ sở, không phải ở chỗ in kinh sách nhiều mà ở chỗ mỗi người phải sống có đạo đức: đừng nói những lời li gián, đừng nói xấu người khác, đừng tranh chấp hơn thua, đừng v́ danh, v́ lợi mà v́ sống lợi ích cho ḿnh, cho người.

BẤT K̀ TÔN GIÁO NÀO ĐỀU CÓ
 NHỮNG LƯ LUẬN: “ĐÂY LÀ TRỰC ĐẠO,
ĐÂY LÀ CHÁNH ĐẠO…”

Câu hỏi của N.C

Hỏi 9: Kính thưa Thầy! Bất ḱ một tôn giáo nào, một hệ phái nào cũng đều có những lí luận chứng minh pháp môn ḿnh là đúng, là chân chánh. C̣n đối với pháp môn Nguyên Thủy của ta phải chăng cần thể hiện qua sự thực hành, qua gương hạnh sống hơn là lí luận phải không Thầy?

Đáp: Đúng vậy, thể hiện qua sự thực hành sống đức hạnh là cái gốc, nhưng đối với Phật giáo Nguyên Thủy th́ “Tri hành phải hợp nhất”. Cho nên, kinh sách Nguyên Thủy có những lư luận sắc bén dựng lên sự chân thật rơ ràng và cụ thể toàn diện sự thật của con người. C̣n các tôn giáo khác và các tư tưởng triết học đều có lư luận chứng minh những điều họ nói ra nhưng chỉ đúng một phần nào sự thật, chứ chưa toàn diện. Cho nên những lí luận của họ thiếu thực tế, không cụ thể, c̣n có kẽ hở, nên gặp người trí vạch ra th́ ai cũng nhận biết sự lí luận của họ c̣n ảo tưởng chưa như thật.

Phật giáo Nguyên Thủy lấy bốn sự thật của loài người chỉ rơ cho họ thấy, v́ thế nên không bị ảo tưởng, hư tưởng lừa đảo.

Các tôn giáo và các hệ phái và các triết học không dựa vào sự thật toàn diện mà lí luận nên thường bị tưởng tri xen vào khiến cho lí luận của các tôn giáo, các hệ phái và các triết học thành phiến diện có nhiều kẽ hở sai sự thật.

CON NGƯỜI KHỔ V̀ THIẾU
NỀN ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN - NHÂN QUẢ

Câu hỏi của N.C

Hỏi 10: Kính thưa Thầy! Ở trên đời có người khổ v́ vật chất, có người khổ về tinh thần. Nhưng con xét thấy người ta khổ chỉ v́ thiếu nền đạo đức nhân bản - nhân quả. Con nhận thấy như vậy có đúng không thưa Thầy?

Phải chăng chỉ có người sống đúng theo Phạm hạnh của Phật mới thoát khổ hoàn toàn.

Đáp: Đúng vậy, Ở trên đời có người khổ v́ vật chất, có người khổ về tinh thần, nhưng chỉ v́ thiếu nền đạo đức nhân bản - nhân quả mà chịu khổ như vậy. Con nhận xét như vậy rất đúng.

Muốn thoát khổ hoàn toàn th́ chỉ sống không làm khổ ḿnh, khổ người. Đạo Phật ra đời dạy người thoát khổ cũng là v́ mục đích này.

Chơn Như 13/7/2005

Kính ghi,

Thầy của các con

BÀI XIN SÁM HỐI CỦA N.C

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Kính bạch Thầy!

Sau khi đọc xong “Trả lời những câu hỏi của N.C” th́ chúng con đă hiểu và nhận ra cái sai của ḿnh. Con xin thành tâm sám hối với Thầy và cả với Nguyên Thanh.

Quả thật cả một cuộc đời con học đạo đức với Thầy vẫn được nhắc khuyên: “Thấy lỗi ḿnh đừng thấy lỗi người”. Nay v́ một phút nông cạn, thiếu nghĩ suy mà con đă quên đi lời dạy đó.

V́ chúng con hội họp nói chuyện phá hạnh độc cư nên bị cô Út kỷ luật đuổi ra khu ngoại trú và cũng từ bỏ phóng tâm chuyển sang phóng dật mà công phu tu tập của các con trong thời gian qua mất hết  “trở về con số 0”.

Chúng con chuốc lấy thảm hại vào thân chỉ v́ không vâng lời Thầy dạy.

Thầy đừng buồn, đừng chán nản các con mà ẩn bóng ra đi vĩnh viễn nghe Thầy!

Chúng con đang cần có Thầy, nói đúng hơn nhân loại đang cần có Thầy chỉ dạy nền đạo đức nhân bản - nhân quả để cuộc đời này vơi bớt những khổ đau.

Nếu không tin vào Thầy th́ con đâu phát nguyện đời này làm đệ tử của Thầy. Chúng con đă không có phước duyên sanh vào thời đức Phật, nhưng may thay có Thầy, bậc đoạn tận lậu hoặc, nếu không nương tựa vào th́ chúng con biết nương tựa vào ai để tu học chứng đạt giải thoát. Thầy chính là vị Minh Sư của các con, giới luật là Đạo Sư của các con.

Nếu con không nghe lời chỉ dạy của Minh Sư, không theo sự chỉ đường của Đạo Sư (giữ ǵn giới luật) th́ các con sẽ t́m cầu giải thoát trong sự khổ đau rồi đây cuộc đời sẽ ra sao??? Từng ḍng con viết lên đây là từng nỗi day dứt và hổ thẹn trong tâm con. Kính mong Thầy quán xét và từ bi cho chúng con được sám hối lỗi lầm.

Qua sự việc lần này con đă thấy được tầm quan trọng thiết yếu của hạnh độc cư khi tu tập theo pháp môn Nguyên Thủy.

Ngày mai con ra đời làm cô giáo sẽ luôn luôn khắc ghi lời dạy của Thầy: “Thấy lỗi ḿnh đừng thấy lỗi người. Đừng nh́n cuộc sống bằng sự đúng sai phải trái, mà hăy nh́n bằng đôi mắt nhân quả, thiện ác”.

Đó là phương châm xử thế, là cẩm nang giúp cho con vượt qua trở ngại cuộc đời.

Không bao lâu con sẽ trở về bên Thầy chính thức làm đệ tử xuất gia của Thầy. Con hứa từ đây về sau không dám coi thường giới luật, sai phạm giới luật, các con sẽ là những đứa con ngoan, không ngỗ nghịch làm buồn ḷng Thầy nữa đâu.

Thầy hoan hỷ tha thứ lỗi lầm cho chúng con nhe Thầy!

Chơn Như ngày 24/7/2005

Kính N.C

 

TB: Thầy ơi! Hồi nhỏ tới lớn con phạm lỗi nhiều lắm. Mỗi lần bị người ta trách mắng, con chỉ biết “xin lỗi” chứ không biết ghi bài sám hối.

Những ǵ con nói ra đây là sự hối hận thực tâm ngưỡng mong Thầy chấp nhận.

 

 

HẾT TẬP III

 

 

GIỚI THIỆU SÁCH

1.      Đường về xứ Phật (Mười tập, bộ mới).

2.      Những lời gốc Phật dạy (4 tập, bộ mới - 2011).

3.      Văn hóa Phật giáo truyền thống (2 tập, bộ mới - 2011).

4.      Đạo đức làm người (Tập I, II...).

5.      Cẩm nang tu Phật (Hai tập).

6.      Thiền căn bản.

7.      Hành thập thiện & Tứ vô lượng tâm.

8.      Những chặng đường tu học của người cư sĩ.

9.      Thời khóa tu tập trong thời đức Phật.

10. Giáo án rèn nhân cách lớp Ngũ Giới: Đức Hiếu Sinh (Tập I, II, III).

11. Giáo án rèn nhân cách lớp Ngũ Giới: Đức Ly Tham (Tập I...).

12. Giáo án rèn nhân cách lớp Ngũ Giới: Đạo Đức Gia Đ́nh (Tập I...).

13. Mười Đức Thánh Sa Di (Tập I, II).

14. Giới đức Thánh Tăng, Thánh Ni.

15. Định niệm hơi thở.

16. Phật giáo có đường lối riêng biệt.

17. Pháp môn niệm Phật tứ bất hoại tịnh

18. Nghi thức thọ trai.

19. Những lời tâm huyết...

20. Mười hai cửa vào đạo (2009).

21. Tạo duyên giáo hóa chúng sinh (mới 2009).

22. Ḷng yêu thương (2009).

23. Linh hồn không có (2010 quư I).

24.