VĂN HÓA PHẬT GIÁO

ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT

TẬP II

 

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Qúy bạn đọc có thể thỉnh sách tại TU VIỆN CHƠN NHƯ.

Ấn bản điện tử được đăng tải tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

BẬC A LA HÁN

Description: B_MONK1

Bậc A La Hán xuất hiện ra đời sẽ làm sống lại Giới luật qua Phạm hạnh của Người. V́ thế, đạo Phật c̣n là bậc A La Hán c̣n, đạo Phật mất là bậc A La Hán mất.

 

MỤC LỤC

Mục lục  1

Lời nói đầu. 2

Bức tâm thư. 5

Ḷng thương vô bờ bến của một vị thầy. 6

Tứ bất hoại tịnh. 8

Niệm phật 8

Niệm pháp. 9

Niệm tăng. 10

Niệm giới 10

Tu định hiện tại an lạc trú. 11

Định sáng suốt 12

Khi tu xong, c̣n  tham, sân, si nữa không?. 13

Phiền năo tức bồ đề. 14

Những pháp môn con ghi ra đây có đủ chưa?. 15

I- định vô lậu câu hữu ngũ uẩn. 15

Ii- định vô lậu câu hữu tứ niệm xứ. 17

Iii- định vô lậu câu hữu tứ chánh cần. 18

Iv- định vô lậu câu hữu nhân quả. 19

V- định vô lậu câu hữu tứ diệu đế. 19

Chân lí thứ nhất “khổ đế”. 19

Chân lư thứ hai “tập đế”. 22

Chân lư thứ ba “diệt đế”. 25

Chân lư thứ tư “đạo đế”. 25

Lớp thứ nhất: “chánh kiến”. 26

Lớp thứ hai: “chánh tư duy”. 27

Lớp thứ ba: “chánh ngữ”. 28

Lớp thứ tư: “chánh nghiệp”. 28

Lớp thứ năm: “chánh mạng”. 29

Lớp thứ sáu: “chánh tinh tấn”. 30

Lớp thứ bảy: “chánh niệm”. 31

Lớp thứ tám: “chánh định”. 31

Vi- định vô lậu  câu hữu tứ vô lượng tâm.. 33

Vii- định vô lậu  câu hữu tứ bất hoại tịnh. 33

Viii- định vô lậu  câu hữu định niệm hơi thở. 33

Ix- định vô lậu  câu hữu pháp bất tịnh. 33

X- định vô lậu câu  hữu thập nhị nhân duyên. 34

Tu bao lâu nữa mới diệt được tầm tứ. 34

Làm việc biết làm việc có xả tâm không?. 35

Không chống đối va chạm.. 35

Giáo án tu tập quá nhiều, không biết pháp nào tu cho kết quả?. 35

Sắc dục. 36

Cứu độ cha mẹ khi đă khuất bóng. 37

Bậc tu chứng khi nhập diệt có  dùng tha lực độ chúng sanh không?. 38

Thế giới siêu h́nh không có,  chỉ có thế giới tưởng. 38

Nhập tứ thiền có phải là a la hán không?. 39

Bồ tát quan thế âm.. 40

Chơn tâm.. 40

Tưởng uẩn. 41

Độ người 41

Ái kiết sử. 41

Sát sanh mà không tội 42

Đệ tử vi phạm nói xấu thầy tổ. 42

Chùa to phật lớn. 42

Nhục thân. 43

Văn thù sư lợi 44

Am thất 44

Giáo tŕnh tu tập bát chánh đạo. 44

Thần thông. 45

Hăy cảnh giác thần thông. 45

Tịnh chỉ hơi thở. 46

Không được nói người khác là sai 47

Tham danh. 48

Kinh sách là chiếc bè qua sông. 48

Tam minh. 48

Tu viện nuôi nhiều người 49

Thiện lai tỳ kheo. 49

Cáo lỗi 50

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Kính thưa các bậc Tôn Túc, Hoà Thượng, Thượng Toạ, Đại Đức, Tăng, Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử bốn phương.

Kính thưa quư vị! Bộ sách Văn Hóa Phật giáo Đường Về Xứ Phật tập 1 được Nhà nước cho phép in ấn và phát hành, khi nó đến tay quư vị, chắc chắn sẽ có những điều không vừa ư, mong quư vị niệm t́nh vui ḷng tha thứ cho.

Tập 2 sắp chào đời, với tập sách này chúng tôi thành tâm tha thiết, kêu gọi ḷng chân thành của quư vị, hăy hướng về chánh pháp của đức Phật.

Kính thưa quư vị! Từ xa xưa đến nay, các bậc Thầy Tổ của chúng ta, đang lầm lạc tu theo một giáo pháp không đúng của đạo Phật, mà cứ ngỡ tưởng rằng, ḿnh đang tu theo đúng giáo pháp chân chánh của đức Phật. Tại sao lại lầm lạc như vậy?

V́ không có người tu chứng hướng dẫn, nên cứ tự ḿnh, dựa vào kinh sách phát triển của một số hệ phái, do kiến tưởng giải của các Tổ xưa biên soạn ra, mà tu tập hoặc tu theo những sự hướng dẫn của Thầy Tổ đang tu tập chưa chứng đạo.

Giáo pháp chân chánh của đạo Phật, không bao giờ dùng những danh từ trừu tượng, rất kêu như: “Chân Không, Phật Tánh, Bản lai diện mục, Cực Lạc, Thiên Đàng v.v..”. Đó là những danh từ trừu tượng để lừa đảo tín đồ.

 Giáo pháp chân chánh của đạo Phật, luôn luôn chỉ thẳng, nói thật, nói những pháp hành cụ thể, thực tế, rơ ràng như: “Ngăn ác, diệt ác pháp, sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp” hoặc “Không nên làm các pháp ác, nên làm các pháp thiện”. Cho nên, giáo pháp của Phật không bao giờ nói sai sự thật, luôn luôn nói đúng đạo đức nhân bản - nhân quả của con người, để mọi người hiểu biết rơ ràng và tự sửa sai những điều lầm lỗi, những điều làm không đúng theo đạo đức làm Người, làm Thánh. V́ đạo Phật đă xác định Thánh nhân không phải ngoài con người, ngoài con người không thể t́m có Thánh nhân được. Cho nên, giáo pháp của đức Phật là một giáo pháp không trừu tượng, ảo tưởng, không mê tín, dị đoan, phi đạo đức, v.v.. Ngược lại, những giáo pháp mà Thầy Tổ của chúng ta đang tu theo, nó để lại một rừng kinh sách toàn là những loại giáo pháp trừu tượng, ảo tưởng, mê tín, dị đoan, phi đạo đức v.v.. để lừa đảo tín đồ. Lần lượt, chúng tôi sẽ lật tẩy bộ mặt lừa đảo gian dối của những kinh sách này, để quư vị suy ngẫm. Nó đă giết chết Thầy Tổ của chúng ta bao đời, bao kiếp, kéo dài từ thế kỷ này, đến thế kỷ khác và nó c̣n tiếp tục giết hại, những tư tưởng, thế hệ tuổi trẻ con em của chúng ta ngày mai.

Một giáo pháp phi đạo đức, mơ hồ, trừu tượng, mê tín, lạc hậu mạo danh là Phật giáo. Giáo pháp ấy, c̣n mang những cái tên rất kêu “Đại Thừa, Tối Thượng Thừa, Phật Thừa”. Với những danh từ vĩ đại này, có mục đích để d́m Phật giáo chân chánh Nguyên Thủy xuống, ở góc độ nhỏ hẹp “Tiểu Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa”, rồi lần lượt, biến dần giáo pháp chân chánh của đạo Phật, thành tà giáo ngoại đạo, để dễ bề đưa giáo pháp của ḿnh ra lừa đảo, lường gạt tín đồ Phật giáo. Thầy Tổ của chúng ta, từ xa xưa đă bị các pháp môn này lừa đảo, họ đều là nạn nhân của những giáo pháp này.

Kính thưa quư vị! Những bậc Thầy Tổ, Tôn Túc xa xưa của chúng ta, đă tu hành, lầm đường lạc lối theo những giáo pháp phát triển này, nên kết quả tu hành chẳng ra ǵ, chỉ sống trong một giấc mơ thế giới siêu h́nh Phật Tánh, Niết Bàn, Cực Lạc, v.v.. Để lừa đảo mọi người bằng những lời an ủi suông trong kinh sách này: “Tu hành phải vô lượng kiếp mới thành Phật”. Do bị lừa bởi những câu nói quá siêu, nên vô t́nh các Ngài trước tác những kinh luận để ca ngợi xiển dương, xương minh giáo pháp không đúng của đạo Phật lên tận mây xanh, khiến cho người sau, càng lầm đường lạc lối hơn, từ đời này sang đời khác, cứ bổn cũ các Ngài thuyết đi thuyết lại măi, mà chẳng có ai tu được những ǵ. V́ thế, kinh sách phát triển để lại cho chúng ta rất nhiều, nhiều như rừng, như biển, nhưng toàn là những thứ kinh sách trừu tượng, ảo giác, mê tín, phi đạo đức, thiếu thực tế, không cụ thể, như trên đă nói, phần nhiều là lư thuyết suông rỗng tếch, chẳng nói lên được một đạo đức làm Người, làm Thánh và chẳng nói lên được một pháp hành cụ thể lợi ích như thế nào cho bước đường tu hành của mọi người, chỉ toàn hướng dẫn tụng kinh, niệm chú, niệm danh hiệu Phật, cầu siêu, cầu an, cúng sao giải hạn, trừ tà yểm quỷ, ngồi thiền tưởng, v.v.. Đó toàn là những pháp hành mê tín, lừa đảo, phi đạo đức.

Kinh, sử, sách phát triển là một loại kinh đại vọng ngữ huyễn hóa. Nói về lịch sử của đức Phật th́ thần thánh hóa đức Phật như một vị Thánh: “Khi đức Phật vừa sanh ra đi bảy bước, có bảy hoa sen đỡ chân, và tay chỉ trời chỉ đất bảo: “Thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn”. Làm ǵ một đứa bé mới sinh ra đi được, nói được, điều này không bao giờ có. Phải không thưa các bậc tôn túc? Vả lại, một đứa bé mới sinh ra mà nói được câu kệ này th́ làm ǵ phải sáu năm khổ hạnh trong rừng già “sống mà như chết”, khổ hạnh tận cùng để mong cầu sự giải thoát.

C̣n các Tổ tu hành th́ sao? Lục Tổ sinh ra th́ ánh sáng đầy trời, ném b́nh bát thu rồng: “Phóng hào quang, biến hóa, tàng h́nh, biết chuyện quá khứ vị lai, thu thần, nhập diệt, tự tại sanh tử, v.v..”. Đó là những tṛ ảo thuật lừa đảo bằng tưởng lực để cho những người chưa chứng đạo, chưa rơ Phật giáo Nguyên Thủy nên mới tin theo, c̣n những người biết rơ Phật giáo th́ họ cho đó là thủ đoạn lừa đảo của những người buôn thần bán Thánh, mượn đạo tạo đời.

Thưa các bạn! Kinh, sách, sử của giáo pháp phát triển nói như vậy, nhưng có vị Thầy Tổ nào đă làm được như vậy đâu? Trước mắt chúng ta, khi sắp chết Thầy Tổ nào cũng bị bệnh, đau đớn, khổ sở đi đứng không được, bán thân nằm liệt một chỗ, thọ biết bao nhiêu là cay đắng của cuộc đời tu hành của ḿnh, có nghĩa là cũng c̣n tâm tham, sân, si, giận hờn, phiền năo, đau khổ, v.v.. đến giờ phút cuối cùng, th́ ô hô! Khi biết tu hành sai pháp, mạng căn không c̣n nữa, đó là những vị c̣n tỉnh táo, nhưng có những vị tới giờ phút lâm chung mà c̣n chưa biết ḿnh tu sai pháp, c̣n đang sống trong mơ, một giấc mơ trong mê hồn trận thế giới siêu h́nh Cực Lạc Tây Phương, Phật Tánh, v.v.. Nhất là những vị tôn túc có được nhiều tín đồ biết danh, lại chết trong đau khổ kinh khủng. Vậy mà, c̣n chưa biết ḿnh tu sai pháp. Chính chúng tôi đă chứng kiến những sự việc này.

 C̣n những Thầy Tổ xa xưa cách đây từ mười bảy, mười tám thế kỷ th́ chúng ta không biết họ thu thần nhập diệt như thế nào? Trong những kinh sách của họ, không có nói cách thức thu thần nhập diệt rơ ràng cụ thể như đức Phật, họ chỉ dùng những danh từ thu thần nhập diệt suông, theo lối lừa đảo. C̣n ngược lại, trong kinh Nguyên Thủy khi đức Phật thu thần nhập diệt tự tại sanh tử một cách rơ ràng và cụ thể như trong kinh Niết Bàn thuộc hệ thống Trường Bộ kinh trong tạng kinh Nikaya. Khi đức Phật nói lời di chúc cuối cùng, liền vào định Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, nhập đi nhập lại ba lần rồi Ngài nhập Tứ Thiền, ra Tứ Thiền, xả bỏ báo thân, nhập vào Niết Bàn.

Hành động nhập bốn thiền, nhập đi nhập lại ba lần đến Thiền Thứ Tư th́ đức Phật xả bỏ báo thân một cách tự tại trong sanh tử rơ ràng và cụ thể, đó là lời di chúc không lời cuối cùng đối với người đời sau, cho nên không c̣n ai dám phỉ báng, bài bác Bốn Thánh Định của Phật giáo là mơ hồ trừu tượng dối gạt người như các loại thiền khác thường nói suông thu thần nhập diệt rất mơ hồ trừu tượng bằng những lời lẽ để lừa đảo Thầy Tổ của chúng ta, và bây giờ cả chúng ta nữa. Do tin những giáo thuyết này mà chúng ta tu chết người, tu căng mặt, căng mày, nặng đầu, tức ngực, đau lói bên hông và đôi khi bị rối loạn thần kinh sanh ra điên khùng, mất trí v.v..

Những Thầy Tổ xa xưa của chúng ta, tu hành giải thoát như thế nào? Chúng ta không thấy được, chỉ nghe thấy trong kinh sách nói lại mà thôi, c̣n những Thầy Tổ hiện tại trong thời của chúng ta, nên chúng ta đă trực tiếp nghe, thấy sự sống và chết của các Ngài rất rơ ràng như trên đă nói.

Thứ nhất, cuộc sống tu hành của các Ngài tâm tham, sân, si, mạn, nghi chưa hết, v́ thế ḷng sân không kém ǵ người thế tục.

Thứ hai, vị Ḥa Thượng nào đến khi chết cũng bệnh tật chịu nhiều sự khổ đau nằm trên giường bệnh ít nhất cũng là sáu tháng c̣n không th́ cũng đôi ba năm liệt giường, liệt chiếu bài tiết và ăn uống có một chỗ. Cuộc đời tu hành của Thầy Tổ chúng ta quá khổ đau như vậy.

Kính thưa các bậc Tôn Túc, quư vị Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử bốn phương.

Kính thưa quư vị! Đó là một bằng chứng hiển nhiên mà quư vị hăy kiểm chứng lại xem có phải đúng giáo pháp phát triển đă lừa đảo và giết chết Thầy Tổ của chúng ta, một cách khổ đau vô cùng tận không? Khi mà Thầy Tổ của chúng ta hết sức tin tưởng tu hành, với những pháp môn này không dám biếng trể.

Gương tu hành, việc làm Phật sự của Thầy Tổ rất nhiệt tâm và cuối cùng sự sống chết của các Ngài như vậy, chúng ta đừng che giấu, mà hăy thành thật nói lên sự thật để người sau biết rơ giáo pháp phát triển là một thứ giáo pháp lừa đảo thật sự, tu hành chẳng đi về đâu được cả, chỉ v́ danh, lợi mà người trước dối người sau, người sau dối người sau nữa và cứ như vậy trải qua trên hai mươi lăm thế kỷ nay Thầy Tổ của chúng ta chưa có ai làm chủ được sự sống chết như đức Phật, cũng chỉ v́ tu sai lầm pháp môn của ngoại đạo, của tưởng giải, của các học giả.

Kính thưa quư vị! Hiện giờ quư vị là những bậc Thầy Tổ của Tăng Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử bốn phương. Qúi vị hăy xem lại thân tâm của ḿnh, tuổi đạo trên bốn, năm chục năm và hiện giờ có vị đă bảy tám mươi tuổi đời, chức vụ làm Tăng Thống, Phó Tăng thống, Viện Chủ, Viện Trưởng, v.v.. đă làm chủ thân tâm được những ǵ trong bốn sự đau khổ của kiếp làm người: sanh, già, bịnh, chết.

Sanh, tức là đời sống, quư vị làm chủ được những ǵ? Có hết tham, sân, si chưa? Nếu bảo rằng hết tham, sao quư vị c̣n ăn uống phi thời, c̣n thích ở chùa to tháp lớn? Sao không sống thiểu dục tri túc, ba y một bát, đi xin ăn từng nhà, mặc y áo phấn tảo, vải bỏ của thiên hạ như đức Phật ngày xưa, như vậy mới gọi là hết tham.

Sân, tức là ḷng căm giận, nếu bảo rằng quư vị hết sân th́ điều này quư vị tự biết hơn ai hết, nhưng khi gặp chướng ngại pháp, sao quư vị lại đỏ mặt tía tai la hét dữ vậy.

Già, tức là cơ thể cằn cỗi, lụm cụm tay chân run rẩy và sức lực yếu đuối, da nhăn nheo, mặt gầy, nếu quư vị đă nhập vào tâm bất động hay định Nhị Thiền th́ quư vị nhận rất rơ nhân quả vô thường không c̣n tác động làm sắc thân của quư vị yếu đuối, lụm cụm, run rẩy, đi đứng không vững vàng rất cụ thể và rơ ràng, c̣n chưa nhập được th́ quư vị như người mù chẳng biết màu sắc ra sao cả, chỉ biết có một màu đen sâu thẳm như trong đêm tối.

Bệnh, tức là đau nhức của cơ thể, chắc chắn quư vị sẽ không thể tránh khỏi những khổ đau này và quư vị cũng không che giấu được ai cả, ngay bây giờ cơ thể của quư vị bệnh đau rề rề, nay bệnh này, mai bệnh khác, nay nhức chỗ này, mai đau chỗ kia. Hiện giờ, sắc thân của quư vị sống bằng thuốc thang, bằng gạo lứt muối mè, bằng nhịn ăn tiết thực, lúc nào cũng chích thuốc và châm cứu, bấm huyệt, cạo gió, tập thể thao, dưỡng sinh và tập luyện thiền yoga. Nhất là cố gắng ăn nhiều bữa để cơ thể có đủ chất dinh dưỡng, ngơ hầu sống thêm được ngày nào tốt ngày nấy. Thật sự, tu hành như vậy là hèn nhát, không xứng đáng là đệ tử của đức Phật.

Chết, tức là cơ thể không c̣n hoạt động, không c̣n thở, nếu quư vị không nhập được Tứ Thiền, tịnh chỉ hơi thở th́ khó mà quư vị làm chủ được sự sống chết này.

Kính thưa quư vị! Quư vị đă từng theo giáo pháp phát triển tu tập, quư vị đă làm chủ được một trong bốn sự đau khổ trên đây chưa?

Nếu chưa làm chủ được một trong bốn sự đau khổ này, th́ quư vị phải sáng suốt, đừng v́ một lư do nào cả, mà hăy v́ mọi người trên hành tinh này mà vạch trần sự thật để cho mọi người khỏi tốn công, tốn sức, tốn của cải tài sản, tốn công lao tu tập, tốn tiền bạc in kinh sách phát triển, nó chẳng ích lợi ǵ cho đời mà c̣n có hại cho con người, v́ giáo pháp này dạy cầu tha lực, do đó tu sĩ không c̣n sức tự lực, lúc nào cũng cầu cạnh, van xin cúng tế, v.v.. Kinh sách phát triển lừa đảo con người bằng mọi h́nh thức trừu tượng, mê tín, huyễn thuật, dị đoan, chỉ có tín đồ Phật giáo phải gánh chịu mọi sự khổ đau này.

Chúng tôi tin chắc rằng, quư vị tu theo giáo pháp phát triển không bao giờ làm chủ được bốn sự đau khổ này, mà chính quư vị không đủ can đảm nói thật ra mà thôi, nhưng chính không đủ can đảm nói thật ra th́ quư vị đă tự làm khổ ḿnh và c̣n làm khổ bao nhiêu người khác nữa, không những làm khổ ḿnh, khổ người khác mà c̣n giết chết Phật giáo, giết chết nền đạo đức nhân bản – nhân quả của đạo Phật. Dù quư vị cố giữ bí mật không nói ra, nhưng sự sống của quư vị phá giới, phạm giới là một chứng minh hùng hồn là quư vị chưa làm chủ sự sống, chưa làm chủ được sự sống th́ chứng tỏ quư vị không thể nào làm chủ được sự chết, bằng chứng cụ thể là khi quư vị chết, chết trong bệnh tật trong đau khổ. Đó là những hiện tượng mà quư vị không làm sao che giấu được tín đồ và những người khác.

Chúng tôi biết rất rơ, quư vị thuyết giảng rất hay, nhưng lời nói không đi đôi với tâm giải thoát của quư vị, v́ thế quư vị nên tự xét, đừng bắt chước Thầy Tổ của chúng ta nói một điều không thật, nói một điều mà làm một ngả không nhất quán.

Giáo pháp phát triển, dù quư vị có tu trăm muôn ngàn kiếp th́ quư vị cũng chẳng bao giờ làm chủ bốn sự đau khổ này được, chỉ uổng công mà thôi, v́ nó là giáo pháp thuộc về hư luận, chứ không phải giáo pháp để tu hành giải thoát “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Đó là lời nói trừu tượng, không xác quyết, có là có, không là không. Hiện giờ, có là nói có, lát nữa không th́ nói không, thời gian có hiện tại, quá khứ và vị lai rơ ràng, thời gian nào là nói theo thời gian nấy, dù là một sát na (nháy mắt) chứ đâu nói, có là không, không là có, đó là một sự lừa đảo lường gạt người, theo hư luận của Ngài Long Thọ, trườn uốn như con lươn.

Kính thưa quư vị! Hôm nay tập 2 Văn Hoá Phật giáo Đường Về Xứ Phật ra đời chúng tôi thành tâm kêu gọi quư vị Tôn Túc, Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử bốn phương. Hăy mạnh dạn đứng lên, nói sự thật về các loại kinh sách này như Thiền Sư Thường Chiếu, Ḥa Thượng Minh Châu, cư sĩ Trùng Quang và một vị sử gia Phật giáo Thái Lan tên là Thitanàna Thero biên soạn cuốn Phật giáo Sử do Sư Giác Nguyên dịch ra Việt ngữ, v.v..

Những lời nói của các vị là vạch trần những điều tội lỗi, của kinh sách phát triển mà lịch sử đă c̣n ghi lại nhiều thủ đoạn gian ác của Bà La Môn giáo và của những người v́ danh, v́ lợi đă nỡ tâm muốn diệt Phật giáo, diệt một nền đạo đức nhân bản – nhân quả của loài người mà chính Phật giáo mới có. Một nền đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ ḿnh khổ người, có lợi ích cho con người trên hành tinh này rất lớn.

V́ thế, chúng tôi kêu gọi quư vị Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni và nam, nữ cư sĩ Phật tử bốn phương. Hăy v́ sự trường tồn của Phật giáo và nền đạo đức nhân bản – nhân quả của con người trên hành tinh này, quư vị hăy nói sự thật và cùng với chúng tôi dựng lại những ǵ của Phật giáo đă bị kinh sách phát triển ném bỏ từ lâu. V́ Phật giáo, v́ loài người chúng ta hăy đứng lên, chung lưng đấu cật, quyết tâm quét sạch những tà giáo ngoại đạo đang mượn danh Phật giáo, đang làm những việc mê tín, lừa đảo, lường gạt mọi người, tiền mất tật mang mà chẳng có ích lợi ǵ cho ai cả, chỉ làm giàu cho bọn tà sư đội lốt Phật giáo.

Hỡi quư Ḥa Thượng, Thượng Tọa Đại Đức, Tăng, Ni và nam, nữ cư sĩ Phật tử bốn phương. Hăy nhận định sáng suốt đâu là chánh pháp của đạo Phật, đâu là tà pháp của ngoại đạo, mạnh tay dẹp bỏ những hư luận của Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mă Minh, v.v..

Những hư luận này chẳng ích lợi ǵ cho người tu, nó chỉ để cho những người kiêu căng, tự đắc lạm dụng, để hư luận làm tṛ tranh luận hơn thua, với những người c̣n tham danh đắm lợi ở thế gian (Lối lư luận trừu tượng, nhưng không tu hành được, đó là đại vọng ngữ lừa đảo của các vị Tổ Sư này). Tổ Sư Tử chịu chết một cách rất oan uổng, cũng v́ những luận này “Ngũ uẩn giai không”.

Kính thưa các bậc Tôn Túc, Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni và nam, nữ cư sĩ Phật tử bốn phương!

Nếu quư vị cứ theo vết chân của các vị Tổ Sư này, th́ tất cả tu sĩ của Phật giáo sẽ chạy theo danh và lợi của thế gian th́ đức hạnh làm Người, làm Thánh sẽ không c̣n nữa và như vậy muôn đời Phật giáo chỉ là tấm bia để cho người đời phỉ báng mà thôi.

Kính thưa quư vị! Người ta đă châm biếm Phật giáo quá nhiều, khiến cho những tu sĩ thế hệ trẻ mặc cảm với chiếc áo tu sĩ Phật giáo, rất đáng thương… Nếu quư vị không thẳng thừng, quét sạch những tà giáo ngoại đạo đang ẩn núp trong Phật giáo, để làm tốt lại Phật giáo mà cứ theo lối ṃn của các Tổ, th́ chắc chắn Phật giáo sẽ bị diệt vong.

Kính thưa quư vị! Khi đọc bộ sách 10 tập Văn Hoá Phật giáo Đường Về Xứ Phật xong, quư vị hăy b́nh tâm mà suy ngẫm những lời nói của chúng tôi, có đúng hay là sai, các Tổ có phải là những người đáng cho chúng ta tin tưởng, đầu đội vai mang hay không?

Theo chúng tôi thiết nghĩ, đức Phật là một con người hoàn hảo, Ngài biết những lời nào Ngài dạy cho chúng ta là vừa đủ, để con người không làm khổ ḿnh, khổ người nữa, lời nói của Ngài không thừa không thiếu. Một hôm, Ngài nắm trong tay một nắm lá cây và hỏi chúng Tỳ kheo: “Nắm lá cây trong tay Ta, có nhiều bằng rừng lá cây hay không?

Chúng Tỳ kheo trả lời: “Bạch Thế Tôn! nắm lá cây trong tay của Thế Tôn quá ít so với rừng lá cây quá nhiều”.

Đức Phật nói tiếp: “Pháp Ta chứng như rừng lá cây, nhưng Ta dạy các ngươi tu tập như nắm lá cây trong tay”. Tại sao vậy?

“V́ sự hiểu biết của các người có giới hạn, nên Ta dạy những điều cần thiết vừa đủ để các người đạt đến mục đích giải thoát sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi”.

Bốn mươi lăm năm thuyết pháp độ chúng sanh, đức Phật đă trang bị cho chúng ta vừa đủ những pháp hành để tu tập đi đến giải thoát, cho nên những ǵ lư luận cao siêu th́ đức Phật cho đó là tưởng tri, hư luận để làm giàu cho sự tranh luận hơn thua, không nhằm mục đích giải thoát. Những điều đó, không ích lợi cho ḿnh cho người, mà c̣n sanh oán thù và làm mất th́ giờ vô ích, thế mà người sau muốn triển khai cái rừng lá cây của đức Phật đă chứng, như Tổ Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Mă Minh, v.v..V́ thế, đẻ ra triết lư Chân Không, mục đích của Long Thọ là đập phá luôn chân lư Khổ, Tập, Diệt, Đạo của đạo Phật để giáo pháp Bát Nhă Ba La Mật của ḿnh, một triết lư ảo tưởng để trở thành một chân lư duy nhất, không c̣n một chân lư nào hơn được, v́ thế Thầy Tổ của chúng ta quá phục lăn chân lư ấy, nên xúm nhau triển khai trí tuệ Bát Nhă “Chân Không”. Từ triết lư Chân Không, sản xuất ra Thiền Tông, khiến cho người đệ tử Trung Hoa đầu tiên của giáo phái này, bị tàn tật cụt một cánh tay, v́ cầu pháp và chết một cách oan uổng, đó là cái thấy tưởng tri của các Tổ đă giết người, chứ không phải là liễu tri để cứu người. Từ đây, nó mang đến những tai hại cho con người biết dường nào, bao nhiêu tu sĩ hủy hoại một phần cơ thể để cầu pháp Chân Không như trong kinh Pháp Hoa đă dạy: “Lấy toàn thân hoặc hủy hoại một phần cơ thể để cúng dường chư Phật cầu pháp”. C̣n cái thấy của đức Phật th́ không giống như cái thấy của các Tổ, cái thấy không tưởng tri, cái thấy không vọng ngữ nói láo, không dựng lên cái không có mà thành có như các Tổ: “Này các Tỳ Kheo cái ǵ trong toàn thế giới… được thấy …được ư tư duy và quan sát, Ta được rơ biết như sau: “Tất cả đều được Như Lai biết đến, Như Lai không có dựng đứng lên cái mới”. Lời xác định này của đức Phật rất rơ ràng, đức Phật không có dựng lên một cái ǵ ḱ đặc mới mẻ. Đọc kinh sách phát triển, chúng ta thấy các Tổ thường hay dựng lên những pháp môn mới lạ ngoài sự hiểu biết của trí hữu hạn của con người, nên thành ra pháp tưởng, mà pháp tưởng là pháp không có thật.

Chúng ta hăy nghe tiếp đức Phật nói: “Này các Tỳ kheo, nếu Ta nói rằng: “Ta biết tất cả, cái ǵ trong toàn thế giới… được thấy … được ư tư duy và quan sát”. Như vậy là có nói láo trong Ta. Nếu Ta nói như sau: “Ta nói cả hai, biết và không biết”.Như vậy là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: “Ta không biết và cũng không phải không biết”. Như vậy là có nói láo trong Ta. Và như vậy là có lỗi trong Ta”.[1]

Lời dạy trên đây của đức Phật đă xác định những kinh sách luận của các Tổ “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” là nói láo lừa đảo tín đồ. Cho nên, kinh sách của đức Phật, không có lư luận cao siêu ngoài sức hiểu biết của con người. Kinh sách của đức Phật, không có bài kinh nào dạy trừu tượng, mơ hồ như lư luận của các Tổ.

Chúng ta hăy đọc tiếp bài kinh Kàlaka: “Này các Tỳ kheo, Như Lai là vị đă thấy những cái ǵ cần thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đă được thấy, không có tưởng tượng những cái ǵ không được thấy, không có tưởng tượng những ǵ cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Đă nghe những cái ǵ cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đă được nghe, không có tưởng tượng những cái ǵ không được nghe, không có tưởng tượng những ǵ cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe. Đă cảm giác những ǵ cần cảm giác, nhưng không có tưởng tượng điều đă được cảm giác, không có tưởng tượng những cái ǵ không được cảm giác, không có tưởng tượng những ǵ cần phải cảm giác, không có tưởng tượng đối với người cảm giác. Đă thức tri những cái ǵ cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đă được thức tri, không có tưởng tượng những cái ǵ cần phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri. Như vậy này các Tỳ kheo, Như Lai đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, nên vị ấy là như vậy. Lại nữa hơn người là như vậy, không có ai khác tối thượng hơn và thù thắng hơn, Ta tuyên bố như vậy”.

Bài kinh này, đức Phật đă xác định rơ ràng những ǵ đức Phật dạy, đều là thực tế, cụ thể không có tưởng tượng, c̣n kinh sách phát triển, đều dạy tưởng tượng quá nhiều, cho nên người ta gọi kinh sách phát triển là kinh tưởng. Luận của các Tổ đều nằm trong trong tưởng tượng mà ra. Trong bài kinh Kàlaka đức Phật chỉ rơ cho chúng ta thấy kinh tưởng là kinh nói láo, nên Thầy Tổ của chúng ta tu hành hết sức mà chẳng được những ǵ, toàn là thứ ảo giác.

Tổ Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Mă Minh, v.v.. các Ngài là cha đẻ của những chân lư tưởng, nên chân lư của các Ngài siêu tưởng và chân lư ấy sẽ áp dụng vào thế giới tưởng th́ rất phù hợp, c̣n ở cảnh thế gian của loài người th́ nó là một chân lư ngụy, lừa đảo mà đức Phật bảo là “nói láo”.

Theo chúng tôi nghĩ, con người trên hành tinh này chỉ có một chân lư không thể có hai ba chân lư mà được, cho nên chân lư của đạo Phật đưa ra khổ, tập, diệt, đạo mà mọi người trên hành tinh này, đều công nhận là đúng, mà đúng thật như vậy, cho nên nó không c̣n có một chân lư thứ hai nào được xen vào cái thế giới của loài người này được nữa.

Do hư luận của Ngài Long Thọ lừa đảo thiên hạ, khiến cho tín đồ Phật giáo quên đi nguồn gốc Nguyên Thủy của đạo Phật, đánh mất một nền đạo đức nhân bản – nhân quả làm người, không làm khổ ḿnh, khổ người. Thật là quá uổng!

Cuối cùng, những tín đồ Phật giáo chạy theo miệng lưỡi của Long Thọ, chẳng có người nào làm chủ sanh, già, bệnh, chết được, thường chết trong bệnh tật đau khổ để cho tín đồ mục kích thấy được “Chân Không” của Long Thọ, nó không có không đâu? Mà c̣n phải trải qua nhiều đời kiếp thọ tội vọng ngữ tưởng tri Chân Không, v́ tội lừa đảo, đă giết biết bao nhiêu tín đồ Phật giáo từ khi có Chân Không của Long Thọ ra đời.

Cho nên, Thầy Tổ của chúng ta sống theo danh lợi, thường phạm giới phá giới, bẻ vụn giới. Có ai chỉ trích lỗi th́ dùng ngôn ngữ của Long Thọ che đậy, bưng bít để tự tại sống theo dục lạc thế gian mà không ai phê phán được. Ông Long Thọ là một người diệt đạo Phật đệ nhất, hơn các vị Tổ Sư khác, c̣n Thầy Tổ của chúng ta chỉ là những người bắt chước, vô t́nh nối giáo cho Long Thọ diệt Phật giáo mà thôi. Người xưa nói sao th́ Thầy Tổ của chúng ta nói vậy, thậm chí c̣n không dám nói sai lời của các ông ấy, và cũng không bao giờ dám nói xúc phạm với những con người độc ác này, Thầy Tổ của chúng ta xem các vị Tổ Sư này c̣n hơn là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Có người bảo rằng: “Một tôn giáo được hoàn chỉnh đều phải nhờ vào các tông đồ”. Điều này đúng, nhưng đúng với các tôn giáo khác như: Thiên Chúa, Hồi Giáo, Khổng Giáo, Lăo Giáo v.v.. c̣n không đúng với Phật giáo. Tại sao vậy?

V́ các tôn giáo khác, người sáng lập ra tôn giáo đó, chưa phải là người hoàn chỉnh, nên phải nhờ đến những đệ tử ưu tú của ḿnh, sau này mới hoàn chỉnh giáo pháp như: Khổng Giáo, Lăo Giáo, Thiên Chúa Giáo như trên đă nói v.v.. đều phải nhờ vào các tông đồ thêm bớt mới hoàn chỉnh được Thánh kinh, c̣n ngược lại Phật giáo, nếu có vị Tổ Sư nào, dám cả gan chỉnh đốn giáo lư của đạo Phật th́ sẽ liền biến thành một tôn giáo mới, một tôn giáo ngoại đạo mang bản chất vay mượn tà giáo, bằng chứng chúng ta đă thấy Tổ Long Thọ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma và c̣n nhiều vị Tổ khác nữa đă biến Phật giáo thành một thứ tà giáo ngoại đạo khác biệt với Phật giáo Nguyên Thủy. Cho nên, giáo lư của các Tổ là giáo lư vay mượn của Bà La Môn Giáo thuộc hệ thống kinh Vệ Đà. V́ thế, các Tổ không phải là người hoàn chỉnh Phật giáo mà là phá hoại Phật giáo, đưa Phật giáo đi đến suy thoái và biến tu sĩ Phật giáo thành trùng trong lông sư tử, và thứ loại vi trùng độc này, đă giết Phật giáo chết. Chính hiện giờ, những tu sĩ Phật giáo phạm giới, phá giới này là những loại vi trùng độc của đạo Phật, cho nên Phật giáo hiện giờ đă chết thật, chết v́ những loại vi trùng này.

Kính thưa quư vị! Chúng tôi hy vọng rằng, quư vị là những người có tâm huyết với Phật giáo, có cái nh́n thấu suốt, đâu là chánh pháp của Phật và đâu là tà pháp của ngoại đạo. Như chúng tôi đă nói ở trên, đức Phật là một con người hoàn chỉnh, do sự tu hành đạo đức nhân bản - nhân quả (tâm không phóng dật), Ngài đă chứng được trí tuệ siêu việt, Ngài biết sử dụng trí tuệ ấy, để dạy con người trên hành tinh này, với một giáo pháp vừa đủ, không thiếu mà cũng không thừa, để con người lấy đó làm thầy, làm chỗ nương tựa, vững chắc tu hành sau này.

Nếu giáo pháp của Ngài, c̣n thiếu mà các Tổ sau này bổ sung thêm, th́ Ngài đâu dám di chúc: “Này các Tỳ Kheo, khi Ta diệt độ, các Thầy hăy lấy giới luật và giáo pháp của Ta làm Thầy, làm chỗ nương tựa tu hành”. Cho nên, người đời sau không biết, lấy các Tổ làm Thầy (33 vị Tổ Sư Thiền Tông Ấn Độ và Trung Hoa), đó là làm sai với lời di chúc của đức Phật. Họ cứ dựa theo lời của các Tổ mà tu hành thành ra phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới, v́ thế tâm không ly dục, ly ác pháp nên phần nhiều nhập vào các loại định tưởng, thuộc về thiền định của ngoại đạo, cho nên, tu sĩ Phật giáo tu măi mà chẳng ra ǵ, thiền định nhập măi cũng không được, mà đức hạnh cũng không có, chỉ có giỏi thuyết giảng bằng miệng lưỡi lừa đảo, nói láo, lường gạt thiên hạ, khiến cho những người tu sĩ tu hành dỡ sống dỡ chết mà thôi.

Bởi, giáo pháp của đức Phật là một giáo pháp hoàn chỉnh cho Trời, Người tu hành, cho nên kẻ nào dám thay đổi hoặc thêm bớt, đó là kẻ loạn tưởng điên khùng, muốn làm hơn đức Phật, để rồi trở thành Ma vương, Ác quỷ, v.v..

Vậy mà, đời sau này lại có kẻ háo danh, dám làm điều này và đă đưa toàn bộ tín đồ Phật giáo đi vào đường cùng, ngơ cụt. Cho nên, bằng chứng hiện giờ tín đồ Phật giáo không ai tu hành nghiêm tŕ giới luật, nhập được Tứ Thánh Định, thực hiện được Tam Minh, làm chủ được sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi.

Kính thưa Các bậc Tôn Túc, Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni và nam, nữ cư sĩ Phật tử trong nước Việt Nam nói riêng và tất cả các nước trên thế giới nói chung. Một lần nữa chúng tôi kêu gọi quư vị: v́ tiền đồ Phật giáo, v́ con người trên hành tinh này, đang cần phải có một nền đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ ḿnh, khổ người mà chính đạo Phật mới có nền đạo đức ấy. Chúng tôi chỉ mong quư vị cùng với chúng tôi, đứng lên đập tan và quét sạch những giáo pháp trừu tượng, ảo giác, mê tín, dị đoan và những hư luận mơ hồ vô ích của các nhà học giả Phật giáo khắp nơi trên thế giới, đang trộn lẫn trong giáo pháp của đức Phật. Chúng ta hăy thanh lọc lại những ǵ của đạo Phật th́ hăy trả về cho đạo Phật, c̣n những ǵ không phải của đạo Phật th́ hăy quét sạch, đốt sạch, đừng để những thứ rác bẩn này trong giáo lư của đạo Phật mà làm ô nhiễm Phật giáo. Từ bao thế kỷ nay, Thầy Tổ của chúng ta đă bị những loại kinh sách ô nhiễm này mà sự tu hành chẳng đi đến đâu cả, thậm chí đến giới đức làm người mà c̣n không biết huống là giới đức làm Thánh. Người tu sĩ Phật giáo sống và dạy theo đạo đức của Nho Giáo như Thiền Sư Vạn Hạnh Việt Nam và các Thiền Sư Trung Hoa (trong tập Thiền Lâm Bảo Huấn) thường lấy Nho Giáo làm đạo đức của Phật giáo th́ chúng ta có thấy nhục nhă, xấu hổ không? Vậy mà, có kẻ hănh diện “Vạn Hạnh dung tam tế”. Trong lúc đạo Phật có một nền đạo đức nhân bản - nhân quả tuyệt vời, không có một tôn giáo nào, có một nền đạo đức như vậy hơn được.

Kính thưa quư vị Tôn Túc Trưởng Lăo! Ngưỡng mong quư vị đừng v́ một lư do ǵ mà bỏ qua hay cố t́nh tránh né, hoặc làm lơ qua để cho ngôi nhà Phật giáo như một bệnh truyền nhiễm lây lan khắp mọi nơi, trong khi quư vị có đầy đủ khả năng và thế lực, quét sạch những tà giáo ngoại đạo này và chấn hưng lại Phật giáo Việt Nam tốt đẹp như thời đức Phật c̣n tại thế. Trong khi đó, quư vị có đầy đủ tài liệu giáo pháp chính gốc của đức Phật, mà quư vị c̣n chần chờ ǵ nữa?

Cuối cùng, chúng tôi xin thành tâm chúc sức khỏe của quư Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni và nam, nữ cư sĩ Phật tử bốn phương được dồi dào sức khỏe, thân ái chào quư vị.

Kính ghi

Trưởng Lăo Thích Thông Lạc

Ngày 1 - 6 – 2000

BỨC TÂM THƯ

--o0o--

 

Chơn Như ngày 09 tháng 10 năm 2004.

Kính gửi: Huệ Ân, Chơn Thành, Thanh Quang, Từ Quang, Tâm Đức, Từ Đức, Tâm Nhẫn, Đức Thông (Hiến), Liễu Huệ, Minh Đức, Liễu Đạo, các cụ và các bác.

Trong những ngày gặp gỡ Phật tử ở Hà Nội Thầy rất bồi hồi và lo lắng thân tứ đại của các bác, các cụ đă báo động thời gian c̣n lại không bao lâu nữa. Rồi đây kẻ ở người đi và đi măi măi, nhưng đi về đâu các bác, các cụ có biết không?

Huệ Ân, Chơn Thành, Thanh Quang, Từ Quang, Tâm Đức, Từ Đức, Tâm Nhẫn, Đức Thông, Liễu Huệ, Minh Đức, Liễu Đạo, các cụ và các bác, các con c̣n nhớ lời Thầy dạy chăng?

Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là nơi các con về khi bỏ thân tứ đại này. Nơi đó măi măi không c̣n tái sinh luân hồi nữa; nơi đó không c̣n khổ đau các con ạ! Nơi đó là nơi chư Phật ba đời đều an trú.

Trước kia trong những ngày ra Bắc Thầy gặp các con trong chiếc thân tứ đại, nhưng hôm nay và ngày mai sẽ gặp các con trong trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự, các con có biết không? Nếu các con giữ ǵn được trạng thái ấy, bằng không th́ Thầy tṛ khó mà gặp nhau các con ạ!

Muốn giữ được tâm thanh thản, an lạc và vô sự là một việc làm đâu phải dễ, nếu không ngay từ bây giờ, lúc thân tứ đại c̣n khỏe mạnh, c̣n sức lực mà không tu tập th́ đến khi thân tứ đại già nua, mỏi ṃn, yếu đuối th́ tu tập và rèn luyện tâm thanh thản an lạc và vô sự làm sao được nữa.

Nghiệp lực tác động rất mạnh khi nó đến thăm các con, lúc bây giờ các con không c̣n sức chịu đựng, tinh thần không sáng suốt, nhiều khi nó làm cho các con hôn mê không c̣n biết ǵ cả, sống mà như chết. Giờ phút ấy các con c̣n ǵ nữa hỡi các con!? “Nghiệp tương ưng luân hồi” hết một kiếp người rồi măi măi… Ôi! Một sự luân hồi đầy khổ đau, nào ai biết phải không các con?

Các con cứ h́nh dung tưởng tượng từ khi chết đến khi tái sinh nằm trong bụng mẹ là một chuỗi dài khổ đau vô cùng, vô tận của kiếp người. Chết th́ trăn trở ră rời cơ thể, đau nhức, mệt nhọc… Sinh th́ nằm co trong bụng mẹ ngâm ḿnh trong chất nhơ bẩn, uế trược, chật chội, cựa quậy khó khăn vô cùng. Đó là một cuộc tái sinh luân hồi khổ như vậy, thế mà mọi người nào ai có biết sự khổ đau này các con ạ!

Muốn chấm dứt tái sanh luân hồi th́ ngay từ bây giờ các con phải siêng năng tận lực tu tập rèn luyện trước “các chướng ngại pháp vui cũng như buồn đều phải buông xuống cả”. Buông xuống như thế nào đây?

Buông xuống bằng pháp hướng tâm, phải theo pháp hướng tâm như lư tác ư mà buông xuống: “Tâm thanh thản, an lạc và vô sự, các pháp thế gian là pháp sinh diệt, là pháp khổ đau phải chấm dứt ngay liền”. Khi tác ư như vậy xong th́ con nên tác ư tiếp để dẫn thân, tâm vào chỗ không đau khổ, nếu tâm đang bị chướng ngại th́ các con nên tác ư câu này: “An tịnh tâm hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh tâm hành tôi biết tôi thở ra”, rồi im lặng hít thở vô thở ra năm lần rồi lại tác ư như trước. Nếu thân các con bị bệnh đau th́ con nên tác ư câu này: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra” rồi im lặng hít vô thở ra năm lần rồi lại tác ư như trước.

Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là pháp duy nhất để đối trị mọi nghiệp chướng đang vây quanh các con.

Từ Quang, Từ Đức, Tâm Nhẫn, Đức Thông, các cụ và các bác, các con hăy nhớ khi thân các con c̣n mạnh khỏe hay lúc đau ốm th́ phải siêng năng tu tập đừng bỏ qua một thời gian nào, dù là một phút, một giây, một sát na ngắn ngủi, v́ thời gian tuổi đời của các con c̣n lại rất quư:

“Tấc bóng thời gian một tấc vàng

Tấc vàng t́m được không ǵ khó

Tấc bóng thời gian khó hỏi han”.

Hăy giao mọi việc cho các con, các cháu, chúng nó đều trưởng thành, trở nên người gánh vác mọi việc tốt đẹp. C̣n phần các con là hăy tự lo cho ḿnh, hăy tự thắp đuốc lên mà đi, hăy cứu ḿnh, v́ thời gian c̣n lại quá ít.

Những thời gian c̣n lại chỉ đủ để các con luyện tập chuẩn bị cho ḿnh có đầy đủ nội lực khi giặc sinh tử đến thăm.

Khi luyện tập và giữ ǵn tâm thanh thản, an lạc và vô sự th́ nó có một nội lực rất mạnh, một sức đề kháng kinh khủng, nó sẽ giúp cho các con đẩy lùi mọi chướng ngại pháp như: bệnh tật, phiền năo, tai nạn, lo rầu, thương ghét, giận hờn v.v.. nó c̣n giúp cho các con giữ ǵn tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

Khi nghiệp đến với các con th́ chỉ cần tác ư: “Tâm thanh thản, an lạc và vô sự, tất cả các pháp đều vô thường hăy đi đi! không được ở trong thân tâm ta nữa”. Tác ư như vậy phải bền chí, phải kiên cường, phải gan dạ, đầy đủ nghị lực chiến đấu đôi khi chỉ cần tác ư ba bốn lần th́ chúng sẽ không c̣n tác động vào thân tâm các con được nữa, nhưng các con phải nhớ kỹ khi muốn đẩy lùi các chướng ngại pháp th́ phải giữ ǵn giới luật nghiêm chỉnh, v́ giới luật là thiện pháp, chúng sẽ chuyển tất cả nghiệp báo khổ đau nhiều đời của các con. Trong khi đó để trợ lực với giới luật th́ dùng pháp như lư tác ư, các con sẽ đẩy lùi tất cả chướng ngại pháp và không c̣n một ác pháp nào tác động vào thân tâm các con được.

Trước lúc từ giă cơi đời này chỉ có pháp môn này giúp các con thoát khổ và chấm dứt luân hồi sinh tử mà đức Phật thương xót chúng sanh để lại cho chúng ta ngày nay: “Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ kheo, có như lư tác ư, lậu hoặc chưa sanh th́ không sanh, lậu hoặc đă sanh th́ đoạn diệt”.

Một pháp bảo quư báu vô giá không có vàng bạc, châu ngọc, kim cương đem so sánh được, các con nhớ kỹ.

Các con hăy nhớ ôm chặt pháp như ôm phao qua biển, để vượt sóng gió ba đào của kiếp làm người, để đến bờ bên kia. Buông pháp là buông phao các con sẽ ch́m xuống đáy biển sanh tử luân hồi măi măi muôn đời, muôn kiếp. Từ đây Thầy tṛ không c̣n gặp nhau măi măi các con ạ!

Thăm và chúc các con mạnh khỏe tu tập xả tâm tốt, luôn luôn giữ ǵn tâm thanh thản, an lạc và vô sự, chúc các con thành công vĩ đại.

  Kính thư,

Thầy của các con

L̉NG THƯƠNG VÔ BỜ BẾN
CỦA MỘT VỊ THẦY

Câu hỏi của Hải Tâm (cô Mười)

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con không có tài, cũng chưa có đức độ bao nhiêu. Nếu được Thầy chấp nhận cho ở lại tu học th́ con cũng cố gắng nghe và thực hành theo sự chỉ dẫn của Thầy cho đến tận cùng đường tu, dù có cực khổ, gian nan, đói khát con cũng không hề than thở.

Đáp: Thầy hoan hỷ và rất xúc động, khi nghe con nói lời thiết tha đầy nhiệt huyết tu hành, th́ làm sao không chấp nhận. Con đă có quyết tâm, có bền chí tu tập đến nơi đến chốn, không bỏ cuộc giữa đường tu th́ nhất định không bao giờ bỏ con bơ vơ trên đường tu tập, mà phải hướng dẫn tận cùng đến nơi đến chốn, để có đủ tài, đủ đức, để hoàn thành được con đường giải thoát, nhất là nói lên tiếng nói chân thật của đạo Phật và cũng là chấn hưng Phật Pháp mà từ xa xưa đă bị Bà La Môn Giáo d́m mất chân pháp của đức Phật. Trừ ra, con nhận thấy con đường tu theo đạo Phật xả tâm quá khó khăn và sống một đời sống thiểu dục tri túc khiến cho con không thoái mái dễ chịu được, cũng như rèn luyện đức hạnh làm người không làm khổ ḿnh, khổ người th́ các con cảm thấy như ḿnh chịu thiệt tḥi nhất, trong cuộc sống thường t́nh của thế gian, các con phải chịu kham nhẫn mọi mặt và mọi người luôn luôn chà đạp giày xéo lên tâm hồn của các con mà các con không bao giờ có ăn thua đủ với ai cả, v́ đó là những Thánh hạnh của những bậc vĩ đại thoát ra khỏi cuộc đời thế tục thường t́nh. Cho nên, các con có thể bỏ cuộc th́ Thầy cũng chẳng biết làm sao hơn chỉ biết nh́n theo bước chân, nhưng rất thương tâm không biết cách nào để cứu và lôi các con ra khỏi những tư tưởng vô minh đen tối của những kẻ phàm phu tục tử chỉ biết tự ái và danh dự hăo của thế gian, v́ bao đời tư tưởng vô minh này đă giết loài người chết trong đau khổ, chết trong ác pháp. Người ta luôn luôn dại dột sống với bản ngă anh hùng, sống với mặc cảm, với tự ái, với bản tính anh hùng. Anh hùng, mặc cảm, tự ái đối với đạo Phật, nó là chướng ngại pháp, là ác pháp, là pháp làm khổ người, khổ ḿnh. Người đời cho nó là danh dự phải bảo vệ, phải ăn thua đủ c̣n đối với đạo Phật cho nó là chướng ngại pháp, là địa ngục.

Trải qua một thời gian tu tập khá dài mà không thấy có thần thông chút nào cả, chỉ sống trong những ngày cô đơn buồn tẻ và có nhiều sự tức tối, buồn phiền, cho nên các con ngả ḷng t́m cầu một pháp môn khác th́ Thầy cũng đành bó tay trước nghiệp duyên của các con mà thôi, chỉ v́ các con không đủ niềm tin với chánh pháp của đức Phật nên đành phải rẽ sang đường khác, như huynh đệ của các con, th́ Thầy cũng đành nh́n theo bóng dáng của những người đệ tử thân thương của ḿnh, dù một ngày các con về đây tu học, nhưng t́nh Thầy tṛ không bao giờ phai mờ. Rồi đây ḍng đời sẽ dẫn dắt các con đi vào con đường mờ mịt của kiếp người đầy gian truân và cay đắng.

Gần hai mươi sáu năm từ 1980-2005, Thầy bỏ ra công lao, biết là bao nhiêu, kể sao cho hết, để hướng dẫn đào tạo một số người có giới đức làm Người, làm Thánh, nghiêm chỉnh nhất là áp dụng phương pháp độc cư để cho mọi người pḥng hộ sáu căn, thúc liễm thân tâm, ĺa xa các chướng ngại pháp, để thực hiện tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ tức là để tâm hoàn toàn ly dục ly ác pháp nhập Sơ Thiền, nhưng mọi người chịu ảnh hưởng của kinh sách phát triển nên tu tập cứ ức chế tâm, không nghe lời Thầy dạy sống độc cư, cứ hết giờ ngồi thiền ức chế tâm th́ lại t́m gặp nhau để nói chuyện; có người bảo là đă nhập được Tam Thiền, Tứ Thiền; có người bảo là đă nhập định vong thân; có người bảo là đă có thần thông bay lên hư không; có người bảo là tịnh chỉ hơi thở; có người bảo là không c̣n nghe âm thanh v.v.. nhưng tất cả các con đều lén lút Thầy phá hạnh độc cư, t́m cách nói chuyện với nhau. Cuối cùng có một người đệ tử thẳng thừng không chấp nhận hạnh độc cư của Thầy, xin Thầy cho phép tiếp chuyện với vợ con và bạn bè, chỉ một thời gian ngắn tu chứng thần thông sẽ dạy lại Thầy.

Bởi vậy, thời sau này con người tu hành chưa ra ǵ mà muốn hơn Phật như các Tổ Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Mă Minh, rồi bây giờ các đệ tử của Thầy cũng vậy, họ muốn tu tập hơn thầy, chỉ v́ Thầy không có thể hiện thần thông, trong lúc họ là những người đang cần thần thông. Người tu sĩ đạo Phật mà ham mê thần thông là đi ngược lại đạo Phật.

Những người tu hành theo đạo Phật phá hạnh độc cư mà muốn chứng đạo th́ cũng như lấy cát nấu cơm, làm sao mà thành cơm được.

Số đệ tử của Thầy không ngờ đến giờ phút cuối cùng th́ Thầy bắt buộc họ phải sống độc cư trọn vẹn một trăm phần trăm th́ họ lại bẻ ngang phá độc cư rồi bỏ cuộc tu hành. Họ đâu ngờ Thầy khép chặt họ vào hạnh độc cư cốt để họ xả tâm cho rốt ráo, hoàn toàn ly dục ly ác pháp để họ nhập được thiền đầu tiên của đạo Phật, đó là “Sơ Thiền” hay nói một cách khác là giúp cho họ nhập được bất động tâm định để họ làm chủ được đời sống, nhưng họ lại không chấp nhận hạnh độc cư, họ c̣n bảo rằng: “đức Phật không có dạy độc cư, đức Phật đă phá chấp hạnh độc cư, v́ trước kia đức Phật đă tu theo pháp độc cư của ngoại đạo, khi thấy một bóng dáng người th́ đức Phật đă chạy trốn mất không để ai gặp ḿnh cả, do sự độc cư như vậy đức Phật không t́m thấy sự giải thoát nên Ngài bỏ độc cư theo kiểu đó”.

Đệ tử của Thầy không hiểu sự độc cư là pḥng hộ sáu căn nên họ lấy bài kinh Sư Tử Hống trong kinh tạng Pali này mà chống lại Thầy. Họ đâu biết rằng độc cư của đạo Phật là giữ ǵn tâm không phóng dật, v́ vậy độc cư của đạo Phật là pḥng hộ sáu căn, là pháp xả tâm, ly dục ly ác pháp, độc cư của đạo Phật là cấm nói chuyện phiếm, chuyện vô ích, độc cư của đạo Phật c̣n có nghĩa là tránh xa sự ồn náo, sự ham vui của thế tục. Những người c̣n ham vui c̣n thích hội họp nói chuyện th́ đi tu theo đạo Phật chỉ mất th́ giờ vô ích, v́ những người này không bao giờ xả tâm được. Đạo Phật vốn xả tâm và chướng ngại pháp mà thành tựu đạo giải thoát. Hạnh độc cư là bí quyết xả tâm, nhờ có xả tâm nên mới có thiền định.

Tất cả đệ tử của Thầy không tin hạnh độc cư, v́ vậy Thầy phải đem 42 bài kệ dạy độc cư của đức Phật ra chứng minh và rất nhiều bài kinh khác nữa của Phật dạy về độc cư trong kinh Nguyên Thủy Nikaya, thế mà họ vẫn không tin. Thầy Minh Tông c̣n thách thức với Thầy: “Xin Thầy cho con tiếp vợ con và bạn bè, con sẽ thực hiện tu chứng giải thoát bằng một con đường khác không cần hạnh độc cư và thể hiện thần thông cho Thầy xem như trên đă nói”.

Phần đông số đệ tử của Thầy không tin pháp của Thầy dạy tức là không tin pháp của Phật dạy, họ là những người muốn hơn Phật, muốn đưa ra một đường lối tu tập mới, nhưng cuối cùng cũng giống như Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Mă Minh v.v.. chỉ có giỏi lư luận ngôn ngữ mà thôi.

Thầy cũng để nh́n xem những người đệ tử muốn hơn Phật, hơn Thầy sẽ làm được những ǵ lợi ích cho bản thân của họ.

Nếu quyết tâm t́m cầu con đường giải thoát sanh, già, bịnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi th́ con nên bền chí mà tu tập pháp hướng tâm “Như lư tác ư”, pháp này phải bền chí lắm mới có hiệu quả. Hằng ngày phải cố gắng buông xả các chướng ngại pháp trong tâm, khi các pháp này thường hiện khởi trên bốn chỗ: Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Nếu con đẩy lui được th́ tức khắc con có sự giải thoát nơi thân tâm con, thân tâm con sẽ được thanh thản an lạc và vô sự.

Đạo Phật tu hành không khó, khó là chỗ người ta không biết tu sai thành ức chế thân tâm và nhất là chỗ không dám buông xả đời sống thường t́nh thế tục, do chỗ tu sai và không dám bỏ đời sống thế tục, nên tu hành chỉ có h́nh thức, chứ không có giải thoát rốt ráo được.

Tu theo đạo Phật không phải chỗ ngồi thiền, chỗ đi kinh hành mà chỗ đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm, nhưng mượn tư thế ngồi, tư thế đi kinh hành là để dễ tỉnh thức xả tâm chướng ngại.

Xả hết tâm chướng ngại tức là ly dục ly ác pháp, ly dục ly ác pháp tức là xả ngũ triền cái và Thất kiết sử, chứ không phải xả vọng tưởng lăng xăng như kinh sách phát triển dạy.

Con nên nhớ, sự tu tập này rất dễ dàng và thân tâm thoái mái dễ chịu, không có mệt nhọc, không có khó khăn, tu là có kết quả giải thoát ngay liền. B́nh thường con nên tỉnh thức nhớ hướng tâm “Tâm như đất không c̣n tham sân si nữa”, phải nhớ nhắc thường xuyên không được quên, quên tức là thiếu tỉnh thức, đó là với tâm b́nh thường c̣n tâm không b́nh thường đang bị chướng ngại pháp th́ dùng Định Vô Lậu quán xét mà đẩy lui.

Đă quyết tâm theo Thầy tu tập đúng chánh pháp Phật giáo Nguyên thủy th́ phải cố gắng rèn luyện tu tập và bền chí nhẫn nại bám chặt theo những lời đă dạy để xả tâm cho thật sạch, suốt 24 tiếng đồng hồ không dụng công mà tâm định trên hơi thở, không dụng công mà khi đi tâm luôn định trên bước đi, đó là tâm xả sạch, tâm đă thanh tịnh, tâm ly dục ly ác pháp. Cách thức tu như vậy không khó chỉ có từng giây, từng phút quan sát các chướng ngại pháp phát khởi tại bốn chỗ thân, thọ, tâm và các pháp, lúc không có chướng ngại pháp th́ tâm sẽ định trên thân, c̣n khi có chướng ngại pháp th́ con nên dùng Định Vô Lậu quán xét mà đẩy lui nó như trên đă dạy, đẩy lui nó cho đến khi tâm như đất, tâm con được như đất th́ con đă hoàn toàn giải thoát.

Một người đệ tử quyết tâm tu hành để t́m cầu sự giải thoát, dù có gian nan khó khổ đến đâu cũng không ĺa thiện hữu tri thức của ḿnh, mặc dù nghịch cảnh có thử thách đuổi xô thậm tệ đi chăng nữa cũng chỉ để tạo đối tượng cho con xả tâm như đất mà thôi. Chính lúc bây giờ con áp dụng Định Vô Lậu quán xét nhân quả của ḿnh để buông xả cái tâm oán ghét, giận hờn đó, chứ không nên như người thế tục có những ǵ trái ư nghịch ḷng th́ ôm ḷng thù oán ghét giận, bằng chứng như con đă thấy, biết bao nhiêu người khi đến sống với Thầy để học tu hành đều bị thử thách, trắc nghiệm xem có xả tâm được hay không, tức là có sống đúng đức hạnh nhân bản làm người không làm khổ ḿnh, khổ người hay không? Khi mà mọi người được Thầy hướng dẫn và dạy tu tập rèn luyện những đức hạnh nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng, nhưng cuối cùng mọi người nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng ngoài mặt mà trong ḷng th́ oán hận, cho nên thường t́m cách nói xấu thiện hữu tri thức của ḿnh với mọi người để hạ nhục cho hả cơn hận thù và khi rời khỏi tu viện lại c̣n nói xấu hơn. Các con là những người xa lạ từ những phương trời xa đến đây tu học, có thù có oán nhau đâu, cớ sao lại có những điều này xảy ra, những điều này xảy ra là do duyên nhân quả để rồi gặp nhau, gặp nhau để xả tâm, để ly dục ly ác pháp, để được giải thoát, để làm chủ được tâm hồn của ḿnh, để làm chủ cuộc sống của ḿnh, để học được những đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người, để trở thành những bậc Thánh nhân.

Một người Thầy dạy đạo đức giải thoát cho đệ tử thật là khó vô cùng, ḷng thương yêu của vị Thầy ấy phải bao la như đất trời, tâm vị ấy như đất, như nước th́ mới dám đem đạo đức này dạy người. Tại sao vậy?

V́ đạo đức này con người chưa bao giờ được nghe, được thấy, được học. Từ khi đức Phật ra đời chỉ có một khoảng thời gian quá ngắn 100 năm th́ được Ngài dạy đạo đức này cho những người đệ tử của ḿnh rồi từ đó về sau này không c̣n ai nhắc đến nữa, cho nên bây giờ đem đạo đức này ra dạy là một việc làm rất khó, khó vô cùng.

Một đạo đức giải thoát thật sự không làm khổ ḿnh, khổ người đem đến cho mọi người một cuộc sống an vui và hạnh phúc bằng những đức hạnh cao thượng nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng khiến cho ḿnh vui, người khác vui. Nhưng khi áp dụng những đức hạnh cao thượng này vào những người đệ tử của ḿnh, Thầy đă được trả một ơn quá lớn…, nhưng đối với học tṛ của ḿnh th́ Thầy rất thương yêu và tha thứ, nếu người học tṛ quyết tâm trở lại tu tập th́ Thầy sẵn sàng hướng dẫn từng phương cách xả tâm để thực hiện đạo đức làm người, không làm khổ ḿnh, khổ người, v́ Thầy nghĩ rằng cần phải có những người đầy đủ đạo đức nhân bản – nhân quả làm gương cho những người khác th́ sau này dạy đạo đức mới dễ dàng hơn.

Con người trên hành tinh này đang cần có một nền đạo đức để đối xử và đem lại cho nhau những sự an vui và hạnh phúc. Thầy nghĩ rằng tại tu viện Chơn Như mới bắt đầu nhen nhúm một ngọn lửa đạo đức nhân bản - nhân quả của đạo Phật ra dạy lần đầu tiên sau 100 năm đức Phật nhập diệt, Thầy là người áp dụng đạo đức nhân bản - nhân quả vào những tu sĩ và cư sĩ ở đây trước tiên, khiến cho quí vị ở đây chao đảo, dao động gần như không chịu nổi, các tu sĩ và cư sĩ nam cũng như tu sĩ và cư sĩ nữ ở đây đều muốn bỏ cuộc.

Thầy là người đă am hiểu rất rơ đường lối tu tập thiền định của đạo Phật, nhất là phải xả tâm như đất th́ mới có thiền định, mà muốn xả tâm được như đất th́ phải sống cho đúng ba đức ăn, ngủ, độc cư và ba hạnh nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng, nhưng toàn bộ tu sĩ và cư sĩ nam và nữ ở đây không có một người nào sống đúng ba đức, ba hạnh. Nếu sống không đúng ba đức, ba hạnh th́ làm sao tâm như đất được mà tâm không như đất th́ làm sao sống đúng đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người. Mà c̣n làm khổ ḿnh, khổ người th́ làm sao có giải thoát được.

Mỗi tu sĩ và cư sĩ về đây tu hành họ đều phạm vào ba đức, ba hạnh này nên cuối cùng họ phải ra đi, nhưng tâm nguyện của người Thầy thầm ước nguyện một ngày nào đó họ tỉnh ngộ, nhận ra ba đức, ba hạnh là một đạo đức cao thượng tuyệt vời không làm khổ ḿnh, khổ người để trở về rèn luyện đức hạnh làm gương sáng cho mọi người soi, để mọi người nương vào ánh sáng đạo đức đó mà sống không làm khổ ḿnh, khổ người đem lại cho thế gian này thành cơi Thiên Đàng, Cực Lạc.

Một vị Thầy luôn luôn tâm niệm có những người đệ tử tu tập không phải v́ ḿnh mà v́ mọi người th́ mới có đủ nghị lực kiên cường sống đúng ba đức, ba hạnh, hầu hết tất cả tu sĩ và cư sĩ về đây tu tập, tu cho cá nhân chứ chưa có người nào có nguyện ước tu v́ mọi người.

Bởi con đường tu hành của đạo Phật rất khó, nếu nghĩ tu cho cá nhân ḿnh th́ chẳng bao giờ sống đúng đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người được.

V́ thế, mỗi khi có một người đệ tử ra đi là ḷng của vị Thầy xót xa thương tưởng cho người đệ tử của ḿnh đang đi vào bước đường cùng trong đêm đen u tối, bởi v́ vị Thầy đă biết duy nhất chỉ có một con đường Giới, Định, Tuệ của đạo Phật sẽ đưa họ đến nơi giải thoát hoàn toàn và chấm dứt đau khổ của kiếp làm người, ngoài ra không c̣n giáo pháp nào hơn nữa. Nếu họ bỏ Giới, Định, Tuệ mà đi t́m một giáo pháp khác là họ đă tự mở cửa bước vào địa ngục.

Cho nên, những người học tṛ của Thầy ra đi là ḷng Thầy bồi hồi thương tiếc một kiếp người vô duyên với Phật pháp, vô duyên với sự giải thoát, đáng thương nhất là những người đệ tử theo Thầy tu hành mà đắm mê thần thông, sau thời gian theo Thầy tu tập chỉ mong Thầy thể hiện thần thông, nhưng họ thất vọng v́ Thầy không thể hiện thần thông, từ đó họ nghi Thầy không có thần thông, nên lần lượt họ bỏ ra đi, nh́n những người đệ tử này ra đi mà Thầy bùi ngùi xót xa. Tại sao người ta vô minh quá vậy? Tu có thần thông để làm ǵ? Để khoe khoang làm tṛ ảo thuật cho thiên hạ xem chơi, để được ca ngợi, tán thán, chứ có ích lợi ǵ cho ḿnh cho người đâu. Phải không các con?

Tâm tham vọng của những người này quá cao, muốn cho ḿnh trở thành siêu nhân hơn tất cả mọi người trong thế gian này. Hơn tất cả mọi người trong thế gian này để làm ǵ? Để làm bá chủ toàn cầu. Nếu muốn trở thành siêu nhân như vậy th́ nên qua Tây Tạng tu tập với các vị Lạt Ma chứ theo đạo Phật th́ không có dạy điều đó mà chỉ dạy cho chúng ta làm người có đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người, được như vậy thế gian này là Thiên Đàng th́ chúng ta đă măn nguyện lắm rồi.

Hỡi các người đệ tử của Thầy! Các con có hiểu nỗi ḷng của Thầy chăng? Thầy chỉ mong các đê tử hăy tin nơi Thầy, Thầy sẽ dẫn dắt các con trên con đường đạo đức nhân bản – nhân quả làm người, thoát ra khỏi bản chất của loài cầm thú để trở thành thật sự là con người thật, con người có một tâm hồn cao thượng không làm khổ ḿnh, khổ người, các con theo Thầy quyết t́m con đường thoát khổ, cớ sao các con không chịu buông xả những thói đời thường t́nh của ḿnh, để làm chi ôm ấp sự đau khổ trong ḷng; cớ sao các con không chịu buông xả những kiến chấp thần thông của Mật Tông, lư luận mơ hồ trừu tượng ảo giác của Thiền Tông và mê tín, dị đoan của Tịnh Độ Tông mà chính những điều Thầy dạy đạo đức nhân bản – nhân quả lợi ích cho ḿnh cho người th́ các con lại xem thường, lại bỏ đi, để đi t́m những cái cao siêu, cái cao siêu đó là cái mà các con đang bị các tôn giáo lừa đảo.

Nh́n những người đệ tử ngu si của ḿnh đang lầm lạc trên đường tu tập, hầu hết mọi người đều bị các tôn giáo ru hồn vào cơi mộng siêu h́nh và thần thông. Một vị Thầy rất đau ḷng và thương yêu những người đệ tử của ḿnh, nhưng biết làm sao hơn khi họ đă gieo hạt giống đắng th́ phải gặt lấy quả đắng, luật nhân quả quá khắc nghiệt, nếu những người đệ tử ấy không biết thay đổi hạt giống th́ muôn đời ngàn kiếp phải chịu lấy quả cay đắng mà thôi, dù cho Thầy có thương yêu các con bao nhiêu cũng không thể làm ǵ được cho các con mà chính các con phải thương yêu các con, các con phải biết từ bỏ những cái sai và nhận lấy những cái đúng, cái sai cái đúng này không ai bỏ giúp cho các con được mà phải chính các con tự bỏ lấy.

Ḷng thương yêu vô bờ bến của một vị Thầy các con đâu hiểu được, khi các con đến xin Thầy tu học, Thầy biết thói thường t́nh đời các con khó bỏ, nhưng trước ḷng tha thiết của các con Thầy không nỡ nhẫn tâm từ chối, nhận rồi th́ phải có trách nhiệm, nhưng những lời Thầy dạy mà các con vâng theo làm không sơ sót th́ ḷng Thầy vui sướng biết bao, nhưng khi các con làm không đúng lời dạy th́ ḷng Thầy đau xót vô cùng và biết rằng một ngày nào đó các con sẽ rời khỏi ṿng tay của Thầy, ṿng tay thương yêu tận t́nh đưa đường dẫn lối cho các con đi được an toàn và đến nơi đến chốn đạo đức nhân bản – nhân quả làm người không làm khổ ḿnh, khổ người. Điều này không làm thỏa măn ước vọng của các con, v́ tâm các con c̣n tham đắm một điều cao hơn.

Thế rồi các con lần lượt ra đi, đi với một ḷng oán hận chỉ v́ Thầy cấm không cho các con nói chuyện tào lao, phóng tâm phóng dật và cấm không cho các con tu theo những pháp tà giáo ngoại đạo, nhưng làm sao cấm được ḷng người, chỉ các con phải biết tự giác ư thức pháp nào đúng, pháp nào sai.

Rồi những buổi chiều hoàng hôn khi tắt nắng, Thầy nh́n ra cổng chùa như hướng về một chân trời xa thẳm nơi ấy có những người đệ tử của ḿnh đang tu hành sai pháp, rồi đây chúng sẽ chôn vùi cuộc đời chúng trong biển khổ muôn đời muôn kiếp.

Ḷng thương yêu của một vị Thầy vô bờ bến lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm bất nghĩa và thương yêu những người đệ tử của ḿnh đến hơi thở cuối cùng.

“Những buổi chiều tà mưa phủ trắng

Thầy cười tha thứ kẻ vong ân”.

TỨ BẤT HOẠI TỊNH

Hỏi: Kính thưa Thầy! Khi tâm c̣n tham, sân, si, mạn, nghi, con tu Tứ Bất Hoại Tịnh th́ tâm con được giải thoát rồi, th́ con khỏi tu Định Vô Lậu được không?

Đáp: Được, muốn tu Tứ Bất Hoại Tịnh th́ con phải tu Định Vô Lậu, tu Định Vô Lậu tức là thể hiện pháp môn Tứ Niệm Xứ, thể hiện Tứ Niệm Xứ tức là trên thân, thọ, tâm và pháp mà tu tập, sống và làm việc giống như thân, thọ, tâm, pháp của đức Phật nhưng muốn tu tập cho được tốt th́ con phải tùy theo đặc tướng thân, thọ, tâm và pháp của các con mà niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới được triển khai mạnh, quét sạch tất cả các lậu hoặc, diệt ngă, xả tâm, ly dục, ly ác pháp.

Tu như vậy gọi là tu Định Vô Lậu câu hữu (kết hợp) với pháp Tứ Bất Hoại Tịnh, tức là tu Định Vô Lậu thân, thọ, tâm và pháp để sống và làm đúng như đức Phật đang sống và đang hành. Đúng như pháp mà đức Phật đă dạy không được làm sai lời dạy của pháp. Đúng như đời sống chúng Thánh Tăng đang sống đang hành và đúng như giới luật đă dạy không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào cả.

Tứ Bất Hoại Tịnh là bốn pháp hay là bốn đối tượng gương hạnh thanh tịnh của đạo Phật, để làm bốn chỗ chúng ta lấy Thân, thọ, tâm và pháp của ḿnh nương theo đó giữ ǵn tu tập, sống đúng đời sống giải thoát của bốn chỗ này, khiến cho thân tâm chúng ta thanh tịnh, nên đức Phật gọi pháp môn này là Tứ Bất Hoại Tịnh.

Tứ Bất Hoại Tịnh có nghĩa là bốn pháp tu tập giúp cho thân tâm thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh tức là sự giải thoát của đạo Phật, sự giải thoát của đạo Phật có nghĩa là tâm ly dục ly ác pháp, tâm ly dục ly ác pháp có nghĩa là không làm khổ ḿnh, khổ người. Không làm khổ ḿnh, khổ người là một đạo đức nhân bản của đạo Phật, một đạo đức tuyệt vời biến cảnh thế gian này thành cảnh Cực Lạc, Thiên Đàng.

Trong kinh sách Nguyên Thủy Đức Phật dạy tu Tứ Bất Hoại Tịnh là có bốn cách niệm:

1.       Niệm Phật

2.       Niệm Pháp

3.       Niệm Tăng

4.       Niệm Giới

NIỆM PHẬT

Niệm Phật như thế nào?

Các kinh sách Đại Thừa và các nhà học giả Phật giáo dạy niệm Phật là niệm danh hiệu Phật như:

- Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni hay Nam Mô Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Niệm Pháp như thế nào?

Kinh sách Đại thừa dạy niệm Pháp là tụng kinh, tụng chú v.v..

Niệm Tăng như thế nào?

Kinh sách Đại thừa dạy niệm Tăng là cúng dường trai tăng y áo, thực phẩm, tiền bạc và tứ sự.

Niệm Giới như thế nào?

Kinh sách Đại Thừa dạy niệm Giới là mỗi tháng tụng giới hai ngày vào ngày 14 và ngày 30.

Cho nên hiện giờ trong các chùa theo tưởng giải của các nhà học giả Tổ sư của Phật giáo Đại Thừa dạy Tăng Ni và các cư sĩ niệm Phật rất ồn náo, niệm tất cả các danh hiệu của chư Phật mà các nhà học giả tưởng tượng ra vô số tên Phật. Thậm chí như bộ Tây Du Kư của Ngô Thừa Ân tưởng tượng viết theo kiểu tiểu thuyết bốn thấy tṛ Tam Tạng thỉnh kinh Đông Độ đó là những nhân vật giả tưởng, không có thật, thế mà bộ kinh Hồng Danh sám hối lại ghi những nhân vật đó vào để chư Tăng, những ngày 14 và ngày 30 mỗi tháng đều niệm và lạy hồng danh chư Phật đó để xin sám hối cho tiêu tội. Trong kinh sám hối Hồng Danh có cái tên Đấu Chiến Thắng Phật. Đấu Chiến Thắng Phật tức là Tôn Hành Giả, Tôn Hành Giả c̣n có tên là Tề Thiên Đại Thánh. Tề Thiên Đại Thánh là một con khỉ đột, nhà tiểu thuyết tưởng tượng ra chứ không có thật, thế mà các Tổ Sư Đại Thừa xem đó là có thật nên biên soạn kinh Sám Hối Hồng Danh ghi tên thầy tṛ Đường Tăng vào để bắt Tăng, Ni và nam nữ cư sĩ niệm Hồng danh các vị ấy và lạy ṃn đầu gối. Thật là buồn cười cho quư Tăng, Ni và cư sĩ u mê, ngu si, bị lừa đảo mà không hay biết bị lừa đảo.

Niệm Phật như kiểu này dù có niệm muôn ngàn kiếp th́ thân tâm cũng không bao giờ thanh tịnh, một bằng chứng hiển nhiên mà ai cũng thấy, quư thầy và quư Phật tử trong các chùa quanh năm suốt tháng không có ngày nào mà không tụng kinh, niệm Phật, nhưng chúng ta xét lại xem số tu sĩ và cư sĩ hiện giờ tụng kinh, niệm Phật thân tâm có thanh tịnh hay không? Hay tâm c̣n tham, sân, si như các người khác. Như vậy gọi là niệm Phật thân tâm được thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh chỗ nào? Đó là tưởng giải của các nhà học giả Tổ sư Đại Thừa dạy sai ư Phật nên người đời sau tu mà không có kết quả, biến cảnh chùa nơi tu hành thanh tịnh thành chỗ cúng tế, niệm danh hiệu Phật. Khi tụng kinh niệm Phật th́ chuông, trống, mơ làm inh ỏi ồn náo, tụng kinh như ca hát ư ê, ư à… giọng cao giọng thấp, trầm bổng nghe như hát bộ. Kinh sách Đại Thừa biến dần Tứ Bất Hoại Tịnh thành pháp môn tụng niệm, nói cách khác là biến thành ca nhạc Phật giáo, để ru hồn tín đồ vào thế giới siêu h́nh mê tín, gây tinh thần tiêu cực tựa nương vào thế giới tưởng, khiến cho Phật giáo mất hết ư nghĩa tự lực giải thoát, cho nên tín đồ hiện giờ nghe vị Thầy nào tụng niệm ê a giọng cao, giọng thấp th́ rất thích, nghe như nghe âm nhạc thế gian và c̣n thích hơn v́ thỏa măn được t́nh cảm thân thương của ḿnh đối với những người thân đă khuất.

Từ cái hiểu sai, dẫn đến sự tu sai, khiến cho Phật giáo suy thoái không c̣n người tu chứng đạo, chỉ c̣n là vọng ngữ huyền thoại nói láo chuyền nhau.

Niệm, người ta hiểu nghĩa của nó là lặp đi lặp lại một câu kinh, một danh hiệu Phật bằng ư không lời hoặc phát ra lời nói, họ c̣n hiểu sai hơn nữa là nhờ câu niệm Phật để ức chế tâm không vọng tưởng như trong kinh Di Đà dạy: “…Thất nhựt nhất tâm bất loạn chuyên tŕ danh hiệu A Di Đà Phật, dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền, có nghĩa là niệm Phật A Di Đà từ một ngày cho đến bảy ngày tâm không loạn tức là không có vọng tưởng th́ thấy Phật Di Đà và Thánh Chúng hiện ra trước mặt, báo cho biết trước khi lâm chung đức Phật và Thánh Chúng sẽ phóng hào quang rước về cơi Cực Lạc Tây Phương. Hiểu như vậy nên Thầy Tổ nào cũng có một xâu chuỗi, lúc nào cũng lần chuỗi niệm Phật.

Từ chỗ hiểu sai Tứ Bất Hoại Tịnh, các nhà học giả Đại Thừa và Thiền Đông Độ đă biến thành một pháp môn ức chế tâm, pháp môn ức chế tâm chẳng giúp cho người tu giải quyết được ǵ cả mà c̣n thêm bệnh.

 Niệm trong Tứ Bất Hoại Tịnh có nghĩa là tư duy, quán xét, suy ngẫm về thân, thọ, tâm và pháp của đức Phật, sống như thế nào mà tâm hồn thanh thản, an lạc giải thoát, cho nên niệm có nghĩa là tâm tâm niệm niệm về đời sống của đức Phật, Ngài sống như thế nào mà tâm không phóng dật? Ngài sống như thế nào mà không làm khổ ḿnh, khổ người?

Khi mà tâm niệm của chúng ta như vậy khiến cho tâm chúng ta đặt ḷng tin trọn vẹn ở đức Phật, do đó đức Phật sống như thế nào th́ chúng ta sẽ cố gắng sống như thế nấy, đức Phật làm như thế nào th́ chúng ta sẽ cố gắng làm như thế nấy. Sống và làm đúng như Phật th́ tâm chúng ta thanh tịnh, không c̣n phóng dật tức là tâm ly dục ly ác pháp, tâm ly dục ly ác ác pháp tức là tâm giải thoát hay nói một cách khác hơn là làm chủ cuộc sống, tâm bất động trước các pháp, như vậy mới gọi là niệm Phật thân tâm bất hoại tịnh.

Đây là một bài kinh dạy cách thức chúng ta niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới rơ ràng, chỉ v́ các nhà Đại Thừa chẳng chịu nghiên cứu kinh sách Nguyên Thủy tự kiến giải rồi dạy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới theo tưởng giải, khiến cho người tu tập ức chế tâm thành bệnh. Niệm Phật cầu văng sanh Cực Lạc đâu không thấy mà chỉ thấy bệnh đau quá hiểm nghèo. Ḥa Thượng Thiền Tâm là người xương minh pháp môn Tịnh Độ chuyên ṛng niệm Phật, không biết Ngài niệm Phật ức chế tâm như thế nào mà trước khi chết Ngài đă ói ra máu, chúng tôi cũng có một người đệ tử cũng tu ức chế tâm để tịnh chỉ hơi thở cũng khạc ra máu đống đống. Muốn niệm Phật cho đúng th́ chúng ta nên lắng nghe đức Phật dạy niệm Phật: “Ở đây, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Như Lai”. Đoạn kinh trên đây đức Phật đă xác định cách thức niệm Phật rất rơ ràng “Tuỳ niệm Như Lai” có nghĩa là tâm Như Lai không tham, không sân, không si th́ người sống (niệm Phật) như Phật không nên để tham, sân, si chi phối. Khi tâm không bị tham, sân, si chi phối th́ tâm được chánh trực. Danh từ chánh trực ở đây chúng ta phải hiểu nghĩa cho rơ ràng. Chánh trực có nghĩa là tâm ngay thẳng, tâm ngay thẳng tức là tâm thanh thản, an lạc và vô sự là tâm không phóng dật.

Chúng ta hăy lắng tai nghe tiếp đức Phật dạy: “Và này Mahànàma, một vị Thánh đệ tử, với tâm chánh trực, liền được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người ấy có hân hoan nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, người ấy có cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tỉnh”.

 Đoạn kinh trên đây đă xác định cho chúng ta thấy kết quả cách thức sống như Phật sẽ hiện ra những trạng thái ǵ?

Khi sống như Phật tâm được thanh thản, an lạc và vô sự th́ liền có một niềm tin nơi Phật trong ta khởi lên trong ta, v́ thế kinh xác định trạng thái bằng những danh từ ngắn gọn: “liền được nghĩa tín thọ” nhưng rất đầy đủ ư nghĩa cho những ai thực hiện đúng lời dạy, c̣n những người sống không đúng như Phật th́ chẳng hưởng được những kết quả này. V́ thế Phật dạy: “Pháp ta không có thời gian đến để mà thấy”.

Khi trong ta có trạng thái ḷng tin Phật khởi lên, nếu ai có thực hiện được mới biết trạng thái này, một trạng thái tuyệt vời của người có ḷng tin như thật. C̣n bây giờ chúng ta chưa có trạng thái này nói tin Phật chứ chúng ta chưa có tin như thật. Khi nhận được cảm thọ ḷng tin này th́ ngay đó tâm hân hoan thích thú pháp niệm Phật. Vậy hân hoan thích thú pháp niệm Phật là ǵ? Nghĩa là chúng ta luôn luôn thích sống như Phật, có nghĩa là tâm không c̣n ham muốn một vật ǵ hết ngay cả cũng không c̣n ham muốn ăn uống ǵ cả. Tâm sân cũng vậy, không c̣n một pháp ác nào tác động vào thân tâm, làm ta nổi sân được và si cũng vậy lúc bây giờ không c̣n ham thích lười biếng ưa ngủ nghỉ, có nghĩa là trong trạng thái tín thọ không c̣n hôn trầm, thuỳ miên, vô kư nữa mà rất siêng năng sống như Phật. Cho nên, đoạn kinh dạy: Được hân hoan liên hệ đến pháp”. Cụm danh từ này có nghĩa là vui mừng thích thú sống như Phật.

Khi trong tâm có trạng thái thích sống như Phật th́ một trạng thái khác hiện lên, đó là trạng thái niềm vui mừng khởi lên trong ta như kinh dạy: “Người ấy có hân hoan nên hỷ sanh”. Niềm vui mừng hiện rơ trong ta th́ cơ thể ta an lạc và nhẹ nhàng như không c̣n trọng lượng bước đi rất thoải mái, thân không c̣n đau nhức hay mệt mỏi ǵ cả, một trạng thái của thân an lạc vô cùng nên kinh dạy: Người có hỷ, nên thân được khinh an”. Đúng vậy, người có niềm vui th́ thân được nhẹ nhàng an lạc. Khi thân được nhẹ nhàng an lạc th́ toàn bộ thân tâm có một cảm giác thọ lạc một cách kỳ lạ mà không thể nói ra được v́ không có danh từ nào để diễn tả chỉ có người tu tập đến những trạng thái đó mới cảm nhận được như người uống nước nóng lạnh tự biết, người ngoài cuộc không thể biết được. Đoạn kinh đă xác định rơ ràng: Với thân khinh an, người ấy có cảm giác lạc thọ”. Trong trạng thái lạc thọ này hành giả mới xác định được tâm định tỉnh. Từ lâu mọi người ai cũng nói tâm định tỉnh, nhưng chưa ai biết được trạng thái tâm định tỉnh như thế nào? Trải qua bao nhiêu trạng thái mới thấy được tâm định tỉnh. Với tâm định tỉnh này các bạn sẽ nhập thiền định không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức. Tu tập được tâm định tỉnh không phải dễ đâu các bạn ạ!

Sống như Phật cuối cùng chúng ta mới có được trạng thái tâm định tỉnh như trong kinh dạy: Người có lạc thọ, tâm được định tỉnh”. Nếu tâm bạn chưa có lạc thọ th́ không bao giờ bạn có được tâm định tỉnh.

Sau khi được tâm định tỉnh th́ các bạn mới có một cuộc sống b́nh thản trước mọi ác pháp và mọi cảm thọ; chừng đó chúng ta mới không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ tất cả chúng sanh như thật; chừng đó tâm chúng ta mới bất động thật sự trước các ác pháp và các cảm thọ. Chúng ta hăy lắng nghe đức Phật dạy: Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với mọi người không b́nh thản, vị ấy sống b́nh thản. Với mọi người năo hại, vị ấy không năo hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Phật là vậy”. (Kinh Tăng Chi tập 3 trang 16)

Đến đây các bạn đă thấy rơ phương pháp niệm Phật của Phật giáo Nguyên Thuỷ không giống phương pháp niệm Phật của kinh sách Đại Thừa. Niệm Phật của kinh sách Đại Thừa là phương pháp niệm Phật ức chế tâm nhằm chế ngự vọng tưởng “Thất nhựt nhất tâm bất loạn…”. Đó là một phương pháp niệm Phật của ngoại đạo, chúng ta tu theo Phật hăy ném bỏ nó, v́ đó là phương pháp tu tập sai. Xin các bạn cần lưu ư để tránh sự lừa đảo của ngoại đạo.

Trên đây là một trong những bài kinh đă xác định đức Phật dạy niệm Phật rơ ràng “dựa vào Như Lai” có nghĩa là sống giống như Như Lai th́ đó là niệm Phật đúng nghĩa.

NIỆM PHÁP

Niệm Pháp như thế nào?

Niệm Pháp không phải theo kiểu các Nhà học giả Tổ sư Đại Thừa dạy: “Nam Mô Pháp”, niệm Pháp như vậy dù cho có niệm đến 1.000 năm, 1.000.000 năm, thân tâm của quư vị cũng không thanh tịnh.

Niệm Pháp có nghĩa là tư duy suy nghĩ những pháp mà đức Phật đă dạy.

Ví dụ: đức Phật dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”, theo lời dạy này, ngày ngày tâm tâm niệm niệm luôn luôn cảnh giác giữ ǵn và ngăn ngừa các pháp ác, nếu lỡ có các pháp ác sanh ra th́ mau mau t́m cách diệt nó không được để trong tâm kéo dài sự khổ đau giận hờn phiền toái bất toại nguyện, khiến cho tâm thanh thản an lạc nhẹ nhàng thoải mái yên ổn, đó chính là chúng ta niệm Pháp, niệm Pháp như vậy có kết quả giải thoát ngay liền khiến cho tâm thanh tịnh nên gọi là niệm Pháp thân, tâm bất hoại tịnh.

Pháp của đức Phật có 37 phẩm trợ đạo, chúng ta nên chọn trong 37 phẩm trợ đạo này với một pháp môn nào phù hợp với đặc tướng của ḿnh rồi lấy đó thực hành áp dụng vào cuộc sống hằng ngày để xây dựng cho ḿnh có một đạo đức làm người mà không làm khổ ḿnh, khổ người, đây là niệm pháp bất hoại tịnh.

Đây, chúng ta hăy lắng nghe một đoạn kinh mà đức Phật đă dạy niệm Pháp: “Lại nữa này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những bậc trí tự ḿnh giác hiểu!”. Này Mahànàma, trong khi vị Thánh đệ tử tùy niệm Pháp, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối; trong khi ấy tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Pháp. Và này Mahànàma, Thánh đệ tử với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan nên hỷ sanh. Người có hỷ nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tỉnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này được nói như sau: “Với mọi người không b́nh thản, vị ấy sống b́nh thản. Với mọi người có năo hại, vị ấy sống không năo hại. Nhập được pháp lưu, đó là vị ấy tu tập niệm Pháp”. (Kinh Tăng Chi tập 3 trang 18)

NIỆM TĂNG

Niệm Tăng như thế nào?

Nếu theo kinh sách của các nhà học giả Tổ sư giáo pháp phát triển dạy: “Nam Mô Tăng” và cứ như vậy mà niệm th́ dù có tu trăm muôn ngàn kiếp th́ thân tâm này cũng chẳng thanh tịnh, Nam Mô Tăng như vậy là một pháp ức chế tâm khiến cho tâm bị dồn nén tham, sân, si, mạn, nghi, càng tu th́ tâm này càng tham, sân, si dữ tợn khi gặp chướng ngại pháp.

Muốn tu pháp niệm Tăng cho đúng th́ trước tiên phải chọn những vị Tăng nghiêm tŕ giới luật, Những vị Tăng nghiêm tŕ Giới luật là những vị sống thiểu dục tri túc, ba y một bát, sống không có chùa to Phật lớn, sống xa ĺa những vật chất tiện nghi đầy đủ, sống không có ăn mặc sang đẹp, sống thường đi xin từng miếng mà ăn, sống không cất giữ tiền bạc của cải tài sản, thường lấy gốc cây làm giường nằm, sống ngày một bữa không có ăn uống phi thời.

Chọn được những vị Tăng như vậy chúng ta tôn kính những bậc này và xin họ làm Thầy. Từ đây chúng ta có ngọn đuốc soi đường, hằng ngày ta quan sát tư duy qua gương Thánh hạnh đạo hạnh của họ và chúng ta tập sống như họ, để biết nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng, để biết đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm, để biết thương yêu ḥa hợp với mọi người, để biết chịu phần thiệt về ḿnh luôn luôn bắt chước các đức hạnh của chúng Tăng, sống theo gương Thánh đức của chúng Tăng. Ngược lại, những vị Tăng phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới th́ chúng ta xem họ như những tu sĩ Bà La Môn không đáng cho chúng ta cung kính và cúng dường.

Tư duy quán xét những đức hạnh sống của chúng Thánh Tăng để lấy đó làm gương sống tu tập ly dục ly ác pháp, đó mới chính là chúng ta niệm Tăng. Niệm Tăng như vậy có ích lợi cho ḿnh, cho người rất lớn sẽ không làm khổ ḿnh, khổ người; niệm Tăng như vậy thân tâm mới thanh tịnh; niệm Tăng như vậy mới gọi là niệm Tăng Bất Hoại Tịnh.

Đây là lời đức Phật dạy chúng ta cách thức niệm Tăng: “Lại nữa này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lư hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử Thế Tôn này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở đời”. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm chúng Tăng, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối, trong khi ấy tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào tùy niệm chúng Tăng. Và này Mahànàma, một vị Thánh đệ tử, với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến chúng Tăng. Người có hân hoan nên hỷ sanh. Người có hỷ nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ tâm được định tỉnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với mọi người không b́nh thản, vị ấy sống b́nh thản. Với mọi người có năo hại, vị ấy sống không năo hại. Nhập được pháp lưu, đó là vị ấy tu tập niệm chúng Tăng”. (Kinh Tăng Chi tập 3 trang 19)

NIỆM GIỚI

Niệm Giới như thế nào?

Nếu chúng ta theo cách dạy của kinh sách phát triển rồi niệm Giới bằng cách mỗi nửa tháng một kỳ ngày 14 hoặc ngày 30 tập trung nhau lại tụng Giới đó là cách thức của họ niệm Giới, niệm Giới như vậy dù một triệu kiếp tu hành Giới luật cũng không nghiêm tŕ thanh tịnh được.

Họ đâu biết rằng Giới luật là hành động sống đạo đức của một vị Thánh Tăng, Thánh Ni, nếu họ tụng Giới luật suông như vậy th́ không có ư nghĩa và lợi ích ǵ cả, đó chỉ là h́nh thức che đậy sự phá giới của họ.

Cho nên, hầu hết các Thầy hệ phái phát triển niệm Giới như vậy đều sống phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới.

Họ hiểu không đúng pháp Tứ Bất Hoại Tịnh nên thực hành sai, do thực hành sai mà thân tâm ô nhiễm không thanh tịnh, cuối cùng tu Tứ Bất Hoại Tịnh mà thành Tứ Hoại Tịnh, không có giải thoát chút nào. Vậy, niệm Giới như thế nào cho đúng?

Muốn niệm Giới cho đúng th́ phải học giới luật cho thông suốt, khi Giới luật đă học thông suốt th́ chúng ta quán xét và tư duy những đức hạnh nào của giới dạy về đạo đức làm Người và những giới luật nào dạy về giới đức làm Thánh. Chúng ta đă hiểu rơ các đức hạnh của giới xong, th́ từ đó hằng ngày chúng ta quyết tâm phải sống cho đúng những đạo đức làm Người và làm Thánh, nhờ có quán sát và tư duy như vậy nên sống đúng giới luật nghiêm túc, do sống đúng giới luật nghiêm túc nên thân tâm thanh tịnh ly dục ly ác pháp.

Người tư duy quán sát và sống đúng giới luật như vậy nên gọi là niệm Giới Bất Hoại Tịnh, niệm như vậy mới gọi là niệm Giới chứ không phải niệm Giới theo kiểu hệ phái phát triển tụng một bài Giới là xong, niệm Giới như vậy, gọi là niệm Giới Đại Thừa, chứ không phải niệm Giới Bất Hoại Tịnh.

Đây, chúng ta hăy lắng nghe đức Phật dạy niệm Giới: “Lại nữa này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm các giới của ḿnh: “Giới không bị bẻ vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế tạp, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định”. Này Mahànàma, trong khi Thánh đệ tử tùy niệm Giới, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối, trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Giới. Và này Mahànàma, một Thánh đệ tử, với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến giới pháp. Người có hân hoan nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tỉnh.

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với mọi người không b́nh thản, vị ấy sống b́nh thản. Với mọi người có năo hại, vị ấy sống không năo hại. Nhập được pháp lưu, đó là vị ấy tu tập niệm Giới”. (Kinh Tăng Chi tập 3 trang19)

Đây là một trong những bài kinh, để xác chứng lời đức Phật dạy như vậy mà các Tổ dám cả gan dạy sai, khiến cho người đời sau tu tập sai lạc, đó là các Tổ dạy sai pháp của đức Phật, c̣n những pháp các Tổ bịa đặt ra cũng đều gán cho là đức Phật thuyết. Bởi vậy, từ 25 thế kỷ nay người ta tu theo đạo Phật chứ kỳ thật là người ta tu theo Đạo của các Tổ, cho nên hằng triệu vạn người tu hành mà chẳng có ai làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

Con nên nhớ, nếu con quyết tâm tu hành t́m cầu sự giải thoát của đạo Phật, th́ chỉ cần tu Tứ Bất Hoại Tịnh con cũng đă thành tựu viên măn con đường tu tập có nghĩa là con sẽ làm chủ bốn sự khổ đau của kiếp người: sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi, th́ cần ǵ con phải tu các pháp môn khác.

C̣n nói con tu Tứ Bất Hoại Tịnh câu hữu với Định Vô Lậu là v́ con tư duy, quán xét, suy ngẫm về Phật, Pháp, Tăng và Giới để con thực hiện sống cho đúng như Phật như Pháp, như chúng Thánh Tăng và như Giới luật đă dạy, để không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào, đó là cách thức quét sạch lậu hoặc trong con nên mới gọi là câu hữu với Định Vô Lậu, chứ kỳ thực con không có tu Định Vô Lậu mà tu Tứ Bất Hoại Tịnh.

Tóm lại, một người quyết tâm tu hành để t́m cầu sự giải thoát th́ chỉ cần tu Tứ Bất Hoại Tịnh th́ cũng đủ sự giải thoát rồi đâu cần ǵ phải tu nhiều thứ cho mệt.

Ví dụ: ḿnh quyết sống như Phật th́ khi gặp chướng ngại pháp trong tâm, chúng ta nhất định không sân, không phiền năo, không đau khổ, sống và làm y như Phật th́ ngay đó thân tâm thanh tịnh hay nói cách khác là tâm bất động trước các ác pháp. Tu hành chỉ có như vậy mà thôi, thế mà chẳng ai làm được cả.

Pháp môn Tứ Bất Hoại Tịnh là một pháp môn hay tuyệt vời, nếu một người quyết tử tu tập th́ sẽ có kết quả ngay liền, không c̣n phải chờ đợi kéo dài từ năm này đến tháng kia hoặc năm khác.

TU ĐỊNH HIỆN TẠI AN LẠC TRÚ

Hỏi: Kính thưa Thầy! Định Hiện Tại An Lạc Trú, con chỉ tu 30’ thường hướng tâm: “Sáu căn phải tập trung tại tụ điểm nghe hơi thở và nh́n hơi thở”. Rồi con lại tiếp tục hướng tâm nữa: “Hơi thở phải chậm và nhẹ”. Con thấy hơi thở con càng lúc càng chậm, càng nhẹ dần. Nhờ con tu ít lại nên hôn trầm cũng bớt nhiều, tu như vậy có đúng không thưa Thầy?

Đáp: Đúng, Định Niệm Hơi Thở con tu như vậy rất tốt. Khi hơi thở nhẹ và chậm, tâm yên lặng và bám chặt vào hơi thở th́ con hăy tiếp tục hướng tâm vắng lặng. Thỉnh thoảng và nhẹ nhàng thoáng hướng tâm như lư tác ư: “Nhĩ thức hăy nghe vào trong và nằm yên như ngủ, không được nghe ra ngoài”.

Nếu khoảng thời gian này con chỉ cần kéo dài 30’ là cao nhất, không nên kéo dài thêm nữa, v́ kéo dài thêm nữa con sẽ rơi vào trạng thái tĩnh lặng và khi rơi vào trạng thái tĩnh lặng th́ rất là nguy hiểm, v́ từ trạng thái tĩnh lặng sẽ phát sinh sáu loại tưởng đầu tiên:

1-    Xúc tưởng hỷ lạc, là một cảm giác an lạc thích thú của xúc tưởng.

2-    Sắc tưởng là thấy ánh sáng hào quang hoặc thấy h́nh ảnh chư Phật chư Tổ, ma quỷ v.v..

3-    Thinh tưởng là nghe âm thanh hoặc tiếng nói trong tai v.v..

4-    Hương tưởng là cảm giác mùi thơm bay phảng phất.

5-    Vị tưởng là cảm giác nước miếng ngọt và đang tiết ra trong miệng.

6-    Pháp tưởng là hiểu thông suốt 1700 công án Thiền Tông và các loại kinh tưởng Đại Thừa.

Khi hành giả tu hành, gặp sáu loại tưởng này th́ bản ngă to lớn vĩ đại, kiến chấp sâu dày rất khó bỏ.

Định Hiện Tại An Lạc Trú là một tên gọi chung cho bốn loại Thiền Định Vô Thượng Tâm của Phật giáo là:

1- Sơ Thiền.

2- Nhị Thiền.

3- Tam Thiền.

4- Tứ Thiền.

Khi nhập vào bốn loại thiền định này trong hiện tại có sự an lạc, cho nên gọi là Hiện Tại An Lạc Trú Định. Nhập vào bốn loại thiền định này là phải tu hai loại định Thân Hành Niệm nội (hơi thở) và Thân Hành Niệm ngoại (hành động bên ngoài của thân).

Trong bốn loại thiền định này, có một loại định rất khó tu tập nhất, đó là Sơ Thiền. Sơ Thiền là một loại thiền xả tâm, nếu hành giả tu hành không biết chỉ cần sơ sót là rơi vào thiền ức chế tâm, th́ chẳng bao giờ nhập Sơ Thiền được.

Người muốn nhập Định Hiện Tại An Lạc Trú này th́ phải nghiêm tŕ và sống đúng giới luật không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt, luôn luôn lúc nào cũng phải pḥng hộ sáu căn giữ ǵn mắt, tai, mũi, miệng, thân và ư của ḿnh không cho dính mắc sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Vả lại, c̣n phải chấp nhận hạnh thiểu dục tri túc, sống đúng đời sống phạm hạnh của một vị Thánh Tăng th́ mới thực hiện được Hiện Tại An Lạc Trú Định.

Nếu không sống đúng một đời sống Phạm hạnh th́ khó mà nhập được các loại định này, v́ cánh cửa Sơ Thiền đóng rất kín nếu kẻ nào phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới th́ chỉ c̣n đứng ngoài cửa chứ không được vào. Tại sao vậy?

Tại v́ Giới luật c̣n vi phạm th́ thân tâm không thanh tịnh, thân tâm chưa thanh tịnh th́ tâm chưa ly dục ly ác pháp, tâm chưa ly dục ly ác pháp th́ không thể nào vào cửa Sơ Thiền được, không vào cửa Sơ Thiền được th́ khó mà nhập Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền. Như vậy Hiện Tại An Lạc Trú Định khó mà bước vào được.

Theo sự tŕnh bày tu tập của con là Định Niệm Hơi Thở, chứ không phải Định Hiện Tại An Lạc Trú đó là giai đoạn thứ nhất trong sự tu tập tỉnh thức của Định Niệm Hơi Thở để tỉnh thức xả tâm ly dục ly ác pháp, khi xả tâm ly dục ly ác pháp hoàn toàn th́ đó mới bắt đầu nhập vào Định Hiện Tại An Lạc Trú. Ở đây, con chỉ tu mới được phân nửa thuộc về tỉnh thức, c̣n phân nửa thuộc về xả tâm th́ hiện giờ con phải áp dụng vào phương pháp quán xét Tứ Niệm Xứ tức là tư duy suy ngẫm bốn chỗ: Thân, thọ, tâm và các pháp, xem trên bốn chỗ này có chướng ngại pháp hay không, nếu không chướng ngại pháp th́ con nên để tâm tự nhiên biết hơi thở ra vào chứ đừng bắt buộc hay ức chế tập trung tâm vào hơi thở.

Định Hiện Tại An Lạc Trú không khó nhập, nếu một người ngộ lư mười hai nhân duyên, thông suốt thế giới các pháp đều do duyên hợp mà thành, do đó trên thế gian này không có một pháp nào thường hằng vĩnh viễn, dù cho ai muốn giữ ǵn cũng không được. Có vật chất càng nhiều th́ càng khổ, cho nên càng xả bỏ ra th́ càng giải thoát, xả nhiều giải thoát nhiều, xả ít giải thoát ít, xả hết th́ hoàn toàn giải thoát. V́ thế, đời sống phạm hạnh của một vị Thánh Tăng chỉ c̣n ba y một bát, sống không nhà cửa không gia đ́nh, đó là giải thoát hết, nên đời sống của một vị Thánh Tăng là đời sống buông xả, đời sống giải thoát.

Phần nhiều tu sĩ và cư sĩ thời nay sống Phạm hạnh bằng h́nh thức bên ngoài mà trong tâm thật sự chưa xả, có nghĩa là trong tâm chưa nhàm chán thế gian, chưa thấy mười hai duyên hợp thật sự nên c̣n ham thích cái này, cái nọ.

Tâm chưa nhàm chán các pháp thế gian th́ khó mà nhập được Hiện Tại An Lạc Trú Định. Tuy rằng theo đường dây hơi thở mà nhập các loại định này, nhưng không nhàm chán các pháp thế gian th́ không bao giờ nhập được.

Định Hiện Tại An Lạc Trú phải theo đường dây hơi thở mà vào, chúng ta hăy lắng nghe đức Phật dạy trong kinh Nikaya: “Này các Thầy Tỳ Kheo! Ta trước khi chưa giác ngộ, chưa chứng chánh đẳng giác, c̣n là Bồ Tát.

Này các Thầy Tỳ Kheo! Do Ta tu tập nhiều với pháp môn này thân ta và con mắt không có mệt nhọc và tâm Ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ”.

Đoạn kinh trên, đức Phật chỉ cho chúng ta thấy, do khéo tu Hiện tại An Lạc Trú Định, thân và con mắt không có mỏi mệt, tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc và không có c̣n chấp thủ, nhưng phải do đường dây hơi thở mà tu tập, đường dây hơi thở mà đức Phật c̣n gọi là Định Niệm Hơi Thở và pháp hướng tâm. “Do vậy này các Thầy Tỳ Kheo! Nếu các Thầy muốn rằng: “Thân và con mắt khỏi bị mỏi mệt và tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ” th́ Định Niệm Hơi thở vô, hơi thở ra cần phải khéo tác ư”.

Cần phải khéo tác ư hơi thở vô hơi thở ra như thế nào và thân và con mắt không có mỏi mệt, c̣n tâm th́ được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ, chấp thủ ở đây có nghĩa là ức chế vọng tưởng. Hầu hết mọi người tu về Định Niệm Hơi Thở đều không hiểu chỗ này, cho nên tu tập hơi thở thành ức chế tâm như pháp Sổ Tức Quán và Lục Diệu Pháp Môn của các hệ phái phát triển.

Chúng ta hăy trở về Định Niệm Hơi Thở trong bài kinh Xuất Tức Nhập Tức thuộc kinh Nikaya Trung Bộ: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”, đó là câu hướng tâm theo hơi thở để tâm không bị ức chế vọng tưởng mà được nhẹ nhàng tự nhiên hơn, cho nên thân và con mắt không có mỏi mệt, tâm th́ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không bị ức chế. Đây, chúng ta nghe tiếp bài kinh Xuất Tức Nhập Tức: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô, quán ly tham tôi biết tôi thở ra”. Do sự tu tập khéo tác ư như vậy nên sự tu tập đạt được theo ư muốn của ḿnh.

Nếu chúng ta muốn cho tâm được thanh thản, an lạc và vô sự tức là đoạn tận vọng tưởng không c̣n xen vào trong tâm mà thân tâm không bị ức chế th́ chúng ta cũng nương theo hơi thở và tác ư như vậy: “Do vậy này các Thầy Tỳ Kheo! Nếu các Thầy muốn rằng các niệm các tư duy được đoạn tận” th́ Định Niệm Hơi Thở vô, hơi thở ra này cần phải khéo tác ư”.

Nếu trong đời tu hành của chúng ta c̣n dính mắc một điều ǵ không buông xả được cũng như không nhàm chán các pháp thế gian tâm vẫn c̣n ham thích th́ chúng ta cũng nên dùng Hiện Tại An Lạc Trú Định mà tu tập theo pháp hướng tâm như lời đức Phật dạy: “Do vậy, này các Thầy Tỳ Kheo! Nếu các Thầy muốn tu tập với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán” th́ Định Niệm Hơi Thở vô, hơi thở ra này cần phải được tác ư”.

Nếu muốn tâm giữ ǵn giới luật nghiêm túc, tâm không phóng dật, tâm ly dục ly ác pháp th́ cũng phải tu Định Niệm Hơi Thở như đức Phật đă dạy: “Do vậy này các Thầy Tỳ Kheo! Nếu các Thầy mong rằng ly dục ly ác pháp, các Thầy sẽ chứng đạt và an trú Thiền Thứ Nhất một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ” th́ Định Niệm Hơi Thở vô, hơi thở ra cần phải được khéo tác ư”.

Nếu quư vị muốn nhập Nhị Thiền th́ quư vị cũng phải nương vào hơi thở của Định Hiện Tại An Lạc Trú và khéo tác ư như lời đức Phật đă dạy: “Do vậy này các Thầy Tỳ Kheo! Nếu Tỳ Kheo muốn rằng: “Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền Thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ nội tỉnh nhất tâm, thời Định Niệm Hơi Thở vô, hơi thở ra này cần phải tác ư”.

Nếu quư vị muốn nhập Tam Thiền th́ cũng phải theo đường dây hơi thở và hướng tâm như lư của Tam Thiền tác ư th́ sẽ nhập Tam Thiền không mấy khó khăn như lời đức Phật đă dạy: “Do vậy, này các Thầy Tỳ Kheo, nếu các Thầy ước muốn rằng: “Mong rằng ly hỷ trú xả, Chánh Niệm Tỉnh Giác cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi chứng đạt và sẽ an trú Thiền Thứ Ba, th́ Định Niệm Hơi Thở vô và hơi thở ra này cần phải tác ư”.

Nếu quư vị muốn nhập Tứ Thiền th́ Định Niệm Hơi Thở vô, hơi thở ra cần phải được khéo tác ư như đức Phật đă dạy: “Do vậy này các Thầy Tỳ Kheo, nếu các Thầy ước muốn rằng: “Mong rằng đoạn lạc đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đă cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền Thứ Tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh” th́ Định Niệm Hơi Thở vô và hơi thở ra này cần phải được tác ư”.

Định Hiện Tại An Lạc Trú tức là Bốn Thiền Hữu Sắc, nhưng muốn tu Bốn Thiền Hữu Sắc th́ phải dùng Định Niệm Hơi Thở nhưng phải luôn luôn khéo tác ư đúng bốn trạng thái ly, từ, diệt, xả của Bốn loại thiền này.

 Ví dụ: Sơ Thiền muốn đạt được th́ phải ly dục ly ác pháp. Nhị Thiền th́ phải tịnh chỉ tầm tứ hay nói cách khác là diệt tầm tứ. Tam Thiền th́ phải ly các loại hỷ tưởng hay nói cách khác là ly hỷ trú xả. Tứ Thiền th́ phải tịnh chỉ hơi thở hay nói cách khác là xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh.

Những điều con đă tŕnh bày ở trên là tu tập tỉnh thức trong Thân Hành Niệm nội và đă được kết quả như ư, nhưng con phải dùng sự tỉnh thức này tu Tứ Niệm Xứ tức là con quán sát bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp nếu có niệm xảy ra trên bốn chỗ này th́ con dùng Định Vô Lậu quán xét đẩy lui các chướng ngại pháp đó, nên trong Tứ Niệm Xứ Đức Phật dạy:

1- Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu.

2- Trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu.

3- Trên tâm quán tâm để khắc phục tham ưu.

4- Trên pháp quán pháp để khắc phục tham ưu.

Thầy xin nhắc lại, muốn tu tập Tứ Niệm Xứ th́ trước tiên phải tu tập Định Niệm Hơi Thở như con đă tŕnh bày ở trên, sau khi tu tập Định Niệm Hơi Thở đă có sức tỉnh thức th́ lấy sức tỉnh thức đó áp dụng vào Tứ Niệm Xứ để khắc phục tham ưu tức là ly dục ly ác pháp.

Bây giờ con quan sát lại lộ tŕnh tu tập có ba giai đoạn đi vào Định Hiện Tại An Lạc Trú:

- Giai đoạn thứ nhất, con tu Định Niệm Hơi Thở để có tỉnh thức.

- Giai đoạn thứ hai, con dùng sức tỉnh thức của Định Niệm Hơi Thở tu Tứ Niệm Xứ để ly dục ly ác pháp, tức là con hoàn chỉnh giới luật thanh tịnh.

- Giai đoạn thứ ba, con dùng tâm ly dục ly ác pháp để nhập bốn loại thiền định hữu sắc đó là Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền tức là con đă hoàn chỉnh bốn thiền định Hữu Sắc.

Như vậy, ba giai đoạn này con đă tu được hai phần ba đường của đạo Phật, c̣n một phần nữa là xong nốt quăng đường giải thoát đó là Tam Minh.

Tóm lại, con đă tu từ 5’- 30’ tỉnh thức trong Định Niệm Hơi Thở, kết quả ấy con đem áp dụng vào Tứ Niệm Xứ để quan sát thân, thọ, tâm, pháp có chướng ngại pháp th́ con nên đẩy lui. Con nên hiểu giai đoạn này là giai đoạn tu tập ly dục ly ác pháp, giai đoạn cam go nhất của người tu hành theo đạo Phật và nó cũng là giai đoạn khó khăn nhất. Cho nên, phải tu tập nhiếp tâm cho được trong thân hành nội hay ngoại. Khi nhiếp tâm được chỉ trong khoảng thời gian 30’ th́ phải tập an trú cho được trong thân hành, c̣n nếu tập an trú chưa được th́ phải trở lại tu tập Định Vô Lậu xả tâm cho thật sạch, có như vậy mới an trú được.

Sự tỉnh thức của con tu đúng pháp khi áp dụng vào Tứ Niệm Xứ th́ rất dễ đẩy lui các chướng ngại pháp, đẩy lui các chướng ngại pháp tức là con đă ly dục ly ác ác pháp dễ dàng, không có khó khăn, không có mệt nhọc, c̣n sự tỉnh thức chưa đúng pháp th́ tu tập hay quên; c̣n đẩy lui chướng ngại pháp khó khăn là pháp hướng chưa có đủ lực, sự an trú chưa vững chắc, nhưng con hăy bền chí hướng tâm và tu tập an trú cho được th́ con sẽ đạt được kết quả như ư muốn.

ĐỊNH SÁNG SUỐT

Hỏi: Kính thưa Thầy! Những lúc nào con tu Định Sáng Suốt. Khi ngồi trên xe buồn ngủ, hoặc đang may vá buồn ngủ, con tu Định Sáng Suốt có được không?

Đáp: Được, khi buồn ngủ con nên tu Định Sáng Suốt, tu Định Sáng Suốt là con phải đi kinh hành hoặc ngồi ám thị hướng tâm mạnh, phải gằn giọng như ra lệnh: “Phải tỉnh thức sáng suốt như ban ngày, không được buồn ngủ nữa như ban đêm!”. Tốt hơn hết khi buồn ngủ th́ con nên đứng dậy đi kinh hành, nhưng con ngồi trên xe hoặc đang may vá buồn ngủ th́ không thể đi kinh hành được vậy chỉ c̣n có cách dùng pháp hướng tâm đuổi ma hôn trầm mà thôi.

Định Sáng Suốt là một loại thiền định để thư giăn khi làm việc cũng như tu tập quá sức nên sanh ra mỏi mệt lười biếng hôn trầm thùy miên, v.v..

Sau mỗi thời gian tu tập các loại định khác th́ lại xen kẽ Định Sáng Suốt vào để thư giăn thân tâm trở về trạng thái b́nh thường, khiến cho thân tâm bớt căng thẳng, bớt mỏi mệt và thoải mái dễ chịu hơn. Người tu tập thiền định mà không biết dùng Định Sáng Suốt thư giăn th́ càng tu tâm trí càng u tối, đần độn ai bảo sao nghe vậy chẳng biết phân biệt thiền nào của Phật và thiền nào của ngoại đạo.

Phần đông hiện giờ tu sĩ cũng như cư sĩ đều chịu ảnh hưởng của kinh sách phát triển, ngồi tu th́ ức chế tâm cho hết vọng tưởng họ nghĩ rằng hết vọng tưởng là thành Phật hay là chứng ngộ hoặc triệt ngộ, do đó có nhiều trường hợp xảy ra:

1/ Nếu người tu tập có hệ thống thần kinh tốt th́ không bị rối loạn, c̣n người tu tập có thần kinh yếu th́ bị rối loạn và điên khùng.

2/ Nếu người tu tập có hệ thần kinh tốt không bị rối loạn không điên khùng, nhưng v́ quá tập trung ức chế tâm không vọng tưởng nên nặng đầu, các cơ mặt bị căng khiến cho đau nhức khó chịu hoặc các cơ hoành hoặc ngực tức lói làm cho sự tu tập có lùi chứ không có tiến.

3/ Nếu người tu tập hệ thần kinh tốt và các cơ mặt, cơ hoành đều tốt th́ không bị rối loạn, không bị căng đau nên ức chế ư thức ngưng hoạt động, ư thức ngưng hoạt động th́ tưởng thức thay vào hoạt động, giống như người ngủ có chiêm bao, nhưng ở đây v́ tu tập ức chế nên con người vẫn hoạt động b́nh thường nhưng lại ư thức không hoạt động nên tưởng thức hoạt động với mức độ b́nh thường th́ đương nhiên người này có nhiều lư luận mơ hồ trừu tượng siêu h́nh vô vi mà đức Phật gọi những hạng người này là những hạng người sống trong tưởng tri như các nhà học giả, các nhà thần học, các nhà Đại Thừa như Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Mă Minh, v.v.. và các Thiền Sư Đông Độ.

C̣n tưởng thức hoạt động ở mức độ cao th́ họ sống hoang tưởng, nhưng họ chưa hẳn điên thật gần giống như người điên.

Đó là những trường hợp xảy ra cho những người tu thiền ức chế tâm mà không có phương pháp thư giăn, c̣n ngược lại thiền xả tâm của đức Phật tu hành không ức chế tâm mà c̣n có một loại định thư giăn như quư vị đă biết, đó là Định Sáng Suốt.

Cách thức tu tập Định Sáng Suốt có hai giai đoạn:

- Giai đoạn một:

 Ví dụ, lúc 7 giờ sáng bắt đầu chúng ta tu Định Niệm Hơi Thở đến 7g 30’ chúng ta xả ra nghỉ, xả nghỉ tức là thư giăn, thư giăn tức là tu Định Sáng Suốt. Muốn tu Định Sáng Suốt th́ chúng ta phải ngồi tựa lưng, buông thơng hai tay hai chân, các cơ trong thân cũng phải đều buông thơng xuống hết rồi chúng ta hướng tâm nhắc: “Các cơ trong thân buông xuống hết, thần kinh trong thân đều thư giăn hết, thân tâm phải thoải mái, nhẹ nhàng, thanh thản, an lạc và vô sự”, khi nhắc như vậy xong th́ ta buông thơng các cơ xuống không được gồng một cơ bắp nào cả và tâm th́ không được tập trung vào một đối tượng nào, để tự nhiên cho thân tâm tự do một cách dễ chịu.

- Giai đoạn hai:

 Ví dụ: khi thân tâm thoải mái dễ chịu th́ chúng ta hướng tâm nhắc:

Thân tâm phải thanh thản, an lạc và vô sự, tâm phải sáng suốt như ban ngày, như ánh sáng mặt trời”.

Trong thời gian thư giăn, thỉnh thoảng chúng ta lại nhắc câu pháp hướng như trên, cứ như vậy để giúp cho thân tâm nhẹ nhàng thoái mái cho đến hết giờ thư giăn

Trong lúc tu Định Sáng Suốt thư giăn như vậy và thân tâm cảm giác tỉnh táo nhẹ nhàng thanh thản an lạc và vô sự th́ đó là tu đúng bằng ngược lại là tu sai.

Khi thư giăn xong cơ thể phục hồi lại sức khoẻ cảm giác tỉnh thức và siêng năng ham tu, c̣n ngược lại th́ tu sai, bây giờ tiếp tục tu Định Chánh Niệm Tỉnh Giác vừa đi kinh hành vừa hướng tâm tỉnh thức theo bước đi mà cũng vừa hướng tâm ly tham đoạn ác pháp.

Khi đi kinh hành xong khoảng độ 30’ chúng ta ngồi lại xả nghỉ và thư giăn như trước, cứ như vậy chúng ta tiếp tục tu tập suốt ngày đêm không biết mỏi mệt và càng tu càng thấy tiến bộ rơ rệt tức là thấy thân tâm an lạc, thanh thản, vô sự giải thoát rơ ràng. Riêng về phần pháp hướng th́ thấy hiệu quả, cụ thể rơ ràng hơn, cứ ra lệnh là thân tâm làm theo như ư muốn của ḿnh.

KHI TU XONG, C̉N
THAM, SÂN, SI NỮA KHÔNG?

Hỏi: Kính thưa Thầy! Câu “v́ vô minh nên ta sống viễn ly” có phải người sống viễn ly như vậy tu toàn pháp quán, tưởng, Định Vô Lậu, tu không có đối cảnh để buông xả, ly dục ly ác pháp…. nhưng khi ra giữa chợ, họ c̣n thèm ăn, ai chửi mắng họ c̣n có tức giận và tham, sân, si nữa hay không?

Đáp: “V́ vô minh ta sống viễn ly”, Vô minh là không hiểu rơ, viễn ly là xa ĺa.

Câu này không có nghĩa bỏ cuộc đời sống một ḿnh trong rừng núi như các nhà Yoga, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm mà phải hiểu “V́ thông hiểu rơ các pháp nên các pháp đến ta đều bỏ xuống không cho dính mắc trong tâm”.

Tu không đối tượng không bao giờ có giải thoát chỉ là một dạng người yếm thế tiêu cực trốn đời, lánh khổ. Đạo Phật không chấp nhận điều này nên pháp môn hành thiền của Ngài, Thiền Thứ Nhất “ly dục ly ác pháp” diệt ngă xả tâm quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử, chỉ khi nào tâm không c̣n tham, sân, si, mạn, nghi nữa, th́ mới sống độc cư trong rừng núi một ḿnh để thực hiện những thiền định sau cùng. Xưa đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă trải qua nhiều kiếp tu hạnh “Nhẫn nhục”, “Tứ vô lượng tâm” (tu có đối tượng) đến kiếp cuối cùng Ngài mới thành Phật. Tu có đối tượng tức là “Hoa sen nở trong ḷ lửa”.

Người tránh cảnh, tu để tiêu dao, thảnh thơi an lạc không ai quấy rầy là người yếm thế như Lăo Trang (Tiên Đạo). Khi đụng đến đối tượng, bao nhiêu tâm phiền năo vẫn c̣n đầy đủ.

Đạo Phật không yếm thế, ngay cảnh phiền năo, giải quyết tâm ḿnh, buông xả hay viễn ly, tức bồ đề (giải thoát).

“V́ vô minh ta sống viễn ly”, câu này theo như các con hiểu khi tâm chúng ta c̣n tham, sân, si th́ nên sống tránh xa mọi người, t́m nơi thanh vắng yên tịnh, để tu tập thiền định đến khi nhập các định xong, nhờ các định sẽ quét sạch tâm tham, sân, si, điều này là ảo tưởng con ạ! Con nên nhớ trong Bát Chánh Đạo, Chánh Định không bao giờ đi trước Chánh Kiến, Chánh Tư Duy và Chánh Ngữ, v.v..

Các con nên nhớ, khi sống trong rừng núi một ḿnh tâm chúng ta không bao giờ chịu cô đơn, nó sẽ t́m mọi cách lư luận.

Cho nên, khi vào trong rừng núi ở tu một ḿnh tâm sanh ra nhiều thứ chướng ngại khiến cho chúng ta bỏ hạnh độc cư thường hay thỉnh thoảng đi tới đi lui như sư cô..., sư Thầy... C̣n ngồi lỳ trong thất tu hành mà không xả tâm lại ức chế tâm, nén tâm đến khi có pháp chướng ngại th́ tâm nổi lên sân ầm ầm như Minh Tông mà các con là những người đă trực tiếp chứng kiến sự tu tập từ đầu đến cuối hoàn toàn sống cách ly suốt gần năm năm, thế mà tâm Thầy vẫn c̣n phiền năo và sân hận như người b́nh thường chưa tu, rất uổng công tu tập gần năm năm trời một thời gian quá dài bây giờ trở về với một số “không”, chỉ c̣n có h́nh thức tu hành mà thôi, chứ xét nghiệm lại đức hạnh th́ cũng không có mà thiền định th́ lại rơi vào thiền tà giáo ngoại đạo của kinh sách phát triển, cho nên năm năm trời tu hành chẳng ích lợi cho ḿnh và cho người, bây giờ chỉ c̣n nói vọng ngữ lừa đảo với thiên hạ mà thôi.

“V́ vô minh ta sống viễn ly”, hiểu như các con đó là sai, v́ hiểu sai như vậy đă biến đạo Phật trở thành đạo yếm thế, nhưng để chứng minh cho các con thấy, các huynh đệ của các con đă để lại một kinh nghiệm sai lầm quá lớn “V́ vô minh ta sống viễn ly”.

Xưa, có một vị Ḥa Thượng ở trong rừng núi, ông xin một đứa bé hài nhi đem về núi nuôi dạy tu hành, khi đứa bé đến tuổi trưởng thành ông đưa về thành phố nơi phồn hoa đô hội “Ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Khi vào thành phố đứa bé thấy mọi vật cái ǵ cũng đẹp cũng lạ và nhất là phụ nữ th́ cậu ta lại càng thích hơn và hỏi Thầy: “đó là con vật chi thưa Thầy?”.

Vị Thầy trả lời: “Đó là con cọp”.

Cậu bé hỏi: “Con cọp có dữ không thưa Thầy? Sao con thấy nó dễ thương quá vậy”.

Vị Thầy trả lời: “Con cọp dữ lắm con ạ! Nó sẽ ăn thịt con đó, con đừng nên lại gần nó”.

Sau chuyến đi thành phố này trở về núi, cậu bé không c̣n vui đùa hồn nhiên như trước, luôn luôn lúc nào cũng có chiều suy tư. Một hôm cậu thưa với Thầy: “Kính bạch Thầy! Xin Thầy cho phép con mua con cọp đó về nuôi được không? Sao con ưa thích nó quá”.

Vị Thầy làm thinh không trả lời và suy tư: “Tu hành theo đạo Phật không thể tránh cảnh mà tâm thanh tịnh được, trực tiếp trong mọi cảnh và phải thấu suốt cảnh vật, có trực tiếp, có thấu suốt th́ mới buông xả được”, c̣n cậu bé này được cách ly thế giới bên ngoài từ lúc sơ sinh cho đến 18 tuổi chuyên ngồi thiền niệm Phật tụng kinh bái sám, nhưng ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh, bái sám chẳng giúp ǵ cho cậu buông xả được mà ngược lại khi trực tiếp vào cảnh th́ cậu bị lôi cuốn ngay từ lúc đầu “ái dục”.

Cho nên, câu nói “V́ vô minh ta sống viễn ly” đó là lời nói sai không đúng. Đừng hiểu lầm theo kiểu kinh sách phát triển, trí tuệ từ thiền định sanh ra, điều này không đúng, người ta cứ nghĩ rằng khi tọa thiền, ngồi im lặng thân tâm bất động tức là tâm hết vọng tưởng th́ trí tuệ sanh, hiểu như vậy là hiểu sai. Trí tuệ được phát triển từ chỗ quán xét tư duy đúng đạo đức nhân quả không làm khổ ḿnh, khổ người, c̣n ngược lại tọa thiền ức chế tâm, tâm không vọng tưởng, từ trong sự yên lặng đó tưởng tuệ phát sanh, khiến cho từ xưa đến này mọi nguời đều lầm tưởng rằng tưởng tuệ là trí tuệ, cho nên kinh sách của các Tổ viết ra đều do tưởng tuệ, chứ không phải trí tuệ.

 Cái sai thứ nhất của kinh sách phát triển và Thiền Tông là: Khi tâm hết vọng tưởng do sự tập trung ức chế ư thức mà cho là định th́ đó không phải định của đạo Phật, mà định của ngoại đạo.

Cái sai thứ hai là: Trong chỗ hết vọng tưởng phát sanh sự hiểu biết, mọi người đều lầm tưởng cho sự hiểu biết đó là trí tuệ, sự thật đó là tưởng tri chứ không phải trí tuệ. Đức Phật đă xác định trí tuệ ở đâu th́ giới luật ở đó, mà giới luật tức là đức hạnh, cho nên người có đức hạnh là người có trí tuệ, người có trí tuệ là người có đức hạnh.

Trí tuệ hiểu biết những tưởng pháp như hiểu biết trong kinh sách phát triển là tưởng tuệ, sự hiểu biết đó không ích lợi cho ḿnh cho người, sự hiểu biết đó chỉ là một hư luận. Từ xưa đến giờ các thiền sư dựng lên tṛ hư luận “công án” nói Đông trả lời Tây, nói Nam trả lời Bắc và c̣n hơn thế nữa là la, hét, chỉ, trỏ, v.v..

V́ hiểu không đúng nên mọi người khi nói đến tu thiền định th́ ai ai cũng nghĩ rằng phải t́m nơi yên tịnh vắng vẻ để tu tập thiền định, chừng nào đắc định th́ trí tuệ phát sanh, trí tuệ phát sanh sẽ quét sạch tâm tham, sân, si và các chướng ngại pháp, do sự hiểu lầm lạc mà người ta đẻ ra câu kinh này: “V́ vô minh ta sống viễn ly”.

Thuần Tâm là một hành giả Yoga, ông biên soạn và viết về các loại sách này có câu: “Có thiền định mới có trí tuệ, ngoài thiền định không có trí tuệ”. Nếu không có bài kinh Sonadanda trong kinh Nguyên Thủy th́ lấy đâu chỉnh đốn sự sai lầm này.

Đạo Phật lấy đức hạnh làm thanh tịnh trí tuệ, lấy trí tuệ làm thanh tịnh đức hạnh, do vậy mà người tu sĩ lấy đối tượng các chướng ngại pháp của cuộc sống đẩy lui khỏi tâm ḿnh bằng sự triển khai trí tuệ vô lậu, cho nên câu: “V́ vô minh ta sống viễn ly”. Muốn hết vô minh ta phải sống viễn ly các ác pháp chứ không phải sống viễn ly là tránh né trốn đời, trốn ác pháp.

Khi mà tránh né trốn đời, trốn ác pháp, t́m nơi yên tịnh, thanh vắng tu tập thiền định của Đại Thừa và thiền Đông Độ, khi triệt ngộ xong có nghĩa là họ đă thành một thiền sư chánh thức, khi họ xuống núi va chạm vào cuộc đời th́ tâm tham, sân, si họ vẫn c̣n đủ và có thể c̣n nhiều hơn nữa, bằng chứng các thiền sư Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam sống phạm giới, phá giới, sống ăn uống phi thời, chùa to Phật lớn, và mỗi vị Ḥa Thượng tịch đều xây tháp vĩ đại, khiến cho hao tài tốn của, mang nợ của đàn na thí chủ quá nhiều, mà họ có làm lợi ích được những ǵ cho ai đâu.

Vào đầu thế kỷ thứ 20 làn gió Thiền Tông từ Nhật Bản thổi sang Tây Âu làm dậy sóng và thức tỉnh Á Châu, nhưng bước sang đầu thế kỷ thứ 21 Thiền Tông bắt đầu tuột dốc, v́ người ta đă t́m thấy thực chất của nó là một tṛ hư luận ảo tưởng. Hai vị Thiền Sư lớn nhất của Việt Nam là Hoà Thượng Nhất Hạnh và Hoà Thượng Thanh Từ đă bắt đầu quay hướng về những lời dạy Nguyên Thủy của đức Phật, gần đây những bài giảng của hai Ngài rất gần với ư kinh Tứ Chánh Cần.

Tóm lại, tu hành thiền định của đạo Phật, không phải chỗ ngồi thiền, tụng kinh, bái sám, niệm chú, niệm Phật, v.v.. mà ở chỗ ngăn ác diệt ác pháp và đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm, th́ đó mới chính là tu thiền của đạo Phật.

PHIỀN NĂO TỨC BỒ ĐỀ

Hỏi: Kính Thưa Thầy! Người tu có đối tượng và người tu không đối tượng, vậy người nào tu mau kết quả hơn?

Đáp: Người tu có đối tượng kết quả xả tâm nhanh hơn, c̣n người tu không có đối tượng kết quả chậm hơn, nhưng phải biết nhiều khi có đối tượng tức là có chướng ngại pháp trong tâm mà không xả, chỉ có kham nhẫn chịu đựng, cho nên trong ḷng rất buồn phiền và đau khổ, đó là tu có đối tượng lại ức chế tâm thành ra tạo khổ thêm cho ḿnh chứ không có giải thoát. Tu có đối tượng dễ nhận xét được tâm ḿnh xả hay là ức chế rất rơ ràng, c̣n tu không có đối tượng, nên không biết ḿnh có xả được chướng ngại pháp trong tâm không, lúc nào cũng thấy tâm hồn ḿnh yên tịnh nhưng sự yên tịnh đó là sự yên tịnh không có đối tượng.

Trong đạo Phật lấy hạnh đi xin từng miếng, từng nhà để sống tức là tạo đối tượng diệt ngă xả tâm ly dục ly ác pháp, nhờ đi xin ăn nên va chạm với mọi giới trong xă hội, do đó mới rơ thấu được tâm ḿnh có xả hay không xả, bất động hay bị động, v́ thế sự tu tập có đối tượng dễ tu tập hơn là không có đối tượng. Hạnh đi xin ăn là một pháp môn tu xả tâm có đối tượng rất tốt; hạnh đi xin ăn được mọi người cung kính khen tặng cũng nhiều, nhưng chê bai khinh bỉ cũng không ít.

Cho nên, tu sĩ đạo Phật không thể sống một ḿnh mà sống chung trong tập thể, sống chung trong tập thể nhưng lại sống một ḿnh v́ pḥng hộ sáu căn nên ít tiếp duyên với mọi người để không tạo chướng ngại pháp trong tâm của người khác, c̣n những người khác thường hay tạo chướng ngại pháp trong tâm của ḿnh th́ ḿnh phải quán xét tư duy quét sạch những chướng ngại pháp đó ra khỏi tâm ḿnh, hằng ngày nên nhớ tu Tứ Niệm Xứ để khắc phục tham ưu, đó là tu trên bốn chỗ:

1/ Nơi thân.

2/ Nơi thọ.

3/ Nơi tâm.

4/ Nơi các pháp.

Hiện giờ các con tu tập quán xét về nơi các pháp nhiều nhất, pháp thiện và pháp ác, pháp ác luôn luôn dồn dập tới tấp nếu các con không đủ sức kham nhẫn, không đủ nghị lực chịu đựng, không đủ tri kiến giải thoát và không đủ trí tuệ nhân quả, th́ các con phải bỏ cuộc tu hành như các bạn của các con, trong bốn nơi tu tập này các con chỉ cần tu xả được một nơi là các con đă xả được tâm tham, sân, si của ḿnh chứ không phải các con tu hết bốn chỗ, hoàn cảnh của các con là tu nơi các pháp. Đẩy lui chướng ngại pháp trong tâm của các con là các con đă chiến thắng các ác pháp bên ngoài. Khi các con chiến thắng các ác pháp bên ngoài là tâm các con bất động, đó là một loại thiền định mà đức Phật gọi là Bất Động Tâm Định nó c̣n có một cái tên nữa là Vô Tướng Tâm Định.

Muốn chiến thắng nơi các pháp thuộc về Tứ Niệm Xứ như ở trên Thầy đă dạy:

1/ Phải đầy đủ sức kham nhẫn.

2/ Phải có nghị lực dũng mănh.

3/ Phải đầy đủ tri kiến giải thoát.

4/ Phải có trí tuệ nhân quả.

Khi các pháp ác dồn dập tới tấp như băo tố, sóng thần nếu chúng ta không đủ sức kham nhẫn th́ chúng ta sẽ bị băo tố và sóng thần cuốn trôi đi. Muốn có đủ sức kham nhẫn để không bị băo tố và sóng thần thổi cuốn trôi, th́ hằng ngày chúng ta nên tu tập pháp hướng tâm: “Tâm bất động như núi đá, khen không mừng, chê không buồn, chửi mắng, mạ nhục không giận phải trơ trơ như tường đồng vách sắt”, với những câu hướng tâm này các con cần phải thuộc ḷng và phải luyện tập cho có lực, khi gặp các pháp ác đến tới tấp th́ các con mới đủ sức kham nhẫn vượt qua và cuối cùng các con mới xả được.

Nếu là tu pháp xả tâm mà tu không đúng cách thức xả tâm khi ở một ḿnh th́ lại bị ức chế tâm mà không biết, trường hợp như quư Thầy và quư Cô và quư cư sĩ thích sống độc cư mà độc cư không trọn vẹn, độc cư không đúng cách, khi độc cư không trọn vẹn, không đúng cách trở thành ích kỉ, lười biếng, ăn không ngồi rồi, tưởng là ḿnh tu tập xả tâm, nhưng không ngờ lại ức chế tâm.

Các con nên lưu ư điều này trên bước đường tu tập, khi tâm c̣n phóng dật mà vội khép ḿnh độc cư một trăm phần trăm th́ đó là ức chế tâm. Cho nên, có nhiều người nhập thất chuyên ngồi thiền, hoặc niệm Phật, hoặc niệm chú, tưởng thực hành như vậy là sẽ nhập định và khi có thiền định th́ sẽ có trí tuệ, nhưng không ngờ sống một ḿnh tu như vậy là ức chế tâm, ức chế tâm là rơi vào tưởng tuệ, do tưởng tuệ phát sanh nên bản ngă càng lớn, bản ngă càng lớn th́ tâm tham, sân, si càng nhiều, như vậy là tu sai pháp của đức Phật lọt vào tà pháp của ngoại đạo.

Khi tâm hết phóng dật là tâm đă ly dục ly ác pháp, tâm đă ly dục ly ác pháp nên lúc nào tâm cũng định vào thân, nếu thân bất động th́ nó định vào sự bất động của thân, nếu thân c̣n động th́ nó sẽ định vào sự động của thân, do đó khi nó định vào thân, thân đi th́ nó biết thân đi, thân làm th́ nó biết thân làm, thân ngồi th́ nó biết thân ngồi, thân thở th́ nó biết thân thở, nó biết hơi thở ra và hơi thở vô, thân nằm th́ nó cũng biết thân nằm.

Chỗ này các con nên lưu ư phân biệt cho rơ ràng, khi tâm không phóng dật th́ tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh th́ tâm định trên ba nơi:

1/ Nếu thân đi hay làm việc ǵ th́ tâm định nơi hành động đi hoặc nơi hành động việc làm.

2/ Nếu thân ngồi hay nằm th́ tâm định nơi hơi thở vô, hơi thở ra.

3/ Nếu thân không hoạt động, không thở vô thở ra th́ tâm định trên thân bất động của nó chứ nó không có phóng tâm chạy theo các pháp bên ngoài.

Cho nên, người tu có đối tượng cũng như người tu không có đối tượng đều do sự tu tập đúng hay sai, có đối tượng mà nén tâm chịu đựng, ôm ắp đau khổ trong ḷng mà không nói ra được tức là ức chế tâm, có đối tượng mà tu như vậy cũng không có kết quả chỉ là làm khổ thân tâm của ḿnh mà thôi, tu có đối tượng mà quyết tâm t́m đường giải thoát, nhất định xả bỏ các ác pháp gây chướng ngại cho tâm th́ người ấy tu mau, v́ tâm như cục đất họ đă giải thoát trong mọi ác pháp, họ c̣n mang thân người nhưng tâm họ là tâm của bậc Thánh (bất động).

Tu có đối tượng dễ nhận được tâm ḿnh phàm hay Thánh rất dễ dàng và cũng dễ nhận ra ḿnh có ức chế tâm hay không rất cụ thể.

Tu không có đối tượng rất khó nhận ra tâm ḿnh phàm hay Thánh và cũng rất khó nhận ra tu có ức chế tâm hay không, khi mà nhận ra được th́ thân tâm đă thành bệnh và phí uổng một cuộc đời tu hành. Hầu như những người tu không có đối tượng phần nhiều là tu sai đều bị ức chế tâm như kinh sách phát triển dạy.

Tóm lại, tu có đối tượng, mà có nhiệt tâm, quyết xả bỏ các chướng ngại pháp, thường dẫn tâm vào chỗ thanh thản, an lạc và vô sự th́ tu rất nhanh, cho nên kinh dạy: “Phiền năo tức bồ đề”, nơi đâu có chướng ngại pháp th́ nơi đó có giải thoát, nơi đâu có phiền năo, có đau khổ th́ nơi đó có giải thoát, có giải thoát tức là có tu, c̣n nơi đâu không có chướng ngại pháp th́ nơi đó không có giải thoát, coi chừng bị ức chế tâm, tu mà muốn sung sướng nuông chiều, yên tịnh an ổn th́ nơi đó chỉ là tránh né, trốn chạy chướng ngại pháp, người tu mà cầu mong như vậy th́ đi tu chỉ uổng công mà thôi, phí một đời chẳng ích ǵ cho ḿnh, cho người mà c̣n ăn bám vào người khác.

NHỮNG PHÁP MÔN
CON GHI RA ĐÂY CÓ ĐỦ CHƯA?

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con ghi những điều để xả tâm và cách thức tu tập để xả như vậy có đủ không? Xin Thầy chỉ dạy thêm cho con được rơ.

Đáp: Về việc xả tâm ly dục ly ác pháp, con ghi như vậy chưa đủ, để Thầy ghi thêm cho được đầy đủ hơn:

                    i.    Định Vô Lậu câu hữu Ngũ Uẩn.

                  ii.    Định Vô Lậu câu hữu Tứ Niệm Xứ.

                iii.    Định Vô Lậu câu hữu Tứ Chánh Cần (Thập Thiện).

                iv.    Định Vô Lậu câu hữu nhân quả quá khứ, nhân quả hiện tại và nhân quả vị lai.

                  v.    Định Vô Lậu câu hữu Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.

                vi.    Định Vô Lậu câu hữu Tứ Vô Lượng Tâm.

              vii.    Định Vô Lậu câu hữu Tứ Bất Hoại Tịnh.

             viii.    Định Vô Lậu câu hữu Định Niệm Hơi Thở.

                ix.    Định Vô Lậu câu hữu các pháp Bất Tịnh.

                  x.    Định Vô Lậu câu hữu các pháp duyên hợp (Thập Nhị Nhân Duyên).

I- ĐỊNH VÔ LẬU CÂU HỮU NGŨ UẨN

Như thế nào là Định Vô Lậu câu hữu với Ngũ Uẩn?

Định Vô Lậu câu hữu với thân Ngũ Uẩn có nghĩa là quán xét tư duy phá chấp thân ngũ uẩn như:

1- Sắc Uẩn:

Quán xét sắc thân do bốn đại đất, nước, gió, lửa hoà hợp tạo nên không có ǵ là của ḿnh, không có ǵ là bản ngă của ḿnh, không có ǵ là ḿnh. Vậy, tại sao ta lại ngu si lầm chấp cho sắc thân này là của ta, thân này là ta, là bản ngă của ta, một ngày kia thân này hoại diệt đất phải trả về cho đất, nước phải trả về cho nước, gió phải trả về cho gió, lửa phải trả về cho lửa th́ cái ǵ c̣n lại là của ta, là ta, là bản ngă của ta nữa đâu. Thế tại sao mỗi khi bị người khen chê, chửi mắng, xỉ vả sắc thân là chó, là trâu, là đồ tồi, đồ bẩn thỉu th́ ta lại căm tức, thù hận oán ghét họ. Sự căm tức, thù giận, oán ghét họ là v́ ta không rơ, chấp sắc thân là có thật, là của ta, là bản ngă của ta.

Từ đây, ta hiểu rơ sắc thân không phải là ta, của ta, bản ngă của ta, mà là một khối duyên hợp do nhân quả tác thành hay nói cách khác hơn cho dễ hiểu là do môi trường sống tạo nên theo qui luật vô thường của nhân quả.

Khi quán xét như vậy, ta không c̣n dính mắc chấp đắm vào sắc thân, nhờ đó ta đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm một cách dễ dàng, các chướng ngại pháp trong tâm ta được đẩy lui th́ tâm ta vô lậu, do đó nó mới có tên là Định Vô Lậu câu hữu với Sắc uẩn.

2- Thọ Uẩn:

Chúng ta đă quán xét tư duy tu tập sắc uẩn xong, kế tiếp quán xét tu tập thọ uẩn, vậy tu tập thọ uẩn như thế nào, để đẩy lui chướng ngại pháp trong tâm?

Khi thân ta bị đau nhức khổ sở vô cùng, chúng ta tư duy quán xét thọ uẩn. Vậy thọ uẩn do duyên ǵ hợp lại mà có?

Thọ uẩn có là do duyên nhân ác tích lũy tạo thành do sắc uẩn hành, sắc uẩn hành ác nên sắc uẩn thọ khổ chứ không ai tạo tác khổ cho sắc uẩn cả, nếu sắc uẩn không hành ác th́ thọ khổ do đâu mà có được?

- Thọ uẩn có ba trường hợp xảy ra:

a) Thọ khổ

b) Thọ lạc

c) Thọ không lạc không khổ.

- Thọ uẩn hoạt động hai chỗ:

+ Hoạt động nơi sắc uẩn gọi là năo, hay là đau nhức.

+ Hoạt động nơi tưởng uẩn tức là tâm uẩn gọi là ưu hay là buồn phiền tức giận, lo toan, sợ hăi.

Nếu sắc uẩn và tưởng uẩn không hành ác pháp th́ không có thọ lạc, thọ khổ và thọ không lạc không khổ, không có ba thọ này sắc uẩn và tâm uẩn thanh thản, an lạc và vô sự, c̣n ngược lại sắc uẩn và tưởng uẩn hành ác pháp th́ có ba thọ hiện tiền khiến cho con người phiền năo đau khổ.

Cho nên, ba thọ có là do duyên nhân quả, nhân quả có là do hành, v́ vậy quán xét nhân quả của sắc uẩn là quán xét hành động nơi thân, miệng, ư. Nếu muốn ba thọ này không có th́ phải thường xuyên nơi thân, miệng, ư phải cảnh giác không làm, không nói, không suy tư điều ác luôn phải thể hiện điều lành tức là lúc nào cũng không làm khổ ḿnh, khổ người.

Do quán xét như vậy tâm chúng ta đẩy lui các chướng ngại pháp, đó là tu Định Vô Lậu câu hữu với thọ uẩn.

3- Tưởng Uẩn:

Kế tiếp chúng ta quán xét tưởng uẩn, tưởng uẩn tức là tâm uẩn. Tâm uẩn thuộc về loại vô h́nh nó không có h́nh sắc như sắc uẩn nhưng chúng ta cũng dễ nhận ra, nó thường khởi niệm tưởng, khi niệm có tức là tâm có, khi không niệm tức là tâm không, tâm không, không có nghĩa là không có tâm. Tưởng uẩn có ba trạng thái:

- Niệm thiện.

- Niệm ác.

- Niệm không.

Kinh sách phát triển lấy niệm không làm Phật Tánh (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm hoặc chẳng niệm thiện niệm ác bản lai diện mục hiện tiền). Trong khi tưởng uẩn chỉ là một trong bốn duyên kia kết hợp để tạo thành con người theo luật nhân quả, nói một cách khác để dễ hiểu hơn, tưởng uẩn là một duyên trong năm uẩn được kết hợp lại theo môi trường sống của luật nhân quả. Khi năm uẩn này tan ră hoại diệt th́ chẳng c̣n một vật ǵ trong năm uẩn này tồn tại. Người không có trí hiểu biết thường sống trong tưởng tri lầm chấp cho rằng thân ngũ uẩn này là ta, là của ta, là bản ngă của ta. C̣n như trên chúng tôi đă nói kinh sách phát triển lấy tâm không niệm tức là “tưởng không” làm Phật Tánh thật là lầm chấp sống trong ảo tưởng mà tưởng là thật tướng Niết Bàn, rồi chấp chặt thành thân kiến kiết sử mà không biết, tu măi từ đời Thầy Tổ đến con cháu, chít chắt mà vẫn chẳng có ích lợi ǵ, chỉ toàn dùng những ngôn ngữ lừa đảo những người sau.

Tưởng uẩn được kết hợp tạo thành bằng nghiệp thiện ác, nghiệp thiện ác được tạo thành bởi dục và ác pháp cho nên người tu sĩ theo đạo Phật phải t́m mọi cách ly dục ly ác pháp, đó là pháp đầu tiên mà họ cần phải tu tập, ly dục ly ác pháp tức là không tạo nghiệp thiện nghiệp ác mới nữa, không tạo nghiệp thiện nghiệp ác mới nữa tức là ly nghiệp thiện nghiệp ác mới, đó là khiến cho thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ư hành thanh tịnh. C̣n muốn ĺa nghiệp thiện ác cũ th́ phải ly hỷ tưởng đây là giai đoạn thứ ba của bốn thiền đạo Phật. Muốn ĺa nghiệp thiện ác cũ tức là ly hỷ tưởng th́ phải đóng tầm tứ mà trong kinh Phật dạy: “Diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền hay tịnh chỉ tầm tứ nhập Nhị Thiền”.

Khi diệt tầm tứ xong ta ly hỷ tưởng mới được, c̣n tầm tứ chưa diệt chúng ta không thể ly hỷ tưởng được, ly hỷ tưởng tức là ĺa nghiệp thiện ác cũ.

Ở đây xin quư vị nên hiểu trong bốn thiền có hai giai đoạn ly, một giai đoạn diệt, một giai đoạn xả.

-      Thiền Thứ Nhất: Ly dục ly ác pháp thuộc về sắc uẩn (ly là chừa bỏ hẳn, ĺa xa cảnh giác tâm tham dục và các ác pháp để nó không c̣n trở lại).

-      Thiền Thứ Hai: Diệt tầm tứ tức là ngưng sáu thức thuộc về sắc uẩn (diệt tức là không c̣n để nó trở lui, trở lại được).

-      Thiền Thứ Ba: Ly hỷ tưởng dục thuộc về tưởng uẩn (ly hỷ tưởng có nghĩa là ĺa hỷ tưởng, chứ chưa diệt bỏ hẳn phải cảnh giác kẻo nó sẽ c̣n trở tại).

-      Thiền Thứ Tư: Xả lạc, xả khổ, xả niệm thanh tịnh thuộc về sắc uẩn và tưởng uẩn, xả tức là bỏ không c̣n lấy lại. Do sự tu tập quán xét như vậy, khiến cho tưởng dục không c̣n sanh khởi, tức là chúng ta đă đẩy lui chướng ngại pháp trong tâm, đó là tu Định Vô Lậu câu hữu với Tưởng uẩn.

4- Hành Uẩn:

Hành uẩn là sự hoạt động của sắc uẩn và tưởng uẩn, chúng ta tư duy thấy các hành là vô thường, là khổ. Thế nào các hành là vô thường, là khổ?

Các hành thường có lúc hành thiện, có lúc hành ác, nhưng cũng có lúc cũng không hành thiện hành ác, sự hoạt động của các hành th́ không thường lúc như thế này lúc như thế khác, nên gọi là vô thường. V́ hành động có lúc thiện, lại có lúc ác nên tạo ra biết bao nhiêu là nghiệp khổ cho loài người nên kinh gọi các hành khổ là như vậy.

Một người tọa thiền thân không động, miệng không nói và ư không tư duy th́ giống như cây đá, đó là thiền của hệ phái phát triển, ngược lại thiền định của đạo Phật thân không hành ác, nhưng thân hành thiện, miệng không nói lời ác, nhưng miệng nói lời thiện, ư không suy nghĩ điều ác, nhưng ư suy nghĩ điều thiện. Cho nên, đạo Phật không chấp nhận hành không, không chấp nhận hành ác, chỉ chấp nhận hành thiện, v́ vậy tu theo đạo Phật không trở thành cây đá, mà trở thành một con người hữu ích cho ḿnh, cho người, có nghĩa là không làm khổ ḿnh, khổ người, tạo cảnh sống thế gian thành cơi Cực Lạc, Thiên Đàng. Khi quán sát hành uẩn như vậy chúng ta thấu rơ phải sử dụng hành uẩn nào cho đúng với Phật Pháp để ḿnh và người được giải thoát.

5- Thức Uẩn:

Trong bốn uẩn đầu chúng ta đă học xong và cũng biết cách tu tập, rèn luyện mỗi uẩn bằng giới luật và bằng thiền định. Như vậy chúng ta đă rơ, giới luật giúp chúng ta tu tập nhập Thiền Thứ Nhất hay nói cách khác là giới luật giúp chúng ta tu tập làm cho thanh tịnh sáu thức: Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ư thức, tức là giúp sắc uẩn và hành uẩn của chúng ta thanh tịnh.

 C̣n ba Thiền kia là: Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền được tu tập, được rèn luyện giúp tưởng uẩn và thọ uẩn của chúng ta thanh tịnh.

Thức uẩn là một uẩn cuối cùng được tu tập. Khi bốn uẩn kia đă thanh tịnh th́ chúng ta phải dùng pháp hướng đánh thức thức uẩn để triển khai trí tuệ Tam Minh, thức uẩn thanh tịnh có nghĩa là mầm mống lậu hoặc đă được quét sạch.

Tóm lại, thân ngũ uẩn phải được tu tập rèn luyện đúng pháp Giới, Định, Tuệ th́ mới thanh tịnh, bằng tu hành sai pháp, th́ chính là nuôi dưỡng thân ngũ uẩn trong các ác pháp thuộc về tà giáo ngoại đạo th́ đó một sự nguy cơ cho loài người trên hành tinh này không ít.

II- ĐỊNH VÔ LẬU CÂU HỮU TỨ NIỆM XỨ

Như thế nào là Định Vô Lậu câu hữu Tứ Niệm Xứ?

Như trong kinh đức Phật đă dạy Tứ Niệm Xứ, Tứ Niệm Xứ có bốn chỗ:

- Thân

- Thọ

- Tâm

- Pháp

Vậy, chúng ta tu tập Định Vô Lậu trên bốn chỗ này, nên gọi là câu hữu Tứ Niệm Xứ.

1- Thân Niệm Xứ:

Trong Tứ Niệm Xứ đức Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo quán thân trên thân nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời”. Chúng ta nên lưu ư lời dạy này: “Quán thân trên thân”, quán thân trên thân tức là xem xét thân của ḿnh coi có lậu hoặc hay không? Nếu có th́ phải khắc phục hay chế ngự không cho lậu hoặc tác động vào thân, v́ vậy mà đức Phật dạy: “Chế ngự tham ưu”, tham ưu tức là lậu hoặc.

Như vậy, trên thân quan sát thân có nghĩa là xem thân coi có chướng ngại pháp hay không, để đẩy lui các chướng ngại pháp ra khỏi thân không cho các chướng ngại pháp tác động làm khổ cho thân, như vậy tức là tu Định Vô Lậu câu hữu với thân Tứ Niệm Xứ. Hằng ngày chúng ta ngồi hoặc đi hoặc nằm hoặc đứng đều xem xét thân của ḿnh coi có chướng ngại pháp th́ đẩy lui cho khỏi, đừng để chướng ngại pháp trong thân dù một phút giây nào cả th́ đó là thân vô lậu mà thân đă vô lậu là giải thoát. Cho nên, đức Phật thường ca ngợi pháp môn Tứ Niệm Xứ là đạo lộ đệ nhất pháp vô lậu. “Này các Thầy Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu năo, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ”.

2- Thọ Niệm Xứ:

Đức Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời”. Lời dạy này quư vị nên lưu ư là phải luôn luôn xem xét từng phút, từng giây trên các cảm thọ của thân và của tâm, nếu các cảm thọ này làm chướng ngại cho thân và tâm th́ chúng ta t́m mọi cách đẩy lui không để chướng ngại pháp này trong thân tâm của chúng ta nữa th́ đó là khắc phục sự đau khổ giúp cho thân tâm giải thoát, khi thân tâm không c̣n chướng ngại pháp là thân tâm vô lậu, như vậy trên thọ quán thọ để khắc phục tham ưu tức là tu tập Định Vô Lậu câu hữu với thọ Niệm Xứ.

3- Tâm Niệm Xứ:

Lời Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời”.

Quư vị nên lưu ư lời dạy này “Trên tâm quán tâm” tức là dạy quư vị hằng ngày quan sát xem xét tư duy nội tâm của quư vị nó đang khởi những niệm ǵ, đang nghĩ ǵ, đang lo sợ, đang phiền năo bất toại nguyện, đang giận hờn ganh ghét, đang nghĩ suy những âm mưu thâm độc để hại người, đang tính toán những tṛ giải trí không lành mạnh, đang nghĩ những chuyện tào lao không ích lợi, đang khởi những niệm tưởng không đâu để độ người tu hành thiền định bằng những thần thông siêu việt, khiến cho mọi người quá kính nể phục lăn sát đất hoặc đang khởi những niệm làm thế này làm thế kia để cúng dường Phật, Pháp, Tăng v.v..? Tất cả những niệm khởi lên trong tâm được quan sát và xem xét cuối cùng phải được đẩy lui tất cả các niệm ra khỏi tâm không c̣n một bóng dáng nào cả. Khi tâm chúng ta chưa ly dục ly ác pháp th́ tất cả những niệm được khởi lên trong tâm đều là niệm ác, đừng nghĩ rằng chúng tôi khởi niệm làm ích lợi chúng sanh như: làm từ thiện, phóng sanh, bố thí, giúp người bằng cách này hoặc bằng cách khác trong khi tâm dục chưa ĺa ác pháp, chưa đoạn th́ những hành động đó chưa phải là thiện, đó là hành động làm danh, làm lợi khéo léo cho cá nhân ḿnh bằng những lư luận lừa đảo của nó.

Theo Phật giáo khi nào tâm thanh tịnh tức là tâm đă ly dục ly ác pháp th́ niệm khởi là niệm thiện c̣n chúng ta c̣n phàm phu th́ niệm khởi là niệm ác. Tại sao vậy?

Tại v́ tâm c̣n danh và lợi, cho nên tuy việc làm nh́n bên ngoài là thiện mà trong tâm là ác pháp. Việc làm thiện đó chẳng có phước báo v́ cả, người làm việc thiện này thường hay bị bệnh tật khổ đau v.v..

V́ thế, người tu Định Vô Lậu câu hữu Tâm Niệm Xứ luôn luôn quan sát tâm ḿnh xem coi có niệm ǵ khởi ra th́ mau mau t́m mọi cách đẩy lui niệm đó khỏi tâm, hướng tâm trở lại vị trí thanh thản, an lạc và vô sự của nó.

Tóm lại, người tu Định Vô Lậu câu hữu Tâm Niệm Xứ, tức là trên tâm quán tâm khi tâm có niệm khởi th́ phải đẩy lui niệm khởi đó ra khỏi nội tâm th́ chỗ này đức Phật dạy: “Nhiệt tâm, tỉnh giác”, phải luôn cảnh giác rất tỉnh ở niệm vừa khởi khi thấy mặt nó ngay liền đồng thời mổ xẻ niệm này ra nên đức Phật gọi là quán tâm tức là xem xét tư duy cho thấu suốt niệm đó, pháp môn này khác với pháp môn tri vọng, v́ tri vọng là biết vọng liền buông tức là không cần phải hiểu vọng thuộc về loại nào trong lậu hoặc, cho nên pháp tri vọng là pháp ức chế tâm c̣n pháp trên tâm quán tâm là pháp xả tâm, v́ những niệm, có niệm là một chướng ngại pháp cho tâm th́ nên quán xét đẩy lui, c̣n có niệm không phải là chướng ngại pháp của tâm th́ không cần đẩy lui.

Thưa quư vị! Niệm không chướng ngại tâm của quư vị đó là niệm thanh thản, niệm an lạc và niệm vô sự. Tại sao chúng tôi lại bảo thanh thản, an lạc và vô sự là niệm?

Thưa quư vị! Nếu tâm không niệm th́ tâm không, nhưng ở đây nó biết rơ ràng là có tâm thanh thản, an lạc và vô sự, v́ thế mà chúng tôi bảo niệm thanh thản, niệm an lạc và niệm vô sự, quư vị cứ suy ngẫm có đúng không? Niệm ấy có chướng ngại tâm không?

V́ nó không chướng ngại cho tâm nên chúng ta không đẩy lui nó.

4- Pháp Niệm Xứ:

Bây giờ chúng ta tu tập tới Định Vô Lậu câu hữu với Pháp Niệm Xứ. Đây là pháp thứ tư của Tứ Niệm Xứ, pháp này coi vậy chứ không đơn giản, nếu chúng ta không biết rơ nó th́ rất khó tu tạp vô cùng và chúng ta sẽ bị nhận ra tâm thanh tịnh sai lầm. Từ chỗ các pháp tác động khiến tâm sanh ra niệm thiện ác, từ chỗ các pháp tác động tâm sanh ra các cảm thọ cho thân và tâm khiến ra vô lượng vô biên chướng ngại pháp, v́ chính các pháp mà tạo cho tâm của chúng ta bất an và nếu chúng ta không chủ động điều khiển được tâm th́ tâm sẽ sanh ra muôn ngàn ác pháp khác để tạo thành nghiệp lực và nghiệp lực này sẽ tiếp tục tái sanh luân hồi măi măi trong muôn kiếp, muôn đời của chúng ta. Nghiệp lực này không phải một sanh ra một, mà một sanh mười, mười sanh trăm, trăm sanh ra vạn, vạn sanh ra triệu, v.v..

Hằng ngày trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của chúng ta, chúng ta đều quan sát thân, thọ, tâm, pháp xem coi có chướng ngại pháp hay không? Như trên đă dạy, nếu trên bốn chỗ này không có chướng ngại pháp th́ chúng ta xem tâm đang phóng dật ở chỗ nào? Thường tâm không phóng dật là tâm định trên thân, mà tâm định trên thân th́ tâm luôn biết hơi thở ra hơi thở vô một cách rất tự nhiên, chứ không bị ức chế hay bị bắt buộc phải tập trung trong hơi thở ra vô như các loại thiền khác. Đức Phật đă xác định khi nào tâm không phóng dật là tâm định trên thân, tâm định trên thân tức là tâm định trên hơi thở, tâm định trên hơi thở là tâm chỉ biết có hơi thở mà thôi. Nơi đây chúng ta phải lưu ư, khi tâm không khởi niệm th́ tâm hay phóng dật theo các pháp bên ngoài.

 Ví dụ: Khi tâm không có niệm th́ tâm thanh thản, an lạc và vô sự, nhưng tâm không định trên hơi thở (Thân Hành Niệm nội) mà lại phóng tâm chạy theo các sắc pháp bên ngoài thân, như tâm cảm nhận cỏ, cây, trời, mây, nước, núi, sông, v.v.. nói chung là tâm đang phóng dật theo tất cả các h́nh ảnh của sắc pháp. Người tu Thiền Đông Độ đến chỗ này họ cảm thấy như tâm ḿnh phủ trùm vạn hữu, cho nên Bà Long Uẩn nói: “Dễ dễ dễ, ư Tổ sư trên mỗi đầu ngọn cỏ”, ngược lại đức Phật bảo chỗ này tâm c̣n phóng dật theo các pháp nên chưa được định.

Người tu Định Vô Lậu câu hữu với Pháp Niệm Xứ th́ phải lưu ư điều này, nếu để tâm phóng ra ngoại cảnh lang thang trời, trăng, mây, nước theo âm thanh sắc tướng bên ngoài như Thiền sư Ba Tiêu của Nhật Bổn theo âm thanh tiếng con nhái kêu hay tiếng con ếch nhảy, tiếng nước kêu, đó là tâm đang phóng dật theo pháp chứ không phải tâm định, v́ thế người tu thiền định của đạo Phật phải cảnh giác điều này, khi mà tâm đi lang thang phóng dật như vậy th́ phải nhắc khéo cho tâm trở về hơi thở như đức Phật dạy: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”, nhưng không được ức chế nó mà phải để nó tự nhiên định vào hơi thở, chỗ này khi chúng chỉ cần biết là tâm đang phóng dật theo pháp trần th́ tâm định ngay liền trên hơi thở, bởi v́ tâm không c̣n khởi niệm nữa nên nó đă ly dục ly ác pháp, như chưa quen định trên hơi thở. Chỗ này đức Phật đă dạy: “Th́ Định Niệm Hơi Thở khéo tác ư”.

Tóm lại, Định Vô Lậu câu hữu với Tứ Niệm Xứ là một pháp môn thiền định dễ tu nhất hơn tất cả các pháp môn khác v́ nó không ức chế tâm, không tập trung tâm vào một chỗ nó luôn luôn quan sát trong bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp, nếu có chướng ngại pháp xâm chiếm vào bốn chỗ này th́ nó dùng tất cả mọi sự hiểu biết của các pháp ngăn ác, diệt ác pháp đẩy lui khiến cho tâm ở trong trạng thái thanh tịnh an lạc giải thoát. Nếu hằng ngày cứ giữ ǵn pháp này tu tạp th́ luôn luôn lúc nào cũng có sự giải thoát, kéo dài một phút sẽ giải thoát một phút, một giờ sẽ giải thoát một giờ, một ngày sẽ giải thoát một ngày, một tháng sẽ giải thoát một tháng. Sự giải thoát ấy tức là tâm ly dục ly ác pháp, tâm ly dục ly ác pháp là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là tâm thiền định, cho nên thiền định mà không ức chế tâm, không tập trung tâm mà lại có thiền định. Tu chỉ có mục đích xả tâm tham, sân, si mà lại có thiền định th́ thật là tuyệt vời, thiền định lại làm chủ sự sống chết và chấm dứt được sự tái sanh luân hồi.

Cho nên, trong kinh Nguyên Thủy đức Phật thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần để chúng ta lưu ư pháp môn này: “Này các Thầy Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu năo, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ”. (Kinh Niệm Xứ (Satipatthanasutta) trong kinh Trung Bộ tập 1 trang 131 thuộc tạng kinh Pali).

Hầu hết các nhà học giả không có kinh nghiệm tu hành trong Tứ Niệm Xứ nên dựa theo sự dẫn giải của đức Phật trong kinh mà không hiểu ư nghĩa của Phật muốn nói ǵ trong chín giai đoạn quán thân trên thân như:

1/ Quán niệm thân hành tướng nội (hơi thở), tỉnh thức trong hơi thở.

2/ Quán thân hành tướng ngoại như đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, co tay, duỗi tay ngó tới, ngó lui, mang bát, mặc y, v.v.. đó là tỉnh thức trong hành tướng ngoại thân.

3/ Quán niệm thân hành tướng ngoại và tướng nội như: đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, hơi thở, v.v.. và tất cả các cảm giác xảy ra toàn thể nội ngoại thân hành, tỉnh thức trong mọi hành động thân nội ngoại tướng sanh diệt.

4/ Quán thân bất tịnh để phá ngă chấp thân là của chúng ta.

5/ Quán thân tứ đại duyên hợp để phá chấp thân là vật thường hằng.

6/ Quán thân tử thi chết trương phồng hôi thúi để phá chấp thân là đẹp xinh thơm tho để nhàm chán sắc dục.

7/ Quán thân tử thi bỏ trong nghĩa địa bị các loài cầm thú xé ăn và loài côn trùng ḍi đục khoét để nhàm chán thân xa ĺa sắc dục.

8/ Quán bộ xương c̣n nối với những sợi gân để nhàm chán các pháp thế gian chẳng có ǵ là bền chắc.

9/ Quán bộ xương trắng để tránh tâm sắc dục và nhàm chán các pháp thế gian.

 Các nhà học giả dựa theo chín pháp quán thân trên thân trong kinh Tứ Niệm Xứ mà hiểu theo kiến giải của ḿnh rồi dạy người tu tập đă biến pháp môn Tứ Niệm Xứ thành một pháp môn ức chế và tập trung tâm quá căng thẳng, khiến cho mọi người tu tập thành bịnh các cơ mặt và thần kinh.

Các nhà học giả đâu hiểu rằng Tứ Niệm Xứ là bốn nơi để cho hành giả quan sát tư duy suy ngẫm để đẩy lui tất cả các chướng ngại pháp tức là những pháp làm cho tâm bất an, làm cho tâm khởi ham muốn. Chín pháp quán thân trên thân th́ có ba pháp tập tỉnh thức, c̣n sáu pháp xả các chướng ngại pháp để tâm hoàn toàn sống trong chánh niệm.

Người tu Định Vô Lậu câu hữu Tứ Niệm Xứ tức là quan sát bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp có chướng ngại pháp liền t́m mọi cách đẩy lui để lúc nào tâm cũng thanh thản, an lạc và vô sự như trên đă dạy, đó là sự giải thoát. C̣n nếu giải thích ṿng ṿng theo kinh Tứ Niệm Xứ th́ chỉ có người tu chứng mới hiểu được ư của đức Phật, c̣n người không tu chứng sẽ lư giải sai pháp khiến cho người đời sau tu hành chẳng có giải thoát mà c̣n rơi vào trạng thái có thể điên khùng bệnh tật, các sư một số hệ phái tưởng giải ra tu tập cho nên ông nào cũng không nhập định được chết một cách rất là đau khổ, không có vị nào làm chủ sự sống chết được, đó là kinh sách Nguyên Thủy mà các Sư tu hành c̣n như vậy, huống là kinh sách phát triển, Thầy nào Thầy nấy tu hành đến khi sắp chết đều nhe răng méo miệng khổ sở vô cùng, thật đáng thương! Đáng thương vô cùng, lúc c̣n mạnh tay khỏe chân th́ luận đông luận tây dạy người tu hành tưởng ḿnh như là Phật sống, không ngờ sự tu hành của ḿnh chưa ngả về tới đâu mà vội mưa pháp vọng ngữ để giết hằng loạt người ham tu thiền, ham tu có thần thông, cuối cùng Thầy tṛ dẫn nhau xuống địa ngục mà không biết.

III- ĐỊNH VÔ LẬU CÂU HỮU TỨ CHÁNH CẦN

Trên bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp của con, hằng giây, hằng phút, hằng giờ, hằng ngày, hằng tháng, hằng năm lúc nào con cũng phải quan sát bốn chỗ này và cảnh giác giữ ǵn không cho các ác pháp tấn công vào bốn căn cứ này, nếu vô ư để chúng tấn công th́ mau mau phải diệt chúng không để chúng sống trên các cứ điểm này dù là một giây một phút nào.

Nếu con siêng năng tu tập chỉ một pháp môn này con cũng làm chủ sự sống chết, chẳng cần phải tu những pháp khác. Bởi v́ pháp môn này là pháp môn tu thiền định đầu tiên của đạo Phật, đó là thứ thiền xả tâm giúp cho tâm con ly tham, đoạn ác pháp đem lại một nguồn giải thoát an vui cho ḿnh cho người, khiến cảnh thế gian thành Thiên Đàng Cực Lạc.

“Khi cư sĩ Visaka hỏi Ni Sư Diandinama:

 - Tu thiền phải lấy pháp ǵ tu?

Ni Sư Trả lời:

- Tu thiền phải dùng pháp Định Tư Cụ”.

Định Tư Cụ là Tứ Chánh Cần. Vậy chúng ta tu Định Vô Lậu câu hữu Tứ Chánh Cần tức là tu pháp thiền đầu tiên của đạo Phật như trên chúng tôi đă dạy, đó là một loại thiền rất lợi ích cho chúng sanh khi tu là có kết quả giải thoát ngay liền như đức Phật đă xác định: “Pháp Ta thiết thực cụ thể không có thời gian, đến để mà thấy”. Ngăn ác, diệt ác pháp trên Tứ Niệm Xứ tức là chúng ta ly dục ly ác pháp, ly dục ly ác pháp là không làm khổ ḿnh, khổ người, đó là một sự tu tập để xây dựng ḿnh có một đạo đức nhân bản. Một pháp môn thiền định tu tập để làm chủ bốn sự đau khổ của cuộc đời sanh, già, bịnh, chết, thế mà nó cũng là một pháp môn để cho con người rèn luyện tu tập trở thành một con người có đạo đức, một đạo đức cao thượng làm người không làm khổ ḿnh, khổ người.

Tóm lại, Định Vô Lậu câu hữu với Tứ Chánh Cần là pháp môn có lợi ích rất lớn quét sạch lậu hoặc khiến cho người tu hành giải thoát hoàn toàn, sống trong thế gian mà tâm bất động, đó là một pháp môn cần thiết cho cuộc sống mọi người trên hành tinh này.

IV- ĐỊNH VÔ LẬU CÂU HỮU NHÂN QUẢ

Hằng giây, hằng phút, hằng giờ, hằng ngày, hằng tháng, hằng năm lúc nào chúng ta cũng quan sát xem xét tư duy suy ngẫm trên ba chỗ xuất phát nhân quả thân hành, khẩu hành và ư hành.

Bất kỳ lúc nào cũng phải cẩn thận ư tứ cảnh giác và giữ ǵn không để thân hành ác, khẩu hành ác, ư hành ác, luôn luôn phải thể hiện thân hành thiện, khẩu hành thiện, ư hành thiện.

1- Thân hành thiện: Là thân không giết hại chúng sanh, không ăn thịt chúng sanh, không làm đau khổ chúng sanh và phải ư tứ để thân không vô t́nh giẫm đạp làm đau khổ chúng sanh.

Thân hành thiện là thân không lấy của không cho dù là vật nhỏ mọn như cây kim sợi chỉ, trái cà, trái ớt, cũng không được lấy.

Thân hành thiện là thân không tà dâm, đối với người cư sĩ, nghĩa là khi có vợ con hoặc có chồng con th́ không được dâm dục với người khác, dâm dục với người khác sẽ làm đau khổ gia đ́nh ḿnh và đau khổ gia đ́nh người khác, c̣n người tu sĩ th́ không nên dâm dục v́ dâm dục tức là thân hành ác pháp tạo ra sự khổ cho ḿnh cho người và làm cho Phật Pháp suy đồi.

2- Khẩu hành thiện: Là miệng không nói dối, luôn luôn phải nói lời chân thật, thấy, nghe sao nói vậy không được nói sai sự thật.

Khẩu hành thiện là miệng không được nói lời thêu dệt, chuyện xấu nói tốt, chuyện tốt nói xấu, chuyện sai nói đúng, chuyện đúng nói sai. Lúc nào cũng phải tránh nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện vô ích.

Khẩu hành thiện là miệng không nói lật lọng, không nói ngược ngạo, không vu oan giá họa cho kẻ khác.

Khẩu hành thiện là miệng không nói lời hung dữ, không chửi thề, không la mắng to tiếng, nạt nộ, hù dọa, v.v..

3- Ư hành thiện: Là ư không khởi nghĩ ham muốn một vật ǵ cả, ư không sân hận oán thù, ganh ghét ai cả, ư không si mê thường sáng suốt nhận rơ mọi hành động nhân quả thiện ác để luôn luôn ư nghĩ đến điều thiện không làm khổ ḿnh, khổ người.

Tóm lại, trên đây là tu Định Vô Lậu câu hữu với nhân quả tức là tu tập vô lậu trên đường đi lối về của nhân quả. Muốn cho các chướng ngại pháp không tác động vào thân tâm sanh ra lậu hoặc nên thường cảnh giác và giữ ǵn thân, miệng, ư không cho hành động ác luôn luôn phải thực hiện hành động thiện để tạo cảnh an vui cho ḿnh cho người, để tạo sự giải thoát cho ḿnh và các pháp chướng ngại không c̣n tác động được thân tâm, đó là sự giải thoát của Định Vô Lậu câu hữu với Nhân Quả thiện ác.

Định Vô Lậu câu hữu với nhân quả là một pháp môn ngăn các ác pháp tuyệt vời, nếu người nào siêng năng tu tập th́ thân hành, ư hành, khẩu hành không bao giờ làm khổ ḿnh, khổ người, đó là một hành động đạo đức cao thượng nhất trên thế gian này.

V- ĐỊNH VÔ LẬU CÂU HỮU TỨ DIỆU ĐẾ

Quán Tứ Diệu Đế tức là quán khổ, tập, diệt, đạo. Vậy quán khổ, tập, diệt, đạo như thế nào?

Đây là bốn chân lư của đạo Phật, từ khi bắt đầu có đạo Phật cho đến nay, chưa có ai dám thay đổi chân lư này, v́ nó là chân lư nên nó xác định đời sống của con người rất logique và khoa học nên giáo lư này mới được gọi là chân lư.

Cách đây mấy trăm năm có một số người muốn làm Sư Tổ của Phật giáo bài bác bốn chân lư này để sản sanh ra một chân lư mới trừu tượng và mơ hồ, đó là chân lư Bát Nhă Ba La Mật của Tổ Long Thọ là “Chân Không” để đả phá chân lư của đạo Phật “Vô khổ, tập, diệt, đạo”, kế tiếp có Vô Trước, Thế Thân, Mă Minh, v.v.. xúm nhau để xương minh chân lư này, nhưng nó chỉ là một chân lư ảo tưởng, nó không nói lên được sự thật của cuộc sống loài người th́ làm sao là chân lư được của thế giới hành tinh này.

Cho nên, các nhà tôn giáo và các nhà triết học đă đưa ra nhiều triết thuyết về chân lư, nhưng tất cả đều nằm trong những triết thuyết chân lư ảo tưởng của tưởng tri con người, v́ thế, những triết thuyết chân lư đó, chỉ sống trong một thời gian ngắn ngủi rồi chết đi, chỉ v́ nó không thiết thực lợi ích cụ thể đối với đời sống của con người, nó chẳng giống như triết thuyết chân lư của đạo Phật. Vậy, chúng ta hăy lắng nghe chân lư của đạo Phật đối với con người trên hành tinh này như thế nào? Mà nó được gọi là chân lư của loài người?

CHÂN LÍ THỨ NHẤT “KHỔ ĐẾ”

Khế kinh có câu: “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển”, lời nói này có quá đáng chăng? Chúng ta chưa vội xác định câu nói này mà hăy dùng Định Vô Lậu quán xét tư duy chân lư thứ nhất, rồi mới xác định sau. Người không hiểu biết cho rằng đời là một hạnh phúc, nhưng họ không ngờ những khoái lạc của cuộc đời đều là giả dối, lừa phỉnh, chẳng khác ǵ như người khát nước mà cứ uống nước mặn, càng uống lại càng khát và càng khổ đau. Cho nên, những sự vui của cuộc đời chỉ là tạm bợ, hào nhoáng như một lớp sơn bên ngoài mà thôi. Bản chất của cuộc đời là khổ đau. Cơi đời này là một biển nước mắt và mồ hôi của loài người, trong ấy, mọi người đang bơi lội, hụp lặn, ch́m nổi, trôi lăn. Nếu ai đă từng nếm mùi vị của cuộc đời th́ không ai bảo rằng đời là hạnh phúc, là sung sướng, người thấy rơ đời sống là khổ không ai hơn đức Phật, nên chân lư của Ngài đưa ra mọi người đều phải công nhận, chỉ có một vài người mang tà kiến mới cho nó là “vô khổ, tập, diệt, đạo”, như Long Thọ, c̣n các Tổ sau này chỉ là những người hùa theo, cho nên Thiền sư Thường Chiếu bảo: “Một con chó sủa, một bầy chó sủa theo”.

Không ai có thể kể ra hết mọi sự đau khổ trong thế gian, nhưng căn cứ vào lời dạy của đức Phật th́ có ba loại khổ:

1- Khổ khổ

2- Hoại khổ

3- Hành khổ

     Khổ khổ: Cái khổ chồng chất lên cái khổ; bản thân đă là khổ mà hoàn cảnh chung quanh lại đè lên bao cái khổ khác: đó là khổ khổ.

Chúng ta quán xét tự thân ḿnh là nạn nhân của bao nhiêu cái khổ, cái xấu xa đê tiện; thân thể là một bao đựng đầy thịt xương dơ bẩn hôi thúi bất tịnh, nếu một vài ngày không tắm rửa chăm sóc, th́ thối tha không chịu được. Vả lại, cái thân của chúng ta rất gịn bở mong manh; khát nước độ ba ngày, ngạt thở độ năm phút, đứt một mạch máu, bị nhiễm vi trùng độc… thế là mạng vong, không c̣n sống được nữa. Lại nữa, cái khổ sống chết bất ngờ mà không ai làm chủ, c̣n biết bao nhiêu cái khổ khác nữa chồng chất lên nhau, không sao tránh khỏi như: bệnh tật, tai họa đói khát, băo lụt, chiến tranh, động đất, hỏa hoạn, chiến tranh áp bức, sưu cao, thuế nặng, v.v.. đó là khổ khổ.

     Hoại khổ: Thật vậy, vạn vật trong vũ trụ có h́nh tướng đều phải bị hoại diệt v́ luật vô thường chi phối từng giây từng phút, nên không có vật ǵ được tồn tại măi, dù cho sắt đá lâu ngày cũng phải mục nát, to lớn như đất trời c̣n phải tan hoại. Yếu ớt nhỏ nhoi như thân người th́ mạng sống như bong bóng nước, như mây nổi giữa trời, như hoa phù dung sớm nở tối tàn, mỗi phút mỗi giây chúng ta đang sống là mỗi phút mỗi giây đang hủy hoại, dù cho chúng ta có sức khỏe, có quyền thế, có giàu sang, tiền của, châu báu, ngọc ngà, vàng bạc có chất đầy cả không gian này th́ cũng không cản ngăn, chống đỡ không cho thời gian hủy diệt đời sống của chúng ta được. Chúng ta hoàn toàn bất lực trước sự vô thường của thời gian.

“Tấc bóng thời gian một tấc vàng

Tấc vàng t́m được không ǵ khó

Tấc bóng thời gian khó hỏi han”.

Thật là khổ sở, tủi nhục, đau đớn cho kiếp sanh làm người.

     Hành khổ: Là chỉ cho mọi hành động của chúng ta thương, ghét, giận, hờn, lo lắng, ưa thích, ham muốn, v.v.. Vả lại, mỗi hành động của chúng ta đều mang theo bản chất thiện và ác; ác th́ làm khổ ḿnh, khổ người; thiện th́ không làm khổ ḿnh, khổ người, nhưng phần nhiều hành động thân, miệng ư của chúng ta thường đem đến sự khổ đau cho nhau hơn là đem đến sự an vui hạnh phúc. Bởi vậy, đức Phật dạy: “các hành là vô thường, là khổ”, lúc th́ nó hành như thế này, lúc th́ nó hành như thế khác, nó không bao giờ đứng yên lặng một chỗ. Nếu chúng ta chịu khó quan sát và sẽ nhận thấy rơ ràng: thân th́ chẳng lúc nào chịu im lặng, không đi th́ ngồi, không ngồi th́ đứng, không đứng th́ nằm, không nằm th́ làm việc này việc khác, lúc nào thân cũng động đậy trừ ra lúc nằm ngủ.

Miệng lúc nào cũng muốn nói chuyện không chuyện này th́ nói chuyện khác, nếu vắng một lúc không nói là đi t́m người để nói chuyện, con người vốn thích động không thích tịnh, sống độc cư trầm lặng một ḿnh chịu không nổi, cho nên các Tổ quở trách các đệ tử: “Không chịu để miệng đóng móc meo”.

Ư th́ lăng xăng nghĩ chuyện này sang chuyện khác như con ngựa không cương, như con vượn chuyền cây, không bao giờ dừng nghỉ. Đó là ba chỗ hành của thân con người, ba nơi đó nếu chúng ta không biết dừng nghỉ những hành động ác th́ sẽ mang lại cho ḿnh và mọi người biết bao nhiêu là muôn ngàn thứ đau khổ xảy ra, cho nên đức Phật nói: “hành là khổ” là vậy.

Ba thứ khổ này chia ra làm tám thứ khổ:

1/ Sanh khổ: Sanh ở đây có hai nghĩa đời sống và sự sanh đẻ.

a) Khổ trong lúc sanh ra: Người sanh và đứa bé được sanh đều khổ. Khi người mẹ mới mang thai đă bắt đầu biếng ăn, mất ngủ, nôn oẹ, dă dợt, bần thần, người gầy ốm trong những tháng đầu. Thai nhi mỗi ngày mỗi lớn, th́ người mẹ mỗi ngày mỗi mệt mỏi, nặng nề, đi đứng khó khăn, làm lụng chậm chạp. Khi gần đến ngày sanh th́ sự đau đớn không sao nói hết được. Đến ngày hoa khai nở nhụy, nếu thuận thai th́ người mẹ cũng đau đớn thập tử nhất sanh, khi sanh con ra mẹ phải chịu nhơ uế nhiều ngày, yếu đuối nhiều tháng, v́ máu huyết hao ṃn, ngũ tạng suy kém. C̣n nghịch thai th́ người mẹ phải bị mổ xẻ, 100 phần chết chỉ có một phần sống mà thôi, đôi khi giải phẩu người mẹ và phải chịu bệnh tật suốt đời khi sinh con.

C̣n đứa bé từ khi chào đời cũng phải chịu nhiều điều khổ sở. Chín tháng mười ngày trong bụng mẹ sống trong cảnh tối tăm chật hẹp. Đến kỳ sanh nở th́ thân c̣n phải chen qua chỗ chật hẹp như bị đá ép bốn bề, nên khi vừa thoát ra ngoài v́ khổ quá, vả lại c̣n bị móc miệng đau đớn không cùng nên vội khóc thét lên.

“Thảo nào lúc mới chôn nhao

Đă mang tiếng khóc ban đầu mà ra!”.

b) Khổ về đời sống: Khổ về đời sống có hai phương diện vật chất và tinh thần:

- Khổ về vật chất: Cuộc sống của con người đ̣i hỏi những nhu cầu thiết yếu như: món ăn, thức uống, y phục, nhà ở, thuốc men. Muốn có những nhu cầu ấy, con người phải lao động cần cù quanh năm suốt tháng, vất vả, khổ sở mới đổi lấy nó được, phải bằng mồ hôi nước mắt và sức lực của ḿnh. Nhiều khi, suốt đời làm lụng cơm không đủ ăn, nhà ở không đủ ấm.

Chẳng những đợi đến cảnh đói khát mới là khổ; ăn uống thất thường bữa đói bữa no, thiếu thốn trước sau cũng đă là khổ. Chẳng lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, hay ăn lông ở lỗ mới gọi là khổ; áo quần không đủ ấm, nhà cửa không che được nắng mưa đó cũng là khổ lắm rồi. Người nghèo đă khổ như thế th́ người giàu có khổ hay không?

Muốn có tiền bạc của cải tài sản, tất phải thức khuya dậy sớm, buôn tảo bán tần, đầu tắt mặt tối trong công việc, mồ hôi nước mắt đổ ra biết bao nhiêu mới có được, chứ đâu phải tiền bạc, của cải, tài sản ở trên trời rơi xuống mà phải bằng công sức và đầu óc tính toán, nhiều khi phải quên ăn, mất ngủ, nhưng khi đă có của cải rồi, đâu phải là sung sướng, phải lo giữ ǵn bảo vệ nó, nếu một mai bị trộm cướp, nước trôi, hỏa hoạn hoặc bị vua quan sung vào công quỹ th́ khổ sở vô cùng, có người v́ của cải tài sản mất mà điên, cũng có người v́ của cải mất mà phải buồn khổ đến chết, đó là khổ sở về vật chất.

- Khổ về tinh thần: Th́ không biết bao nhiêu sự khổ kể ra làm sao cho hết. Chúng tôi nêu lên một vài ví dụ như: thua kém mọi người từ ăn mặc đến nhà ở là chúng ta đă khổ, thua kém từ học thức đến địa vị trong xă hội là chúng ta cũng khổ, khổ từ những lời nói khen chê của kẻ khác, khổ v́ bị lừa gạt, bị áp bức, khổ v́ những người thù oán, khổ v́ bị kẻ khác khinh bỉ, v.v..

Tóm lại, về vật chất lẫn tinh thần trong cuộc sống của chúng ta có biết bao nhiêu là sự khổ đau, mà làm con người phải gánh chịu, cho nên chơn lư thứ nhất của đạo Phật là “Khổ Đế”. Khổ Đế là chỉ cho đời sống của con người khổ thật, khổ thật nhưng không phải biết khổ để mà trốn khổ, để mà tiêu cực yếm thế bỏ đời. đức Phật chỉ cho chúng ta thấy một sự thật hiển nhiên của cuộc sống là khổ như vậy để mà vượt lên trên những nỗi khổ đó, để xây dựng cho ḿnh, cho người có một nền đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người để biến cảnh thế gian thành cảnh giới Cực Lạc Thiên Đàng. Cho nên, kẻ nào thất t́nh thất vọng vào chùa tu hành để nhờ câu kinh tiếng kệ mà quên đi sự đau khổ của cuộc đời là kẻ hèn nhát không xứng đáng là đệ tử của đức Phật, c̣n kẻ nào mượn Phật giáo kinh doanh làm giàu trên mồ hôi nước mắt của tín đồ, ngồi mát ăn bát vàng là kẻ ăn cướp của đàn na thí chủ, của mọi người, bày ra nhiều tṛ mê tín lừa đảo, những người c̣n vô minh, mang nặng ḷng kiến chấp những phong tục tập quán lạc hậu. Đó là những loài ma vương đội lốt tu sĩ và cư sĩ Phật giáo để diệt Phật giáo, chứ không phải là chấn hưng Phật giáo.

2/ Lăo khổ: Con người đến lúc già, thân thể hao ṃn, tinh thần suy kém nên thể xác lẫn tinh thần đều khổ.

Càng già khí huyết càng hao ṃn, ngày càng mỏi mệt, hoạt động một cách yếu ớt, mắt lờ tai điếc, tay chân run rẩy, đi đứng khó khăn làm việc ǵ cũng phải nhờ đến kẻ khác, khi trời trở tiết th́ toàn thân đau nhức, đó là cơ thể già là khổ như vậy.

Càng già thân thể càng suy yếu, trí tuệ càng lu mờ, do đó sanh ra lẫn lộn, quên trước quên sau, hành động giống như kẻ ngây dại có khi ăn dơ, uống bẩn mà không biết, nói năng lặp đi lặp lại như người mất trí; ăn rồi bảo chưa ăn, chưa ăn bảo ăn rồi, có khi nói nhảm nhí một ḿnh thật đúng là già khổ.

3/ Bệnh khổ: Bất luận thân của chúng ta đau bệnh ǵ, từ cái đau lặt vặt như đau răng, nhức đầu, mỏi tay, mỏi chân cho đến những bệnh hiểm nghèo trầm trọng như ung thư, lao phổi, hoặc cùi phong, đái đường, lên máu, sơ gan cổ trướng, v.v.. đều làm cho con người phải đau khổ, nhức nhối, rên xiết… Nhất là những bệnh trầm kha th́ lại hành hạ xác thân, đắng cơm, nghẹn nước, cầu sống không được, cầu chết cũng không xong, oan oan ương ương thật là khổ năo.

Thân bệnh đau mà tiền th́ không, có người sau khi lành bệnh tiền bạc không c̣n, của cải tài sản bán sạch, chỉ c̣n hai bàn tay trắng, sống một đời sống tràn đầy sự khổ đau bất tận, cuộc sống là một màn đêm đen tối hướng về tương lai.

Đó là về bản thân phải chịu lấy những bệnh khổ, c̣n về những thân bằng quyến thuộc th́ buồn rầu lo sợ, cho nên, mỗi khi trong nhà có người bị bệnh, th́ cả gia đ́nh đều rộn ràng bâng khuâng đứng ngồi không yên, quên ăn mất ngủ, bỏ cả công ăn việc làm, thật đúng như lời đức Phật dạy: “Bệnh là khổ”. Khổ về tinh thần và khổ về thân xác vật chất, cho nên, ai có thân bệnh đều sợ cả, không ai mà không sợ bệnh khổ.

4/ Tử khổ: Trong bốn cái khổ của đời người là sanh, già, bệnh, chết, nhưng chết th́ ai nghe nói đến cũng đều kinh hăi, nhất là ai cũng biết rằng con người sớm muộn ǵ rồi cũng phải chết, nhưng nghe nói chết th́ ai cũng sợ, sợ nhưng không ai tránh khỏi. Chết là khi cơ thể tan ră, nhưng trước khi tan ră hoại diệt nó đau đớn từng đốt xương lóng tay, da thịt như ai đần, ai bầm rêm cả thân người, nằm không yên, ngồi không được, người đời thường gọi đó là lúc trăn trở để mà chết, nên trước khi chết, mọi người ai cũng phải chịu sự đau khổ tận cùng, sức chịu đựng thân mạng này, rồi mới chết. Cho nên, đức Phật dạy: “chết là khổ chứ không phải chết là hết khổ”.

Người đời thường nghĩ chết là hết khổ, sự thật không phải vậy, chết là một sự nối tiếp sự khổ. Hiện tượng người chết quá ư khổ th́ khi họ tái sanh cũng khổ và c̣n khổ hơn nữa, ngược lại, người chết không khổ th́ tiếp tục tái sanh không khổ.

Ở đây, chúng ta cần lưu ư, trong thế gian có bốn hạng người:

     Hạng người thứ nhất: Chết khổ là hạng người bị bệnh đau khổ sở vô cùng, ăn, ỉa, đái một chỗ, chịu hôi, chịu thối của xác thân tứ đại, cho đến khi chết phải đau nhức trăn trở khổ sở tận cùng, rồi mới chịu chết, đó là hạng người chết khổ.

     Hạng người thứ hai: Chết ít khổ là những hạng người bị bệnh mà không phát hiện ra, đến khi th́nh ĺnh đứt mạch máu năo hoặc rút tay giựt chân, méo miệng rồi ngă lăn ra chết, những người này thời gian thọ bệnh khổ rất ngắn, đó là hạng người chết ít khổ.

     Hạng người thứ ba: Chết không khổ là hạng người không bị bệnh đau ǵ cả nằm ngủ rồi ngủ luôn, đó là hạng người chết không khổ.

     Hạng người thứ tư: Làm chủ sự sống chết, họ muốn sống là sống và muốn chết là chết, chết lúc nào cũng tự tại dễ dàng, không phải chờ bệnh đau tận cùng rồi mới chết, đó là hạng người làm chủ sự sống chết như đức Phật và các bậc Thánh Tăng A La Hán.

Cho nên, trong đời sống của loài người có bốn hạng người như vậy.

     Hạng người thứ nhất, chuyên làm ác giết hại chúng sanh như những người làm nghề đồ tể, săn bắn, chài lưới, v.v..và những hạng người chuyên lừa đảo thiên hạ buôn thần bán Thánh, v.v..

     Hạng người thứ hai, có làm ác có làm thiện, nên chết ít khổ hơn.

     Hạng người thứ ba, sống chuyên làm thiện không làm khổ ḿnh, khổ người.

     Hạng người thứ tư, là những bậc tu hành toàn thiện, toàn định, toàn tuệ đầy đủ thần lực làm chủ nhân quả, chấm dứt luân hồi, nên luật nhân quả không c̣n tác động họ được.

5/ Ái biệt ly khổ: Con người sanh ra ở đời ai cũng có ḷng yêu thương, loài thú vật cũng có ḷng thương yêu, chúng cũng biết buồn thương và khóc, huống là con người như chúng ta, t́nh thương giữa vợ chồng, con cái, anh em, chị em, cha mẹ, quyến thuộc, bạn bè, thân hữu, v.v.. đang thương yêu mặn nồng thắm thiết mà bị sự bắt buộc chia ly, th́ thật không có ǵ đau đớn hơn khi kẻ bắc người nam hoặc kẻ c̣n người mất. Sự chia ly chia ra làm hai loại:

a) Sanh ly khổ: Một gia đ́nh đang sống trong cảnh sum họp, đầm ấm, an vui, bỗng có một hoàn cảnh bắt buộc hay v́ một thiên tai, giặc giă, v.v.. làm cho mỗi người bơ vơ, thất lạc nhau, kẻ đông người tây, kẻ nam người bắc, kẻ góc biển, người chân trời, nỗi nhớ mong, thương xót không cùng. Sự sống mà chia ly nhau là sự đau khổ không cùng nên người đời khổ quá mới nói ra lời: “Thà ĺa tử chứ ai nỡ ĺa sanh”.

b) Tử biệt khổ: Người ở đời mỗi lần chết là một lần vĩnh viễn không c̣n gặp nhau nữa, dù là ly biệt có khổ nhưng c̣n có ngày hy vọng gặp lại nhau, chứ một khi đă chết rồi th́ bao thuở được sum vầy nữa. Cho nên, trước cảnh chết, là một sự ra đi vĩnh viễn, làm người trước cảnh ấy ai mà chẳng nức nở, khổ đau, v́ thế trước cảnh này đă có nhiều người xót thương rầu rĩ không c̣n thích ăn thích ngủ, có người quá đau đớn tuyệt vọng v́ thương nhớ đến nỗi phải toan chết theo người thân thương quá cố của ḿnh, có người ôm quan tài của người quá cố lăn lộn nức nở nghẹn ngào nước mắt tuôn rơi lả tả dường như ai cắt ruột cắt gan ḿnh. Đó là cái khổ của tử biệt, mà sanh ra làm người ai ai cũng phải biết, và bao lần đứt ruột đứt gan nước mắt đổ xuống v́ những người thân thương ra đi vĩnh viễn. Chính bản thân chúng tôi, khi người cha thân yêu của chúng tôi ra đi vĩnh viễn, nước mắt của chúng tôi đă đổ xuống chan ḥa, cổ chúng tôi nghẹn ngào, chúng tôi thầm ước nguyện: “Con nguyện sẽ t́m cha cho bằng được dù bất cứ có gian khổ như thế nào con cũng không chùng bước trước mọi gian nguy thử thách trừ ra con chết, nếu c̣n một chút hơi thở dư tàn con cũng quyết t́m cha cho bằng được”. Lời nguyện ước này cộng thêm sự sách tấn của Hoà Thượng Thanh Từ: “Đạo Phật c̣n là c̣n một người tu chứng”. Những điều này đă tạo thành một mănh lực quyết liệt trong đời tu hành của chúng tôi để chiến đấu và chiến thắng từng tâm niệm ham muốn các ác pháp trong nội tâm của ḿnh. Cuối cùng, chúng tôi đă chiến thắng và măn nguyện.

C̣n hiện giờ, mọi người tu chỉ tu danh, tu lợi, tu mà sợ khổ, sợ cực nhọc, sợ đói, sợ khát, sợ chết, sợ mất sức, sợ bỏ của cải tài sản, sợ bỏ vợ bỏ con tọi nghiệp, tu mà c̣n tham muốn thần thông phép tắc hơn người, chưa tu được ǵ mà vội muốn làm thầy thiên hạ, vay mượn kinh sách của người xưa, nhai đi nhai lại những thứ bă mía lừa đảo người, cho nên tu hành chẳng ra ǵ.

Tử biệt sanh ly là nỗi khổ của loài người, thế mà đă đi tu, lại không lo giải quyết cho xong, đă bao nhiêu lần nước mắt tuôn rơi v́ mất cha, mất mẹ mà c̣n không biết, không lo. Cha mẹ c̣n hay mất ở nơi đâu, đi về đâu…? Vậy mà dám vỗ ngực xưng tên là con hiếu. Cha mẹ chết mặc cha mẹ, cứ măi lo tiền bạc, danh vọng, nhà cửa, chẳng c̣n ai hay biết ǵ, nhưng tiền bạc danh vọng đó, chết rồi cũng không mang theo được, chỉ c̣n lại nghiệp thiện ác mà thôi, để rồi tiếp tục trên con đường khổ đau như cũ, quanh quẩn trong ṿng luân hồi muôn đời muôn kiếp.

6/ Cầu bất đắc khổ: Người sanh ra ở đời, ai cũng có sự hy vọng, sự hy vọng càng nhiều th́ sự thất vọng càng to. Bất luận trong tất cả mọi việc làm, số người làm được đạt như ư muốn th́ quá hiếm mà kẻ thất bại th́ quá nhiều, cho nên gặp thất bại không có người nào là không khổ; có nhiều người thất bại quá tự tử; có nhiều người thất bại bỏ vào chùa tu; c̣n muốn đạt kết quả tốt đẹp, người ta phải vận dụng không biết bao nhiêu là năng lực, lao tâm tổn trí, quên ăn bỏ ngủ để đạt được kết quả như ư muốn, nhưng đến giờ phút cuối cùng không thành công th́ sự đau khổ không biết là dường nào.

Ví dụ: Như người buôn bán lỗ lă, người nông phu làm mùa thất bại, người học tṛ thi rớt, v.v.. th́ khổ sở và cay đắng biết là bao nhiêu, nói sao cho cùng.

“Gót danh lợi bùn pha sắc xám

Mặt phong trần nắng nám mùi dâu!”

(Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều).

Muốn mau làm giàu, nhiều người t́m mọi cách gian xảo lừa đảo lường gạt người, nhưng mưu gian chước lận, ăn lo hối lộ đổ bể, tài sản bị tịch thu, bản thân bị tù tội, gia quyến bị nhục nhă xấu hổ, không dám nh́n mọi người, thật đau đớn và khổ sở.

Trong cuộc đời nói về t́nh ái, biết bao nhiêu người t́nh duyên trắc trở, đưa đến sự quyên sinh v́ thất vọng thất t́nh. Trên đây là những sự cầu mong mà chẳng đạt được thành ra bao nhiêu thứ khổ.

7/ Oán tằng hội khổ: “Thấy mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt; ở chung với người nghịch như nếm mật nằm gai”. Lời nói này không sai, v́ gần những người thù oán th́ tâm ḿnh khổ sở vô cùng, cho nên kinh gọi là oán tằng hội khổ rất đúng vậy.

Người trong một gia đ́nh anh em ḍng họ quyến thuộc v́ tranh chấp một lí do nào đó, sanh ra bất ḥa với nhau, khi nh́n thấy mặt nhau cũng là rất khó chịu, hằng ngày phải thấy mặt nhau, v́ là t́nh thân quyến thuộc, ghét không ưa mà cứ gặp nhau là rất khổ tâm, muốn tránh mà tránh không được, ở gần có ngày phải đụng chạm to tiếng và có thể xảy ra án mạng, tù tội hoặc đi nằm nhà thương, bởi v́ thù oán nhau th́ phải có ngày đi đến chỗ khổ đau lớn, đó là Oán tằng hội khổ.

8/ Ngũ ấm xí thạnh khổ: Thân ngũ ấm của chúng ta gồm có: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm, năm ấm ấy luôn luôn sống trong động theo luật chi phối của nhân quả. Vả lại, năm ấm này được sanh ra từ vô minh, nên mỗi sự hoạt động của nó thúc giục theo ḷng ham muốn nên tạo ra biết bao nhiêu điều ác khiến cho ḿnh khổ và người khác khổ vô lượng vô biên.

Thân ngũ ấm bị luật vô thường chi phối, từng giây từng phút khiến cho sự thay đổi liên tục, từ trẻ đến già, từ mạnh đến ốm, từ bệnh đến chết, luôn luôn lúc nào cũng làm cho con người khổ sở buồn phiền, lo lắng, sợ hăi.

Sáu trần lôi cuốn, thất t́nh lục dục đắm say, khiến cho thân tâm khổ lụy vô cùng tận.

Vọng tưởng điên đảo, chấp trước dính mắc đủ thứ vật chất thế gian, nên chấp có ta, của ta và bản ngă của ta, do đó mới thấy c̣n, mất, khôn, dại, chấp có, chấp không, v́ vậy mà sanh ra rầu lo, đau khổ buồn phiền.

Thân ngũ ấm đi, đứng, ngồi, nằm nhiều quá, chịu cũng không nổi, v́ mỏi mệt tê đau nhức, cho nên phải có lúc đi, lúc nằm, lúc đứng, lúc ngồi, thân ngũ ấm bắt buộc phải động đậy liên tục như vậy th́ mới thấy dễ chịu, cái dễ chịu của sự động th́ làm sao mà được an vui, thanh tịnh chân thật? Nên đó là những sự khổ đau của thân ngũ ấm.

Thân ngũ ấm là một khối năm duyên hợp lại trong môi trường sống, nhưng hành động đều do nghiệp lực nhân quả tạo tác nên mỗi con người sanh ra, đều phải chịu theo qui luật nhân quả thiện ác khổ vui mà thọ hưởng hoặc chịu lấy sự khổ vui nhiều ít là tùy theo những hành động thiện ác, chứ không có một kẻ nào ban phước giáng họa cho loài người được.

Chỉ v́ sự mê lầm chấp đắm vật chất, cho rằng người nào có nhiều vật chất là hạnh phúc nên mỗi hành động luôn luôn kèm theo sự ích kỉ, nhỏ hẹp cho cá nhân của ḿnh, thường không những làm khổ người mà c̣n làm khổ ḿnh.

Đức Phật dạy: “là con người chứ không phải là con thú vật th́ phải làm thiện, làm thiện không có nghĩa làm việc từ thiện, mà làm việc thiện ở đây có nghĩa là không làm khổ ḿnh, khổ người”, như vậy các hành trong thân ngũ ấm mới không c̣n khổ đau nữa, chứ làm việc từ thiện theo kiểu hệ phái phát triển phước đâu th́ không thấy, mà bị kẻ khác lợi dụng th́ có, cho nên, tai họa bệnh tật khổ đau thường viếng thăm những người làm thiện này.

Trong kinh sách Nguyên Thủy Phật dạy: “Các hành là vô thường, là khổ”. Nhưng chúng ta học đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ ḿnh, khổ người của đạo Phật nên các hành đều thực hiện nhân quả thiện, mà các hành đă làm thiện th́ quả là phước mà quả phước th́ thân con người thanh thản, an lạc và vô sự, thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự đó là thân tâm thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh tức là thiền định, thiền định th́ thân tâm bất động, thân tâm bất động tức là các hành ngưng hoạt động, các hành ngưng hoạt động tức là chấm dứt sự vô thường và khổ đau, chấm dứt sự vô thường và khổ đau là phước vô lậu, là cảnh giới Niết Bàn tại thế gian.

Tóm lại, người tu Định Vô Lậu câu hữu với Khổ Đế tức là quán xét ba khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ để chúng ta rơ thấu và cố gắng tránh không làm khổ ḿnh, khổ người và điều đó khiến cho thân tâm chúng ta vô lậu, mà mục đích của đạo Phật là phải đạt tâm vô lậu.

CHÂN LƯ THỨ HAI “TẬP ĐẾ”

Định Vô Lậu câu hữu với Tập Đế, tức là chúng ta quán xét nguyên nhân sanh khởi sự khổ đau của con ngươzi để thấu rơ nó, có thấu rơ nó, chúng ta mới cố gắng ngăn chặn diệt trừ và đoạn dứt.

Vậy Tập Đế là ǵ?

Chữ Tập có nghĩa là nơi tập hợp mọi sự đau khổ, phiền năo của con người. Tập c̣n có nghĩa là nơi chứa nhóm, dồn thêm mỗi ngày một nhiều hơn.

Chữ Đế có nghĩa là sự thật, đúng đắn không sai. Tập Đế là một nguyên nhân của mọi sự khổ đau đă chứa nhóm và tích trữ lâu đời nhiều kiếp trong mỗi chúng sanh. Nói một cách khác hơn đó là cội gốc sanh tử luân hồi của loài người.

Cội nguồn sanh ra mọi sự đau khổ phiền năo của con người gồm có 10 phiền năo gốc là:

1/ Tham: Có nghĩa là ḷng tham lam như Hoà Thượng Thiện Hoa dạy: “Tánh tham có động lực bắt ta phải ḍm ngó, theo dơi những cái ǵ nó ưa thích, như tiền tài, danh vọng, miếng ăn, chỗ ở, v.v.. rồi nó xui ta lập mưu nầy, chước nọ để t́m kiếm cho được những thứ ấy. Điều tai hại nhất là ḷng tham không đáy, thâu góp bao nhiêu cũng không vừa; được một muốn có mười, được mười muốn có trăm. Tham cho ḿnh chưa đủ, và c̣n tham cho bà con quyến thuộc và xứ sở của ḿnh. Cũng v́ tham mà ăn không ngon, ngủ không yên; cũng v́ tham mà cha mẹ vợ con xung đột; cũng v́ tham mà bè bạn chia ĺa; cũng v́ tham mà đồng bào trở lại xung đột, xâu xé nhau; cũng v́ tham mà chiến tranh tiếp diễn, giết hại không biết bao sanh linh. Tóm lại, cũng v́ tham mà nhân loại và chúng sanh chịu không biết bao nhiêu điều thống khổ”.

Ḷng tham đă mang đến không riêng cho chúng ta khổ mà c̣n cả mọi người, không những trong quá khứ, hiện tại mà c̣n có thể kéo dài trong tương lai nữa.

2/ Sân: Có nghĩa là nóng giận, Hoà Thượng Thiện Hoa dạy: “Khi gặp những cảnh trái ư nghịch ḷng, như ḷng tham không được toại nguyện, th́ sân nổi lên, như một ngọn lửa dữ đốt cháy ḷng ta. Thế là mặt mày đỏ tía hay tái xanh, bộ dạng thô bỉ, nói năng hung dữ, có khi dùng đến vơ lực hay vũ khí để hạ kẻ làm trái ư, phật ḷng ḿnh. V́ nóng giận mà cha mẹ, vợ con, anh em xa ĺa, bạn bè ly tán; v́ nóng giận mà mọi người trở nên thù địch, nhân loại đua nhau ra chiến trường; v́ nóng giận mà kẻ bị tàn tật, người vào khám đường, kẻ mất địa vị, người tan sự nghiệp. Kinh dạy: “Nhất niệm tâm sân khởi, bách vạn chướng môn khai” có nghĩa là một niệm nóng giận nổi lên th́ trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra. Sách xưa dạy: “Nhất tinh chi hỏa, năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn”, có nghĩa là một đóm lửa giận, có thể thiêu đốt sạch muôn mẫu rừng công đức. Thật vậy, lửa sân hận đă bừng cháy lên giữa ḷng nhân loại và đă đốt thiêu không biết bao nhiêu công lao, sự nghiệp mà con người đă tốn biết bao nhiêu mồi hôi nước mắt mới tạo ra được”.

Đúng vậy những lời dạy trên đây rất thực tế và cụ thể để răn nhắc cho những ai c̣n mang đầy ắp tâm sân hận là một nỗi khổ đau tận cùng của kiếp người khi tâm sân khởi ngút ngàn.

3/ Si: Có nghĩa là si mê, mờ ám, biết không rơ, không chính xác, không đúng, Hoà Thượng Thiện Hoa dạy: “Si như là một tấm màn dày đặc, đen tối trùm lên trí tuệ của ta, làm cho ta không thể nh́n thấy được sự thật, phán đoán được cái hay cái dở, cái tốt, cái xấu. Do đó ta gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi, làm hại ḿnh hại người mà không hay. V́ si mà ḷng tham trở thành không đáy, bởi v́ nếu người sáng suốt thấy cái tai hại của ḷng tham, th́ người ta đă kềm hăm được một phần nào tánh tham. V́ ngu si mà lửa giận bùng cháy; nếu người sáng suốt biết cái tai hại của lửa sân th́ không để cho nó hoành hành như thế. Người xưa dạy: “Bất úy tham sân khởi, duy khủng tự giác tri”. Có nghĩa là không sợ tâm tham và sân, mà chỉ sợ tâm si mê. Nếu tâm tham sân nổi lên mà có trí tuệ sáng suốt ngăn chặn lại, th́ ḷng tham sân phải bị dập tắt, không c̣n làm ǵ được cả. Cho nên, đạo Phật lấy trí tuệ làm đầu, nếu đă có trí tuệ sáng suốt th́ ḷng tham sân không thể tồn tại được, cũng như khi đă có ánh sáng mặt trời lên th́ bóng tối tất nhiên phải tan biến”.

Đức Phật thường gọi tham, sân, si là ba độc, nó thường làm đau khổ chúng sanh và phải chịu nhiều kiếp sanh tử luân hồi, đọa vào ba cơi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

4/ Mạn: Có nghĩa là ngă mạn, kiêu căng, tự đắc. Ḥa Thượng Thiện Hoa dạy: “Là nâng cao ḿnh lên và hạ người khác xuống; tự thấy ḿnh là quan trọng mà khinh rẻ mọi người; ỷ ḿnh có tiền của, tài trí, có học thức, có cấp bằng Cao học như Tiến sĩ hay có quyền thế mà sanh tâm dương dương tự đắc, mục hạ vô nhân, khinh người già cả, hỗn láo với người đức hạnh, chà đạp người dưới, lấn lướt người trên”.

V́ ḷng ngă mạn tự kiêu tự đại cho ḿnh là hơn hết nên chẳng chịu học hỏi thêm những điều hay lẽ phải. Do đó, làm nhiều điều lầm lẫn sai quấy, gây ra bao nhiêu tội ác, phước lành tổn giảm, tội lỗi càng tăng, cho nên phải chịu sanh tử luân hồi muôn đời ngàn kiếp.

- Mạn có bảy thứ:

a) Mạn: Nghĩ ḿnh hơn người.

b) Ngă mạn: Ỷ ḿnh hay giỏi mà lấn lướt người.

c) Quá mạn: Ḿnh bằng người mà cho là hơn người, người hơn ḿnh mà cho là bằng.

d) Mạn quá mạn: Người hơn ḿnh nhiều mà cho ḿnh hơn người.

e) Tăng thượng mạn: Chưa chứng Thánh quả mà cho ḿnh đă chứng.

 f) Ty liệt mạn: Ḿnh thua người nhiều mà nói ḿnh thua ít.

g) Tà mạn: Người tu về tà mạn được chút ít thần thông, hoặc hiểu biết đôi chút việc quá khứ, vị lai, rồi khinh lướt người khác xem trời đất không c̣n ai.

5/ Nghi: Có nghĩa là ḷng nghi ngờ, ngờ vực, không tin. Hoà Thượng Thiện Hoa dạy: “Người nghi ngờ không làm được việc ǵ hết. Đối với người thân trong gia đ́nh, họ không tin cậy giao phó công việc; đối với bạn bè, họ nghi ngờ tất cả mọi thiện chí. Ngay đối với họ, họ cũng không tự tin nữa. Đă không tự tin, họ c̣n gây hoang mang cho người chung quanh, làm cho người ta ngă ḷng thối chí”.

Đối với đạo lư chân chánh như đạo Phật có một nền đạo đức nhân bản giải thoát tuyệt vời mà họ cũng không tin, nhưng họ lại tin theo tà giáo và những pháp môn mê tín, trừu tượng của kinh sách phát triển.

- Trong sự nghi ngờ có ba phương diện:

a) Tự nghi: Có nghĩa là nghi ḿnh. Chẳng hạn như đọc kinh sách đức Phật dạy: “Tu hành sẽ được giải thoát”, nhưng lại tự nghĩ rằng: “Chẳng biết ḿnh tu có được không?”. V́ ḷng do dự nghi ngờ ấy, nên không chịu tu hành.

b) Nghi pháp: Có nghĩa là nghi phương pháp ḿnh đang tu. Chẳng hạn như nghe kinh Tứ Chánh Cần dạy: “Ngăn ác, diệt ác pháp, sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp” th́ sẽ được giải thoát ngay liền hay như trong kinh Pháp Cú dạy: “Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ư. Thị chư Phật giáo”. Do sự nghi ngờ lời dạy này không biết kết quả có đúng hay không? Nên không tu tập.

c) Nghi nhân: Có nghĩa là nghi người dạy ḿnh, không tin ông Thầy dạy ḿnh, nghi pháp ḿnh đang tu không đúng là chánh pháp của Phật. Khi chánh pháp của Phật dạy mà ḿnh nghi là không phải pháp của Phật th́ đó là ḿnh đă đánh mất pháp chân chánh. C̣n Thầy dạy ḿnh tu học mà ḿnh nghi Thầy ḿnh là ḿnh đă bị đứt đầu, không c̣n cách nào cứu chữa được. Ở tại tu viện Chơn Như chúng tôi có một số đệ tử ham mê thần thông, nhưng chúng tôi không thể hiện thần thông, nên chúng mất niềm tin và không theo tu tập với chúng tôi nữa. Mục đích tu viện của chúng tôi hướng dẫn tu tập xả tâm ly tham đoạn diệt các ác pháp để đạt được tâm giải thoát không c̣n phiền năo, khổ đau, không c̣n tham sân, si, mạn, nghi nữa, giúp cho con người có một đời sống đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người, đấy là hạnh phúc giải thoát chứ không phải ngồi thiền nhập định năm bảy ngày hoặc kiến tánh thành Phật, hoặc tụng kinh niệm chú cho có thần thông phép lạ hoặc niệm Phật cầu văng sanh Cực lạc Tây phương, v.v.. Ở đây, chúng tôi dạy đúng theo đường lối tu tập của đạo Phật là hằng ngày không có tụng niệm lần chuỗi ngồi thiền ức chế tâm, mà chỉ có sống đúng giới luật và theo như những lời dạy trong kinh Tăng Chi tập 3 trang 30: “Ở đây này các Hiền giả, Tỳ Kheo ưa công việc, thích thú công việc; ưa nói chuyện, thích thú nói chuyện; ưa ngủ nghỉ, thích thú ngủ nghỉ, chuyên tâm ưa thích ngủ nghỉ; ưa hội chúng, thích thú hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa liên lạc giao thiệp, thích thú liên lạc giao thiệp, chuyên tâm ưa thích liên lạc giao thiệp; ưa hư luận, thích thú hư luận, chuyên tâm thích hư luận. Như vậy, này các Hiền giả, Tỳ Kheo sống nếp sống như vậy, khi lâm chung không được hiền thiện, khi mệnh chung không được hiền thiện. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỳ Kheo ái lạc có thân, không từ bỏ có thân để chân chánh chấm dứt khổ đau”. Đây là lời dạy chân chánh của đức Phật, muốn tu theo đạo Phật th́ phải tu đúng pháp, sống đúng pháp như lời dạy th́ mới có sự giải thoát, c̣n tổ chức gia đ́nh Phật tử này, Đạo tràng nọ th́ chỉ là một h́nh thức sinh hoạt Phật giáo theo kiểu giáo pháp phát triển, chứ tu tập chẳng có kết quả ǵ chỉ là một tṛ giải trí lành mạnh như bao nhiêu tṛ giải trí lành mạnh khác của xă hội, đó là những người đi t́m ái lạc của thân v́ họ là những người dư thừa thời gian không biết làm ǵ cho hết tuổi đời. Nếu không từ bỏ những tṛ giải trí này th́ không bao giờ chân chánh chấm dứt sự khổ đau. Nếu quư vị không tin lời chúng tôi nói th́ nên đọc lại đoạn kinh trên rồi suy ngẫm và xét lại từ xưa đến nay biết bao nhiêu Đạo tràng và gia đ́nh Phật tử họ đă được giải thoát những ǵ với con đường giải thoát này. Đối với đạo Phật thời gian sinh hoạt của quư vị rất là uổng phí khi: “Được thân người là khó”, nên đức Phật đă nhắc nhở:

“Tấc bóng thời gian một tấc vàng

Tấc vàng t́m được không ǵ khó,

Tấc bóng thời gian khó hỏi han”.

Thế mà quư vị sinh hoạt như vậy gọi là tu, tu như vậy có giải thoát được không? Quư vị cứ nh́n lại bản thân của quư vị th́ quư vị sẽ thấy, nếu chúng tôi nói thẳng thừng th́ quư vị không ưa chúng tôi, nhiều khi chúng tôi thấy quư vị như một con cờ dùng để cho người khác sử dụng nước cờ tôn giáo, chứ quư vị tu như vậy dù tu một triệu năm nữa cũng chưa thấy và hiểu biết sự giải thoát như thế nào?

Chúng tôi dạy đúng như lời Phật dạy cấm không cho tu sĩ và cư sĩ tập họp nói chuyện th́ họ không thích, họ muốn tu tập theo kiểu giáo pháp phát triển, sinh hoạt như các Đạo tràng và các gia đ́nh Phật tử, họ khoái hội họp, thích vui chơi, thích nói chuyện, thích ca hát, ngâm thơ, thích tụng kinh niệm Phật.

Chỗ tu hành của chúng tôi là chỗ tu t́m sự giải thoát, làm chủ bốn sự đau khổ của kiếp người sanh, già, bệnh, chết và chủ động đi vào con đường hoá sanh, chứ không chấp nhận chịu bó tay sanh nơi dâm dục bất tịnh, ô trược, bẩn thỉu, hôi thúi và khổ đau. V́ thế, ai muốn tu được th́ hăy sống đúng như lời đức Phật đă dạy, như chúng tôi đă dạy, nếu không sống được th́ đừng nên theo đạo Phật tu hành, chẳng có ích lợi ǵ mà c̣n làm cho kẻ khác phỉ báng Phật giáo.

Đạo Phật không cầu mong có nhiều người tu mà phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới, vô đạo đức làm người, làm Thánh. Thà chỉ cần ít người hay một người tu đúng pháp có giới đức hẳn hoi, có một đời sống phạm hạnh của bậc Thánh Tăng th́ Phật giáo mới c̣n rực rỡ trên thế gian này, dù chỉ có một người c̣n hơn đi đâu cũng gặp tu sĩ và cư sĩ mà đời chẳng đời, đạo chẳng đạo, họ sống với những nghề nghiệp lừa đảo thiên hạ thật là đau ḷng cho Phật giáo ngày nay. Giữa ban ngày thắp đuốc lên đi t́m một bậc giới đức khắp trên thế gian này không bao giờ có, toàn là những tu sĩ và cư sĩ phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới, v.v..

Nếu quư vị thấy sống không kham nổi trong giới luật của Phật, th́ quư vị đi tu làm ǵ, để phạm giới, phá giới như vậy, có ích lợi ǵ cho quư vị và cho người khác, nếu quư vị sống không kham, th́ quư vị ra đời mà sống, sống trong chùa mà bày ra những tṛ mê tín, dị đoan, cúng bái, tế lễ, xin xăm bói quẻ, v.v.. đó là đi ngược lại Phật giáo, cũng như quư vị thuyết giảng hư luận trừu tượng mơ hồ bằng lối chơi chữ để lừa đảo những người nhẹ dạ dễ tin để cầu được sự cúng dường.

Tóm lại, quư vị muốn tu theo đạo Phật th́ quư vị phải nghiên cứu Phật giáo cho kỹ, nếu thấy chúng tôi dạy đúng th́ xin vào tu, c̣n nếu thấy chúng tôi dạy không đúng th́ quư vị đừng xin vào tu thử, v́ sự tu thử sẽ làm quư vị phí th́ giờ vô ích mà c̣n sanh tâm nghi ngờ chánh pháp của Phật, tạo thêm tội lỗi như quư thầy: Thầy Chơn Đức, Thầy Từ Minh, Thầy Minh Tông, Thầy Thiện Thiền, v.v.. họ đă trở thành những người đệ tử bất nghĩa muôn đời ngàn đời để lại tiếng đời không tốt cho mai sau.

Tánh nghi ngờ làm cản trở sự tiến triển tu hành cũng như những sự việc khác, làm ngăn ngại mọi công tác hữu ích cho ḿnh, cho xă hội và cũng v́ tâm nghi ngờ khiến cho cuộc đời không vượt khỏi cảnh tối tăm khổ sở.

6/ Thân kiến: Có nghĩa là v́ không rơ nên lầm chấp thân ngũ uẩn tứ đại giả hợp này cho là ta, là của ta, là bản ngă của ta. Ḥa Thượng Thiện Hoa dạy về thân kiến: “V́ cái chấp sai lầm ấy, nên thấy có một cái ta riêng biệt, chắc thật không biến đổi, thấy cái ta ấy là riêng của ta, không dính dấp đến người khác, và xem nó là một thứ rất quư báu. V́ tưởng lầm như vậy, nên kiếm món ngon vật lạ cho ta ăn, may sắm quần áo tốt đẹp cho ta mặc, lo xây dựng nhà cao cửa rộng, chùa to Phật lớn v.v.. cho ta ở, thâu góp thật nhiều của cải, đất ruộng để dành cho ta dùng, kiếm công danh chức tước, địa vị cho ta hănh diện với mọi người. Do sự quư chuộng cung phụng cho cái ta ấy, biến Phật giáo thành tà giáo mê tín; gây mê muội và lạc hậu. Do sự quư chuộng cung phụng cho cái ta ấy mà tạo ra lắm điều tội lỗi, chà đạp lên bao nhiêu cái ta khác, làm cho họ đau khổ v́ ta. Và thế giới trở thành một băi chiến trường cũng v́ cái ta”.

Chúng ta hằng ngày chịu nhiều đau khổ cũng chính v́ Thân kiến tức là cái kiến chấp về thân. Nó là một trong bảy kiết sử trói buộc và sai sử chúng ta như một tên nô lệ rất khó mà bứt bỏ, nếu không có pháp như lư tác ư của đức Phật dạy th́ khó có pháp nào diệt thân kiết sử này được, nếu hằng ngày chúng ta không siêng tu pháp như lư tác ư th́ chẳng bao giờ chúng ta bứt được sợi dây thân kiết sử này, cho nên, đức Phật thường nhắc đi nhắc lại câu pháp hướng này: “Thân này không phải là ta, không phải của ta, không phải bản ngă của ta”. Câu này quư vị nên nhớ mà hướng tâm hằng ngày đừng nên biếng trễ và xem thường, đó là lời tâm huyết mà đức Phật đă dạy cho chúng ta v́ thương tưởng chúng ta vô minh mà lầm chấp thân kiến chịu khổ muôn đời.

7/ Biên kiến: Có nghĩa là chấp một bên, nghiêng về một phía, đó là những thành kiến rất cực đoan. Biên kiến có nhiều lối chấp sai lầm lớn nhất là:

a) Thường kiến: Có nghĩa là một loại luận thuyết mơ hồ trừu tượng, cho rằng người chết c̣n linh hồn, cho rằng có thế giới siêu h́nh, có bản thể vũ trụ, có tiểu ngă, đại ngă, có thần thức, có Phật tánh, có Thiên đàng, có địa ngục, có Ngọc Hoàng Thượng Đế, có Chúa Trời, có Thần, quỷ, ma, v.v..

Những người chấp thường kiến là những con người thường sống trong mê tín, lạc hậu, sống trong mộng tưởng, xây dựng cảnh giới siêu h́nh thường cầu cúng lễ bái và ước vọng làm những điều thiện để khi chết được sanh lên Cực lạc, Thiên đàng của cơi Trời, cơi Niết bàn hay cảnh giới chư Phật, Thiền Tông, Mật Tông đều thuộc về thường kiến.

b) Đoạn kiến: Đoạn kiến là một loại luận thuyết chết cứng, khô cằn, chết là hết không c̣n ǵ cả, loại luận thuyết này, khiến cho con người mất hết niềm hy vọng về tương lai. Cho nên, người ta đặt ra câu hỏi: “Tương lai không có th́ hiện giờ làm để làm ǵ?”. Ngày mai chết là hết, v́ vậy con người chấp đoạn kiến th́ làm bao nhiêu ăn bấy nhiêu, chẳng c̣n biết nghĩ đến ai cả, sống chỉ quay cuồng trong dục lạc, ăn uống vui chơi trụy lạc, x́ ke, ma túy, rượu chè bê bết, sống theo kiểu hiện sinh không có ngày mai. Ḥa Thượng Thiện Hoa dạy: “Đối với hạng người chấp đoạn kiến, th́ hễ tắt thở là không c̣n ǵ tồn tại nữa; tội cũng không mà phước lại cũng chẳng có. Họ không tin nhân quả luân hồi, nên mặc t́nh làm các điều tội lỗi. Họ tự bảo: “Tu nhân tích đức già đời cũng chết; hung hăng bạo ngược tắt thở cũng không c̣n”.

V́ chấp đoạn kiến, có người đứng trước cảnh thất t́nh, thất vọng, hoặc gặp cảnh buồn ḷng nghịch ư, tưởng rằng chết là hết đau khổ, là giải thoát tất cả khổ, nên họ không ngần ngại mượn chén thuốc độc, hay ḍng sông sâu hoặc sợi dây oan trái để kết liễu đời ḿnh. Họ đâu có ngờ rằng chết rồi vẫn chưa hết! Họ đâu biết rằng luật nhân quả nghiệp báo là một vật thường hằng bất biến của môi trường sống, ngoài những hành động ác thiện của loài động vật ra khi chết, không có ǵ c̣n lại cả. Chính v́ những hành động của loài đông vật là một tác nhân tạo ra nghiệp, cho nên đức Phật dạy: “Nghiệp là cha đẻ ra con người, con người là thừa tự nghiệp”. Như thế làm sao gọi là đoạn kiến. Khi chết trong ác nghiệp khổ đau th́ nghiệp khổ đau ấy vẫn phải tiếp tục tái sanh trong nghiệp nhân quả đau khổ kế tiếp.

Người chấp đoạn kiến là những người không thông suốt môi trường sống hợp duyên của các pháp. Trong môi trường sống này không có một vật ǵ sanh ra mà đơn điệu toàn là các pháp hợp lại tạo thành.

Ví dụ 1: Không thể có một người đàn ông cũng như một người đàn bà đơn điệu tự một ḿnh sanh ra con được, mà phải có hai người nam nữ lấy nhau tạo duyên ngũ uẩn ḥa hợp mới thành ra con người.

Ví dụ 2: Không thể lấy một cây cột, lấy một tấm tôn, một miếng vách mà bảo rằng vật đó là cái nhà được, một cái nhà phải có các vật hợp lại như: cột, kèo, vách, tôn, cửa lớn, cửa nhỏ rồi tạo dựng ra cái nhà. Đó là các pháp trong môi trường sống này đều do duyên hợp mà thành, nhưng bảo rằng khi hoại diệt th́ không c̣n ǵ hết là sai (đoạn kiến) mà bảo rằng c̣n th́ cũng sai (thường kiến), đó là hai cái sai của những lư luận này.

c) Vừa thường vừa đoạn kiến: Có một luận thuyết cho rằng các pháp trong thế gian này vừa có vừa không như Ngài Long Thọ: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, đó là lối lư luận trườn uốn như con lươn, để rồi Ngài đẻ ra trí tuệ Bát Nhă Chơn Không thành ra thường kiến, cuối cùng Ngài cũng như các nhà thường kiến khác, nhưng giỏi khéo lư luận để che mắt thiên hạ, chứ kỳ thực Chơn Không của Ngài đâu có khác ǵ thần thức, linh hồn, đại ngă, Phật tánh, bản thể vạn hữu, chỉ có khác là danh từ mà thôi.

Do những lư luận này đă biến những tu sĩ Phật giáo thành những nạn nhân, bỏ biết bao nhiêu công lao sức lực tu hành, cuối cùng chẳng ra ǵ, khổ đau cũng hoàn khổ đau, chẳng có ai làm chủ sanh, già, bệnh, chết cả.

8/ Kiến thủ: Có nghĩa là chấp chặt sự hiểu biết sai lầm của ḿnh có ba trường hợp:

a) Kiến thủ v́ ảnh hưởng tư tưởng của người khác. Khi học hiểu một điều ǵ do lư luận của các nhà tư tưởng như tưởng Chơn Không, Phật Tánh,v.v.. Cũng như thấy những hiện tượng nhập đồng nhập cốt do cô cậu hoặc linh hồn người chết oan nhập vào nói đâu trúng đó, rồi cho đó có linh hồn người chết, có thế giới siêu h́nh rồi chấp chặt ai nói ǵ cũng không tin. Không ngờ thế giới siêu h́nh là do tưởng uẩn tạo thành chứ không có thế giới siêu h́nh thật sự. Do sự chấp chặt này họ phải chịu thiệt tḥi nhiều mặt về sự tu hành cũng như về đời sống.

b) Kiến thủ v́ không ư thức được sự sai lầm của ḿnh. Ḥa Thượng Thiện Hoa dạy: “Hành vi của ḿnh sai quấy, ư kiến của ḿnh sai lầm, nhưng v́ không đủ trí sáng suốt để nhận thấy, nên cứ bảo thủ hành vi, ư kiến của ḿnh, tự cho ḿnh là hay là giỏi, ai nói ǵ cũng chẳng nghe”.

c) Kiến thủ v́ tự ái hay v́ ngoan cố cứng đầu. Biết ḿnh làm như thế là sai, nói như vậy là không đúng, lỡ lời, nhưng v́ tự ái cứ bảo thủ cái sai, cái không đúng của ḿnh, không chịu thay đổi, không chịu sám hối, xin lỗi, không chịu từ bỏ, xa ĺa.

Ví dụ: Như trước kia ông bà đă lỡ theo tà giáo, ngoại đạo, nay con cháu vẫn biết đó là tà giáo nhưng cứ theo măi không dám bỏ, cho đó là tôn giáo truyền thống của tổ tiên, ông bà để lại không được bỏ, mặc tôn giáo đó dạy những điều phi đạo đức, phi nhân quả, thường dạy những điều cầu cúng, mê tín, lạc hậu, v.v.. Có người c̣n nói một cách liều lĩnh, ngu si: “Xưa sao nay vậy” hay “Xưa bày nay làm”. Cũng như cha mẹ trước là nghề nghiệp ác chài lưới, săn bắn hoặc làm nghề đồ tể, bán thịt sống, thịt chết, măi dâm, bán rượu, thuốc phiện, x́ ke ma túy, v.v.. đó là những nghề ác độc tội lỗi, đến con cháu vẫn cứ bảo thủ nghề ấy, không chịu thay đổi nghề khác.

Nh́n rộng ra xă hội bên ngoài, có một số đông người, mặc dù thời đại của chúng ta hiện giờ, con người đă có nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật hiện đại hóa đời sống, thế mà người ta cứ vẫn giữ lại những lề lối cổ tục hủ bại, hễ trong nhà có người chết là giết heo ḅ để cúng kiếng, rước thầy chùa tụng kinh để cầu siêu linh hồn trong khi ông thầy tụng chưa độ được ông siêu, mà ông đi cầu siêu cho kẻ khác th́ việc làm đó là một điều ngu si, khi đưa đám tang th́ rải giấy tiền vàng mă; mỗi khi tuần tự hay giỗ kỵ th́ lại đốt giấy tiền vàng mă và quần áo kho đụn phướng xá. Hằng năm cứ vào ngày rằm tháng ba âm lịch th́ Ban Tế Tự tập họp dân chúng làm lễ kỳ an cúng tế tà Thần, ác quỷ, v.v.. Làng xă chấp chặt những hủ tục mê tín lạc hậu như thế mà c̣n cho đó là “Văn hóa truyền thống của dân tộc” không được bỏ. Những việc làm đó đều thuộc về kiến thủ.

9/ Giới cấm thủ: Có nghĩa là làm theo, sống theo giới cấm của ngoại đạo, tà giáo, những giới cấm của tà giáo ngoại đạo này phần nhiều vô lư phi đạo đức, mê muội, dă man, v.v.. Những giới cấm này khiến cho con người bất hiếu và tự làm khổ ḿnh. Ḥa Thượng Thiện Hoa dạy: “Các giáo phái ngoại đạo ở Ấn Độ lấy đá dằn bụng, đứng một chân giữa trời nắng, nằm trên chỗ bẩn thỉu, leo lên cao nhảy xuống, gieo ḿnh vào lửa, nhảy xuống sông trầm ḿnh chịu lạnh lẽo để được phước, chặt hoặc đốt một lóng tay, có người chặt nguyên một cánh tay để cầu pháp.

Những thứ cuồng tín như thế, không làm cho cuộc đời sáng sủa, mà c̣n làm cho đen tối và khổ đau thêm”.

Giới cấm thủ này chúng ta thấy trong kinh Pháp Hoa Phẩm Tựa dạy cúng dường thân mạng hoặc một phần thân mạng để cầu pháp giải thoát, khiến cho những người cuồng tín chặt hoặc đốt ngón tay, hủy hoại cơ thể của ḿnh không tật nguyền mà thành tật nguyền, không khổ mà làm thêm khổ, đó là giới cấm thủ hay c̣n gọi là những giáo điều của ngoại đạo.

10/ Tà kiến: Có nghĩa là chấp chặt theo lối không chân chánh, trái với sự thật, trái với luật nhân quả, phi đạo đức như trong kinh Pháp Hoa Phẩm Phổ Môn, Bồ Tát Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn chúng sanh, đó là tà kiến phi đạo đức, phi nhân quả, mê tín. Ḥa Thượng Thiện Hoa dạy: “Nói một cách khác, tà kiến nghĩa là mê tín, dị đoan, như thờ đầu trâu, đầu cọp, b́nh vôi, ông táo, xin xăm, bói quẻ, buộc tôm đeo niệt, coi sao, cúng hạn, v.v..”.

Nói rộng ra bốn món chấp trên đều thuộc về tà kiến cả. Nghĩa là trên đời này cái ǵ ư thức không hiểu được mà dùng tưởng thức để hiểu, hiểu như vậy là hiểu một cách mơ hồ, trừu tượng, không rơ ràng, không thực tế, không cụ thể đều được gọi là tà kiến.

Khi tu Định Vô Lậu câu hữu với Tập Đế th́ chúng ta sống trong thực tế, cái ǵ ư thức hiểu biết cụ thể thực tế c̣n hoàn toàn ngoài ra không tin một cái ǵ cả, phần nhiều người ta thường hay sống trong tưởng thức nên người ta phải chịu khổ.

Ví dụ: Người ta chửi ḿnh đồ chó, trâu ḿnh tưởng ra ḿnh là chó trâu, nên ḿnh sanh tức giận chửi mắng lại họ, cũng như người ta chửi ḿnh: “Tao đào mồ mả cha mày lên”, ḿnh tưởng rằng họ đào mồ mả cha ḿnh chứ sự thật họ đâu có đào, thế mà ḿnh sống trong tưởng rồi sanh ra tức giận chửi mắng đánh với nhau, khiến làm khổ cho nhau, thật là tà kiến điên đảo và sống không thực tế, tạo cảnh ḿnh khổ, người khác khổ chẳng có ích lợi ǵ cả.

Ví dụ: Người ta chửi ḿnh là đồ ăn cắp, ăn trộm ḿnh tự ái sợ người khác không hiểu ḿnh, sanh ra nghi ngờ ḿnh ăn cắp, ăn trộm th́ xấu hổ, cái tự ái sợ hăi người ta nghi ngờ ḿnh nên ḿnh tức giận và buồn khổ trong ḷng măi măi, đó là ḿnh sống trong tưởng, chứ sự thật ḿnh có ăn trộm ăn cắp đâu mà sợ. Con người ở đời thường sống trong tưởng tức là sống trong tà kiến nên luôn luôn chịu khổ đau tức giận sanh ra thù hận không nguôi, tạo ra nhiều điều ác đức tội lỗi, rồi lại c̣n tiếp tục bằng cách trả thù, trả oán cho đă cơn giận.

Cho nên, khi chúng ta biết áp dụng Định Vô Lậu kết hợp với Tập Đế th́ chúng ta không c̣n sống trong tưởng, nói cách khác là chúng ta không c̣n sống trong tà kiến.

CHÂN LƯ THỨ BA “DIỆT ĐẾ”

Trước khi muốn quán xét Diệt Đế để thực hiện Định Vô Lậu th́ chúng ta phải hiểu Diệt Đế là ǵ?

Diệt tức là tiêu diệt, trừ diệt, diệt ở đây tức là diệt ḷng tham muốn của ḿnh và diệt các ác pháp.

Đế có nghĩa là lư lẽ chắc thật, đúng đắn do trí tuệ sáng suốt soi thấu một cách rơ ràng không có mờ mịt, trừu tượng, ảo tưởng bằng tưởng tri.

Diệt Đế là một trạng thái tâm đă đoạn diệt ḷng ham muốn và các ác pháp, người sống trong trạng thái này được xem là đă giải thoát hoàn toàn tức là người đă làm chủ sự sống chết của ḿnh, người làm chủ sự sống chết của ḿnh là người hạnh phúc nhất trên thế gian này.

Người ta thường bảo Diệt Đế là Niết Bàn như thế này, như thế nọ, đó là tưởng tri của các nhà học giả, nhất là các nhà học giả phát triển th́ lại bịa ra đủ loại Niết Bàn

Diệt Đế không phải là một cảnh giới siêu h́nh như các nhà Đại Thừa thường tưởng tượng và cho đó là nơi chư Phật thường trú. Nếu một người đoạn diệt ḷng tham muốn và các ác pháp th́ cuộc sống của họ là Niết Bàn, chứ không phải ở nơi đâu cả.

Đức Phật gọi Diệt Đế là một chơn lư thật sự, một trạng thái tâm lư thật sự không c̣n khổ đau của kiếp người, chứ không giống như các nhà học giả phát triển xây dựng những cảnh giới Niết Bàn mơ hồ, trừu tượng, ảo tưởng. Những loại Niết Bàn này không được gọi là chân lư, v́ nó là những cảnh giới tưởng tượng của con người, cho nên nó không thật có, chỉ duy nhất có Diệt Đế của đạo Phật mới được gọi là chơn lư của loài người mà thôi v́ nó có thật.

Khi chúng ta quán xét Diệt Đế rơ thấu trạng thái thật sự giải thoát của đạo Phật là chỗ đoạn diệt ḷng ham muốn và các ác pháp. Rơ thấu được như vậy chúng ta mới có phương hướng nhắm vào từng giây, từng phút đẩy lui toàn bộ ḷng tham muốn và các ác pháp trong ta. Khi đẩy lui ḷng tham muốn và các ác pháp trong ta th́ đó là Diệt Đế; th́ đó là chúng ta đă đạt được chơn lư của kiếp sống làm người.

Chơn lư của kiếp sống con người không phải là thần thông phép thuật, thế mà người đời nói đến tu hành là nói đến thần thông pháp thuật, thần thông pháp thuật chỉ là một điều huyễn hóa lừa đảo thiên hạ bằng cách làm tṛ ảo thuật hoặc nói láo truyền miệng, mà Ngài Thường Chiếu nói: “Một con chó sủa một bầy chó sủa theo”. Dù nếu có thần thông thật sự đi nữa th́ đó cũng chỉ là một tṛ ảo thuật giải trí cho những người thừa th́ giờ nhàn rỗi, chứ chẳng ích lợi ǵ cho loài người trên hành tinh này. Từ xưa đến nay, chúng ta đă từng nghe tin tức qua báo chí hoặc phim ảnh có nhiều đạo sĩ tu tập rất vất vả, nhưng lại thị hiện làm tṛ ảo thuật cho mọi người xem chơi, tạo danh cho cá nhân của ḿnh, lợi dụng ḷng ham mê thần thông của con người, nên mở ra rất nhiều thiền đường, giảng đường để lừa đảo thiên hạ làm hao tốn biết bao nhiêu tiền của và công sức của mọi người nhưng nh́n lại có ích lợi ǵ cho ai đâu.

Niết Bàn của Phật giáo chân thật như vậy, với trí hữu hạn của chúng ta đều nhận biết rơ ràng thực tế và cụ thể, không có một sự tưởng tượng nào trong trạng thái này. V́ Chân lư của đạo Phật rất thực tế trong đời sống của chúng tôi, nên chúng tôi chọn đạo Phật, lấy đạo Phật làm những bài học để xây dựng cho ḿnh trở thành những con người có một đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người và như vậy có lợi ích cho ḿnh và cho người, đó là nguyện vọng của chúng tôi khi đến với đạo Phật và tu tập Định Vô Lậu câu hữu Diệt Đế.

Diệt Đế là một chân lư thật sự, có thật, mà con người thực hiện được, làm được, sống được chứ không phải là một lư luận suông, như những lư luận của các tôn giáo và các tông phái khác.

CHÂN LƯ THỨ TƯ “ĐẠO ĐẾ”

Tu tập quán xét Định Vô Lậu câu hữu với Đạo Đế tức là chúng ta tư duy quán xét về Đạo Đế. Đạo Đế là mọt chơn lư thứ tư của đạo Phật. Vậy Đạo Đế là ǵ?

Đạo có nghĩa là con đường đi, đạo có nghĩa là phương pháp cách thức tu tập rèn luyện trau dồi để tu sửa lại thân tâm con người, v́ thân tâm con người thường hành động theo ḷng ham muốn tạo ra biết bao nhiêu là sự lầm lạc, sai quấy khiến cho ḿnh khổ, người khác khổ và tất cả chúng sinh đều đau khổ.

Đế có nghĩa là sự thật, chơn thật, không sai, đúng như thật, không dối gạt, không lừa đảo.

Đạo Đế là phương pháp dạy người tu hành có kết quả giải thoát thật sự. Đạo Đế là phương pháp tu sửa, rèn luyện thân tâm con người có đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người chân thật biến cảnh sống thế gian thành cảnh giới Thiên đàng Cực lạc. Đạo Đế c̣n là phương pháp tu tập có đủ tâm lực tỉnh thức làm chủ sanh, già, bịnh, chết thật sự.

Đạo Đế là một chân lư thật sự đúng đắn không dối gạt, không lừa đảo người, mọi người nếu ai có nhiệt tâm muốn thoát ra cảnh khổ của thế gian, với đầy đủ nhiệt tâm, nhiệt huyết xả bỏ những ác pháp và xa ĺa ḷng ham muốn của ḿnh thường đẩy lui các chướng ngại pháp trong tâm, cố gắng áp dụng và thực hành như vậy th́ đều có kết quả giải thoát như nhau.

Đạo Đế là một chương tŕnh giáo dục đào tạo rèn luyện con người để chứng quả vô lậu A La Hán. Một quả vị giải thoát cao nhất trong đạo Phật (Làm chủ sanh, già, bệnh, chết).

Cho nên, Đạo Đế được chia ra làm tám lớp học (phương thức chân chánh) để trau dồi thân tâm, từ lớp thấp đến lớp cao, gọi là Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo gồm có:

1/ Chánh Kiến

2/ Chánh Tư Duy

3/ Chánh Ngữ

4/ Chánh Nghiệp

5/ Chánh Mạng

6/ Chánh Tinh Tấn

7/ Chánh Niệm

8/ Chánh Định

Tám lớp (phương thức) này gọi là tám nẻo, tám nẻo này để cho người mới bắt đầu tu tập cho đến khi thành tựu viên măn đạo giải thoát.

Người mới bắt đầu học tu phải vào lớp Chánh kiến rồi lần lượt theo các lớp mà tiến lên học tất cả những lớp cao hơn mà đức Phật đă dạy rất đầy đủ những giáo tŕnh tu học trong các bộ kinh Nguyên Thủy về mỗi lớp Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định. Những bài vở nào ở lớp nào rất rơ ràng và cụ thể, nhưng các Tổ kết tập kinh sách làm lộn xộn, nên hiện giờ khó có người hiểu đúng chương tŕnh giáo dục đào tạo A La Hán của đức Phật.

LỚP THỨ NHẤT: “CHÁNH KIẾN”

Học về lớp Chánh Kiến. Vậy lớp học Chánh kiến như thế nào?

Trước khi muốn học lớp Chánh Kiến th́ chúng ta phải hiểu nghĩa chữ Chánh Kiến.

Chánh Kiến có nghĩa là thấy nghe, hay biết một cách ngay thẳng, công minh, chánh trực, rơ ràng, cụ thể, không chủ quan. Sự vật như thế nào th́ thấy nghe hiểu biết như thế nấy, không sống trong tưởng tri trừu tượng mê tín, không dựa bên này, không dựa bên kia, không lấy trắng làm đen, không lấy đen làm trắng, không lấy xấu làm tốt, không lấy tốt làm xấu, không lấy dở làm hay, không lấy hay làm dở, không lấy trái làm phải, không lấy phải làm trái. Sự nhận xét thấy biết không bị tập quán, thành kiến, dục vọng. Người có Chánh Kiến luôn luôn biết phân biệt cái nào giả, cái nào thật. Ví dụ, như các nhà học giả họ không phân biệt pháp nào của Phật, pháp nào của Bà La Môn. V́ thế, họ đă bị kinh sách phát triển lừa đảo, tưởng đó là giáo pháp của đức Phật. Chính chỗ này xác định các nhà học giả và các bậc Thầy Tổ của chúng ta không có Chánh Kiến v́ không có Chánh Kiến nên con người dễ bị các học thuyết và các tôn giáo khác lừa đảo, để rồi suốt một đời chạy theo ảo ảnh mà chẳng có được những ǵ. Đức Phật hiểu rất rơ điều này, sau khi Ngài chứng đạo, trước kia Ngài chưa có Chánh Kiến nên đă bị các tôn giáo lừa đảo Ngài tu hành gần như muốn chết, cuối cùng Ngài tư duy tất cả giáo pháp của ngoại đạo không đưa con người đến chỗ giải thoát hoàn toàn mà đưa con người đi vào chỗ chết, chỗ thân không khổ đau mà làm cho khổ đau, ví dụ, như quư vị ngồi tréo chân kiết già để tu tập thiền tưởng, hai chân đau gần chết mà cố gắng chịu đau, mồ hôi mẹ mồ hôi con đổ ra ướt đầm đ́a cả áo, đó là thiếu Chánh Kiến, cho nên đức Phật dạy chúng ta học về Chánh Kiến đầu tiên, v́ Chánh Kiến nên Ngài dạy chúng ta cũng không nên tin ở Ngài mà hăy tin những pháp môn ǵ mà người trí khen ngợi và thực hiện áp dụng vào đời sống có kết quả an vui thật sự ngay liền cho ḿnh, cho người th́ hăy tin. “Này Kàlàmà! Chớ có tin v́ nghe truyền thuyết, chớ có tin v́ theo truyền thống, chớ có tin v́ nghe người ta nói (đồn), chớ có tin v́ được kinh tạng truyền tụng, chớ có tin v́ nhân lư luận siêu h́nh, chớ có tin v́ đúng theo một lập trường, chớ có tin v́ đánh giá hời hợt những dự kiện, chớ có tin v́ phù hợp với định kiến của ḿnh, chớ có tin v́ xuất phát nơi có uy quyền, chớ có tin v́ bậc Sa Môn là Đạo Sư của ḿnh, v.v..

Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào tự ḿnh biết rơ như sau: “Các pháp này bất thiện, các pháp này có tội lỗi, các pháp này bị người có trí hiểu biết chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”. Thời này Kàlàmà! Hăy từ bỏ chúng không nên theo”. Như vậy, đức Phật đă dạy chúng ta về Chánh Kiến có nghĩa là làm lợi ích thật sự cho ḿnh cho người.

Tóm lại, Chánh Kiến tức là thấy nghe hiểu biết mọi sự, mọi việc và mọi vật bằng pháp thiện, nếu có ác pháp xen vào th́ không c̣n là Chánh Kiến nữa, cho nên Chánh Kiến toàn là thiện pháp, người có Chánh Kiến không làm khổ ḿnh, khổ người. Thấy, nghe, hiểu biết mà không làm khổ ḿnh, khổ người, đó là cái thấy nghe của Chánh Kiến, của Thánh Nhân, chứ không phải của kẻ phàm phu mà thấy nghe hiểu biết như vậy được.

Chúng ta đă hiểu nghĩa Chánh Kiến rồi, vậy bây giờ chúng ta học Chánh Kiến như trong kinh đức Phật đă dạy: “Này chư Hiền! Khi Thánh đệ tử tuệ tri[2] được bất thiện[3] và tuệ tri được căn bản[4] bất thiện, Này chư Hiền! Khi Thánh đệ tử có Chánh Tri Kiến, có Tri Kiến Chánh Trực, có ḷng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này”.

Nếu một người hiểu rơ lời dạy này th́ tâm bất động trước các pháp, chứ đâu cần phải tu tập ǵ nhiều. Người ta nói Chánh Tri Kiến th́ rất nhiều mà người hiểu và sống trong Chánh Tri Kiến th́ chẳng có mấy ai. Tại sao vậy?

Tại v́ mọi người đă không hiểu Chánh Tri Kiến bằng thức tri mà lại hiểu Chánh Tri Kiến bằng tưởng tri, cho nên người nào cũng hiểu mà hiểu bằng chữ nghĩa suông để nói vọng ngữ, lừa đảo kẻ khác, v́ thế không ích lợi ǵ cho ḿnh cho người. Câu kinh trên đây dạy có nghĩa là khi Thánh đệ tử nghe, thấy, hiểu biết rơ các pháp ác và nguồn gốc của các pháp ác, th́ đó chính là có tri kiến chân chánh, có tri kiến chánh trực, nếu người có Chánh Tri Kiến, có tri kiến chánh trực và đă có ḷng tin “Bát Chánh Đạo” tuyệt đối th́ người này sẽ ly dục ly ác pháp, ly dục ly ác pháp th́ sẽ có tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự. Lúc nào cũng có tâm hồn an lạc, thảnh thơi và vô sự, người được như vậy là người giải thoát hoàn toàn.

Ở trên đây, chúng ta mới bước chân vào lớp thứ nhất mà đă thấy được sự giải thoát thiết thực cụ thể như vậy, nếu chúng ta học hiểu và áp dụng vào đời sống luôn cả tám lớp th́ thế gian này là Niết Bàn, Cực Lạc.

Như trên đă nói về Chánh kiến để chúng ta hiểu tổng thể của lớp học này, đó là lư thuyết khái lược của giáo tŕnh tu học. Bắt đầu tu học phải theo giáo tŕnh tu học từ thấp đến cao của lớp này chứ không thể nói suông như trên được mà phải bắt đầu thực hành, pháp nào học hiểu phải cần học hiểu; pháp nào tu tập phải cần tu tập, chứ không được nói chung chung như kiểu kinh sách phát triển.

“Này chư Hiền! Thế nào là bất thiện, thế nào là căn bản bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bản thiện?”.

Trên đây, đức Phật nêu ra những câu hỏi để rồi giải thích cho chúng ta hiểu thế nào là thiện và bất thiện, thế nào là nguồn gốc thiện và nguồn gốc bất thiện. Nếu quư vị không học th́ làm sao quư vị biết được, mà đă không biết được th́ cái sai vẫn cho là cái đúng, cũng như cái đúng vẫn thấy nó là sai, và như thế th́ làm sao được gọi là Chánh Kiến? Cầu siêu, cầu an, cúng vong tiễn linh cúng sao giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu, quư vị đều cho là đúng, nếu không đúng sao quư vị lại vào chùa làm những điều mê tín này? Nếu những việc làm này là đúng th́ nó là Chánh Kiến sao? Chánh Kiến ǵ mà việc làm không rơ, mơ hồ, trừu tượng không cụ thể, không thiết thực. Cũng như người ta gọi Phật Tánh là lấy cái ư thức chẳng niệm thiện niệm ác, để rồi tưởng tượng ra xây dựng thành bản thể Chân Không nhưng lại sợ đồng với cái không, nên mới thêm vào cái diệu hữu để người ta đừng hiểu nó là không ngơ “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, nhưng dù luận như thế nào, nó cũng chỉ là tưởng tri hư luận, chứ không có. V́ thế một người chết, ư thức cũng tiêu ma ra cát bụi, bởi v́ ngoài thân ngũ uẩn ra, không có cái thức nào khác cả, cho nên thân ngũ uẩn hoại diệt th́ thức nào cũng không c̣n. Cái thấy biết như vậy, không thể nào gọi là Chánh Kiến, đó là Tà Kiến mà ngoại đạo hay lấy bản thể vạn hữu mà luận thuyết như thế này hoặc như thế khác, để xây dựng một thế giới thường hằng bất biến. Chánh Kiến như vậy, không có ích lợi thiết thực, chỉ là một hư luận suông.

Chúng ta từ môi trường sống sanh ra, mà môi trường sống là vật chất phải có trước như: không khí, thời tiết, mưa gió, đất, đá, g̣, nổng, núi, sông, rồi rong rêu cỏ cây thảo mộc, kế đó mới vạn vật xuất hiện và như vậy mới gọi là môi trường sống. Khi có môi trường sống th́ chỗ đó có cái biết sống, rồi biết đau đớn khổ sở, rồi biết thiện biết ác, như vậy cái biết có sau vật chất.

Ví dụ: Vật chất gồm các tế bào, kết hợp cấu tạo thành một môi trường sống, ở đó chúng chuyên làm một phận sự, như môi trường tế bào sống ở tai th́ chúng có nhiệm vụ để nghe, ở mắt để thấy, ở miệng để ăn và nhận biết mùi vị, ở mũi để thở và biết mùi thơm thúi, ở thân th́ cảm xúc nóng lạnh, ở ư th́ chỉ có biết, cho nên khi môi trường của ư (ư căn) hoại diệt th́ cái biết của ư đâu c̣n, môi trường sống không có th́ cái biết cũng không có. Kinh sách Đại Thừa và Thiền Đông Độ là loại kinh sách tưởng tri xây dựng trên tưởng thức để lừa đảo thiên hạ, chứ tu hành có đi đến đâu chỉ là một tṛ ảo ảnh huyễn hóa, cái thấy biết đó không thể gọi là Chánh Kiến được, mà đó là Tà Kiến, từ xưa đến nay các tôn giáo đều sống trong Tà Kiến này.

Trong kinh Nguyên Thủy đức Phật dạy: “Nếu c̣n một chút xíu “Thức” như đất trong móng tay Ta, th́ đạo Ta không ra đời v́ loài người không giải thoát khổ được”. Như vậy cái thấy biết, có một bản thể thường hằng bất biến là cái thấy biết của Tà Kiến, cái thấy biết không đúng sự thật, cái thấy biết không có thật chỉ là một ảo tưởng của các nhà giàu tưởng tượng, sống trong tưởng.

Đây, chúng ta hăy nghe đức Phật dạy về Chánh Kiến: “Này chư Hiền! Sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói lưỡi hai chiều là bất thiện, nói lời phù phiếm là bất thiện, nói lời hung ác là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Này chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện. Và này chư Hiền! Thế nào là căn bản bất thiện? Tham là căn bản bất thiện, sân là căn bản bất thiện, si là căn bản bất thiện”.

Trên đây, đức Phật đă chỉ cho chúng ta thấy, có mười pháp ác và ba cội nguồn gốc ác. Hằng ngày mọi sự việc xảy ra, chúng ta đều quan sát nơi thân, thọ, tâm và các pháp, nếu có mười pháp ác xảy ra trên thân, thọ, tâm và các pháp th́ chúng ta biết được không? Nếu không học th́ chúng ta không biết, c̣n đă học th́ chúng ta đều biết mà biết như vậy có phải là Chánh Kiến không? Đức Phật đă dạy, thấy biết như vậy là Chánh Kiến rơ ràng.

Thưa quư vị! Chánh Kiến có khó biết không? Chắc là không, phải không quư vị? Nhưng quư vị nên lưu ư gốc ác pháp đó là tâm tham, sân, si; tâm tham, sân, si có một nghiệp lực rất mạnh, cho nên dù quư vị đă có Chánh Kiến nhưng quư vị không dừng lại được gốc tham, sân, si th́ cái thấy Chánh Kiến của quư vị sẽ thành Tà Kiến.

Ví dụ: Như quư vị biết nói láo là Tà Kiến nhưng v́ lực tham thúc đẩy, quư vị sẽ phải nói láo, mà không c̣n cách nào kềm giữ ǵn lại được thành ra phải nói láo, nhưng khi nói ra rồi rất là hối hận, mặc dù nói láo đó không hại ai cả.

Muốn thấy Chánh Kiến và hành đúng Chánh Kiến th́ quư vị phải hằng ngày trau dồi pháp hướng tâm để tận trừ nguồn gốc của các ác pháp: “Tâm như cục đất phải ĺa tham, sân, si cho thật sạch”. Khi tu tập pháp hướng tâm có hiệu quả th́ lúc bây giờ Chánh Kiến ở đâu th́ tâm ly dục ly ác pháp ở đó và ở đó có giải thoát liền, nếu pháp hướng tâm chưa có hiệu quả th́ dù có Chánh Kiến biết đúng, nhưng tâm không ly dục ly ác pháp, th́ vẫn là Tà Kiến.

Cho nên, ai cũng học Chánh Kiến, biết rất rơ thập ác và thập thiện, nhưng mấy ai sống đúng thập thiện và loại trừ thập ác, ai nói Chánh Kiến cũng được, nhưng sống đúng Chánh Kiến th́ không ai làm được. Đây là những người đă có Chánh Kiến mà c̣n sống chưa được, huống là những người c̣n đang sống trong Tà Kiến như: Mật Tông, Thiền Tông và Tịnh Độ Tông v.v..

- Chánh Kiến có hai giai đoạn tu tập:

1/ Giai đoạn học tập Chánh Kiến để loại trừ Tà Kiến.

2/ Giai đoạn tu tập Chánh Kiến là giai đoạn áp dụng Chánh Kiến vào đời sống hằng ngày bằng Định Vô Lậu và pháp hướng tâm.

Lớp Chánh Kiến học th́ thấy dễ nhưng tu tập phải đúng pháp, đúng bài bản giáo tŕnh th́ mới có hiệu quả, cho nên chúng tôi nói: “Chỉ khi nào tâm ly dục ly ác pháp th́ mới có Chánh Kiến”.

Như trên chúng tôi đă nói, nếu ai biết tu tập pháp hướng tâm để quét sạch nguồn gốc ác pháp tham, sân, si đang ngủ ngầm trong chúng ta, th́ phải cố gắng hằng ngày đừng quên nhắc tâm ĺa tham, sân, si hoặc tâm như đất, nhờ vậy mới đủ sức lực đoạn trừ tận gốc tham, sân, si. Vậy, chúng ta hằng ngày phải thường tỉnh thức quan sát thân, thọ, tâm và pháp để đẩy lui các ác pháp không cho chúng xâm chiếm bốn chỗ này. Nên đức Phật dạy: “Này chư Hiền! Khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bản bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bản thiện như vậy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên “Tôi là”, đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại”. (Trung Bộ Kinh tập 1 trang 113).

 Ở đây, quư vị có nghe lời đức Phật dạy không? Quư vị chỉ cần tu tập có Chánh Tri Kiến là đă diệt tận khổ đau trong hiện tại. Nếu quư vị chỉ cần có Chánh Tri Kiến th́ ngay đó, quư vị đă đoạn trừ vô minh, khiến minh sanh khởi, đây là mục đích của đạo Phật.

Tóm lại, trong lớp Chánh Tri Kiến này, nếu quư vị tin sâu lời dạy của đức Phật hằng ngày chỉ cần thấy pháp thiện biết ngay liền pháp thiện, thấy pháp ác biết ngay liền pháp ác, đó là Chánh Kiến, và khi gặp pháp ác th́ cố gắng đẩy lui khỏi tâm tư của ḿnh để cho tâm hồn lúc nào cũng thanh thản, an vui, và vô sự.

Tóm lại, trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nếu biết áp dụng Chánh Tri Kiến như trên đă dạy, th́ chắc chắn chúng ta sẽ có một đời sống an vui, hạnh phúc biết bao không những cho ḿnh mà cho cả những người thân thương của ḿnh và xă hội quanh ta, nhưng các bạn nên nhớ: đó là lớp học cơ bản đầu tiên của Phật giáo, nó không phải khó và không phải dễ, nếu giới luật không giữ ǵn nghiêm túc th́ sự tu học của lớp này các bạn sẽ không thành công.

LỚP THỨ HAI: “CHÁNH TƯ DUY”

Lớp thứ hai trong tám lớp của Đạo Đế là lớp Chánh Tư Duy. Vậy Chánh Tư Duy có nghĩa là ǵ?

Chánh Tư Duy có nghĩa là suy tư, suy ngẫm về mười điều thiện và mười điều ác, do sự tư duy như vậy ta nhất định sống trong mười điều lành và luôn luôn loại trừ mười điều ác, mỗi khi có điều ǵ khởi lên trong ta, ta tư duy suy ngẫm và hiểu rơ nó thiện hay là ác, nếu là ác pháp th́ ngay đó ta liền đẩy lui ra khỏi tâm ta, như trong kinh Song Tầm đức Phật dạy: “Này chư Tỳ Kheo! Trước khi Ta chưa giác ngộ, chưa thành chánh giác và c̣n là Bồ Tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”. Này chư Tỳ Kheo, phàm có dục tầm[5] nào, sân tầm[6] nào, hại tầm[7] nào, đó là Ta phân làm phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, đó là Ta phân làm phần thứ hai. Này chư Tỳ Kheo! Rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần. Khi dục tầm khởi lên Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại Ta, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, dục tầm này đưa đến diệt trí tuệ, dự phần vào phiền năo, không đưa đến Niết Bàn (tức là không đưa đến tâm thanh thản an lạc và vô sự cho ḿnh cho người)”. Này chư Tỳ Kheo! Khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại Ta”, dục tầm tự biến mất. Này chư Tỳ Kheo! Khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại người”, dục tầm tự biến mất. Này chư Tỳ Kheo! Khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại cả hai Ta và người”, dục tầm được biến mất. Này chư Tỳ Kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền năo, không đưa đến Niết Bàn”, dục tầm này được biến mất. Này chư Tỳ Kheo! Như vậy Ta cứ Chánh Tư Duy tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn diệt dục tầm”. (Trung Bộ Kinh tập 1 trang 262).

Đoạn kinh trên đây, đức Phật đă dạy chúng ta tu học trong lớp Chánh Tư Duy, nhờ có học, tu tập và sống trong lớp Chánh Tư Duy như vậy chúng ta mới ĺa xa gốc tham dục và ác pháp.

Nếu một người quyết tâm tu hành, để cầu giải thoát th́ trong lớp Chánh Tư Duy này chúng ta đă t́m được sự giải thoát thật sự đâu cần phải tu pháp nào khác hơn nữa. Phải không hỡi quư vị?

Từ khi thành lập tu viện đến giờ, hầu hết chúng tôi thấy, người tu thời bấy giờ họ không xả tâm, họ biết Chánh Kiến, biết rất rơ pháp nào ác, pháp nào thiện, họ cũng biết Chánh Tư Duy, biết rất rơ các pháp ác làm khổ ḿnh, khổ người nhưng họ không xả ly mà chỉ ôm ấp trong ḷng thù hận, oán ghét… để chịu khổ, thật là đảo điên! Điên đảo! Vậy, họ tu theo Phật để làm ǵ? Nếu không xả tâm dục và ác pháp.

Mục đích của đạo Phật chỉ có xả tâm để được giải thoát, nếu họ không xả tâm mà cầu Phật Đạo là cầu cái ǵ? Cầu thần thông ư? Điều này có lợi ích ǵ? Cầu về Cực Lạc Tây Phương ư? Mơ hồ trừu tượng quá không thực tế, ích kỉ cá nhân. Cầu kiến tánh thành Phật ư? Điều này cũng quá mơ hồ trừu tượng, chỉ có những người điên đảo, đảo điên th́ mới sống trong mơ mộng và ảo tưởng như vậy. Cầu thiền định ư? Thiền định th́ ở chỗ Chánh Kiến và Chánh Tư Duy, ngoài Chánh Kiến, Chánh Tư Duy th́ không có Chánh Thiền Định, đó là tà thiền tà định, mà tà thiền tà định th́ có lợi ích ǵ cho ḿnh cho người đâu.

Đạo Đế là con đường duy nhất tu tập của đạo Phật, để có Chánh Thiền Định, ngoài Đạo Đế ra, không c̣n có con đường nào khác hơn nữa, để có Chánh Thiền Định, đi đến giải thoát làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, chỉ là những pháp môn trợ giúp cho Đạo Đế, hay nói một cách khác cho dễ hiểu hơn ba mươi bảy phẩm trợ đạo là giáo tŕnh tu học của Bát Chánh Đạo, nó làm sáng tỏ thêm Đạo Đế, về cách thức thực hành tu tập rèn luyện trau dồi trí tuệ, để sống đúng tám phương pháp này, tám phương pháp này là đạo đức làm Người, làm Thánh của đạo Phật như: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. V́ thế, ba mươi bảy phẩm trợ đạo không phải là Đạo Đế, nếu cho nó là Đạo Đế th́ c̣n gọi nó trợ đạo để làm ǵ?

Ví dụ 1: Chúng ta lấy Tứ Chánh Cần để tu tập ngăn ác, diệt ác pháp th́ Tứ Chánh Cần là pháp môn giúp cho chúng ta thấy rơ các ác pháp, tức là giúp cho chúng ta có Chánh Kiến, giúp chúng ta thấy biết rơ căn gốc của ác pháp, tức là giúp chúng ta có Chánh Tư Duy. Và như vậy, chúng ta tu Tứ Chánh Cần, tức là chúng ta tu tập trí tuệ Chánh Kiến và Chánh Tư Tuy hay nói cách khác Tứ Chánh Cần là giáo tŕnh thực tập trên các lớp Chánh Kiến đến lớp Chánh Niệm có những bài vở từ thấp đến cao.

Tứ Chánh Cần, xác định rơ cho chúng ta biết vị trí và phận sự của Chánh Kiến và Chánh Tư Duy là ngăn ác, diệt ác pháp, có ngăn ác, diệt ác pháp th́ mới gọi là Chánh Kiến và Chánh Tư Duy, nếu không ngăn ác, diệt ác pháp th́ không thể nào gọi là Chánh Kiến và Chánh Tư Duy mà phải gọi là Tà Kiến và Tà Tư Duy.

Chánh Kiến và Chánh Tư Duy là lớp để tu tập Tứ Chánh Cần, c̣n Tứ Chánh Cần là giáo tŕnh thực tập để định nghĩa và làm sáng tỏ cho lớp Chánh Kiến và Chánh Tư Duy trong tu tập.

Ví dụ 2: Chúng ta lấy Tứ Niệm Xứ trên thân, quán thân để tu tâp khắc phục tham ưu, th́ Tứ Niệm Xứ sẽ giúp cho chúng ta quan sát, hiểu biết rơ bốn chỗ thân, thọ, tâm và pháp, khi có các ác pháp tham ưu sanh khởi, trên bốn chỗ này khiến cho nó bị khổ đau, phiền toái. Như vậy, Tứ Niệm Xứ cũng là giáo tŕnh thực tập để xác định và làm sáng tỏ giúp cho chúng ta có Chánh Kiến và Chánh Tư Duy để ngăn ác và diệt các ác pháp trên bốn chỗ này. Và như vậy, chúng ta tu tập giáo tŕnh Tứ Niệm Xứ, tức là tu tập trí tuệ Chánh Kiến và Chánh Tư Duy.

Tóm lại, ba mươi bảy phẩm trợ đạo chỉ là những giáo tŕnh tu học làm sáng tỏ cho sự hiểu biết và sự thực hành để chúng ta thực hiện chương tŕnh Bát Chánh Đạo dễ dàng hơn, không có mệt nhọc mà kết quả giải thoát rất cụ thể.

Trên đây, chúng ta tu học lớp thứ hai Chánh Tư Duy, nếu chúng ta theo như lời đức Phật đă dạy mà tu tập lớp Chánh Tư Duy như vậy th́ chắc chắn không những chúng ta mà bất cứ người nào tu tập cũng đều có sự giải thoát như nhau cả, nghĩa là người nào tu theo đạo Phật đúng con đường Bát Chánh Đạo th́ chắc chắn trăm muôn ngàn người đều có kết quả thiết thực cụ thể, tức là giải thoát giống y như nhau.

Kính thưa các bạn! Tu học Bát Chánh Đạo, đức Phật đâu có dạy: tụng kinh, bái sám, ngồi thiền, niệm Phật, niệm chú đánh chuông, gơ mơ, v.v.. mà chỉ có sống đúng Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ...

Bát Chánh Đạo là một chân lư trong bốn chân lư của đạo Phật và nó chính là chương tŕnh tu học chân chánh của đạo Phật th́ cách thức tu tập phải rơ ràng, cụ thể và thiết thực không thể mơ hồ, trừu tượng, mê tín được. Nếu Bát Chánh Đạo là chương tŕnh giáo dục đào tạo tu học mơ hồ, trừu tượng, ảo giác, huyễn hóa th́ không được gọi là chương tŕnh giáo dục đào tạo, không được gọi là chân lư.

Cho nên, chương tŕnh giáo dục đào tạo, được gọi là chân lư phải là thiết thực, cụ thể, phải hiểu biết bằng tri thức của chúng ta, c̣n những loại pháp môn trừu tượng, mơ hồ, ảo giác, với sự hiểu biết bằng tưởng tri th́ không được gọi là chân lư như: Triết học Tánh Không, Trí tuệ Bát Nhă, Phật Tánh, v.v.. đều không được gọi là chân lư, phần nhiều người ta hiểu về những pháp này bằng tưởng tuệ, chứ không phải trí tuệ, nên các pháp môn này được xem là Tà Kiến ngoại đạo, không phải là của đạo Phật.