VĂN HÓA PHẬT GIÁO

ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT

TẬP I

 

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Qúy bạn đọc có thể thỉnh sách tại TU VIỆN CHƠN NHƯ.

Ấn bản điện tử được đăng tải tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

BẬC A LA HÁN

Bậc A La Hán xuất hiện làm chấn động, đảo lộn tư tưởng triết học, thần học, thiền học v.v.. Dựng lại nền đạo đức nhân bản - nhân quả, giúp loài người xây dựng cuộc sống thế gian thành cuộc sống Thiên đàng, Cực Lạc.

 

MỤC LỤC

           

Mục lục  1

Thư ngỏ. 2

Thay lời tựa. 3

Lời bạt 4

Chương I 5

Người cư sĩ đến với đạo Phật trước tiên cần thông hiểu. 5

Duyên Phật pháp. 5

Người tín đồ chân chánh của Phật giáo. 6

Vị minh sư Phật giáo. 6

Đạo phật là một tôn giáo tự lực. 7

Chương II

Có sáu nghề ác. 8

Thọ dụng thực phẩm động vật không thấy, không nghe, và không nghi 9

Chánh nghiệp và chánh mạng. 11

Niềm tin. 12

Đạo và đời 13

Dứt bỏ những ǵ cần dứt bỏ vượt thoát cuộc sống thế gian. 14

Pháp hành. 16

Thoát khỏi trần lao việc chẳng thường. 17

Tứ niệm xứ vô lậu Thánh Định và Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định. 18

Dứt bỏ danh lợi trong đạo. 19

Sống trầm lặng. 20

Sanh đă tận phạm hạnh mới xong. 22

Bốn Thánh Định. 23

Chương III

Nhiệt tâm.. 24

Pháp môn dẫn tâm.. 25

Đắm nhiễm, khó tiêu, tán loạn. 25

Định sáng suốt 26

Tỉnh thức lợi ích ǵ?. 27

Tâm bất an. 28

Hơi thở ngưng các hành trong thân có ngưng không?. 29

Lúc nào hơi thở tịnh chỉ?. 30

Thiếu nghị lực, nhiệt tâm và ám thị 31

Trạng thái hơi thở trong bốn thiền. 33

Tu như thế nào để tâm không phi phạm hạnh?. 33

Phạm hạnh. 34

Hướng tâm các hành ngưng nghỉ 36

Năng khiếu. 38

Trí tuệ. 39

Mục đích Chánh Niệm Tĩnh Giác là ǵ?. 40

Trí tuệ thế gian có phải là tri kiến giải thoát hay không?. 40

Buồn chán khi xả tâm không được. 41

Nhân quả. 42

Tâm sắc dục. 43

Chánh kiến. 43

Đạo và đời 44

Chánh trị 44

Thông minh. 44

Triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng. 44

Luật nhân quả. 45

Ngẫu nhiên. 45

Số mệnh. 45

Sách đạo đức. 46

Phá hôn trầm, thùy miên. 46

Đức Phật không làm chủ nhân quả. 46

 

THƯ NGỎ

 

Chơn Như, ngày 24 tháng 8 năm 2003.

Kính gửi: Các bậc Tôn Túc, Ḥa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni và quư vị Phật tử nam nữ cư sĩ bốn phương.

Kính thưa quư vị! Bộ sách Văn Hóa Phật Giáo Đường Về Xứ Phật và bộ sách Văn Hóa Phật Giáo Giới Đức Làm Người đến nay đă được Nhà Nước cho phép in ấn và phát hành. Hai bộ sách trên đây là một trong những bộ sách Văn Hóa Phật Giáo Mười Giới Đức Thánh Sa Di, Giới Đức Thánh Tăng và Thánh Ni, Đạo Đức Nhân Bản - Nhân Quả. Những bộ sách Văn Hóa Phật Giáo nguyên gốc mà tác giả ghi lại bằng những kinh nghiệm công sức tu tập của ḿnh theo đường lối giáo lư Nguyên Thủy “GIỚI, ĐỊNH, TUỆ” của Đức Phật. Nó mang lại một kết quả rất thực tế và cụ thể cho một đời sống an lạc, thảnh thơi và hạnh phúc của kiếp làm người. “Sống không làm khổ ḿnh khổ người” và “làm chủ sanh, già, bệnh, chết”.

Nếu ai muốn đem những bộ sách này ra b́nh luận đúng sai th́ hăy tu tập như tác giả, có nghĩa là phải tu tập làm chủ sanh, già, bệnh, chết, nếu chưa làm chủ được bốn sự đau khổ này, mà b́nh luận bộ sách này th́ quư vị tự biết khả năng của ḿnh chưa đủ sức b́nh luận nó.

Nếu v́ một lư do ǵ về sự sống của quư vị mà b́nh luận nó th́ quư vị quá nông cạn, đă tự dối ḿnh, dối người để che đậy những điều không phải của Phật Giáo. Đó là quư vị quên đi bổn phận và trách nhiệm của người đệ tử Phật là phải dẹp bỏ những tà kiến ngoại đạo đang ẩn núp trong ngôi nhà chánh pháp.

Trong sách này dạy rằng “không có thế giới siêu h́nh”, nếu quư vị bảo rằng: “có thế giới siêu h́nh th́ quư vị hăy tu tập có trí tuệ tam minh, rồi quan sát vũ trụ t́m xem linh hồn người chết, Thần, Thánh, quỷ ma ở đâu, có hay không có? Chừng đó mới b́nh luận sách này đúng sai.

C̣n bảo rằng sách này dạy không đúng lời của Phật, th́ quư vị hăy lấy tạng kinh Nikaya ra so sánh và phải sống cho đúng đời sống Phạm hạnh của bậc Thánh Tăng, Thánh Ni, thiền định phải nhập cho được bốn Thánh Định, làm chủ đời sống, tâm không c̣n tham sân si, mạn, nghi; làm chủ bệnh tật, không c̣n đi bệnh viện bác sĩ mà phải tự khắc phục các bệnh khổ, nó không c̣n tác động đến thân tâm và phải làm chủ sự sống chết. Khi làm chủ được như vậy th́ quư vị mới b́nh luận bộ sách này đúng sai với giáo lư Phật Giáo. C̣n quư vị chưa thực hiện được th́ xin quư vị đừng bàn đến mà hăy lo tu tập để cứu ḿnh. V́ quư vị chưa làm chủ được sự sống chết mà dựa vào những kiến giải của những nhà học giả xưa và nay th́ cũng giống như những người mù sờ voi th́ quư vị sẽ làm tṛ cười cho những người hiểu biết. Tại sao vậy?

V́ lời nói của quư vị không minh chứng được với việc tu hành. Lời nói không đi đôi với hành động sống và làm chủ thân tâm, thành ra quư vị chỉ lư luận suông mà thôi.

Kính thưa quư vị! Phật Giáo là một tôn giáo có nền đạo đức nhân bản - nhân quả của ḷai người, nền đạo đức ấy sẽ giúp cho con người xây dựng cho ḿnh một cuộc sống Thiên Đàng, Cực Lạc tại thế gian này. V́ thế, chúng ta không có quyền d́m mất nó đi một lần nữa, nó mất đi ḷai người trên hành tinh này chịu một sự thiệt tḥi rất lớn và nhất là Phật giáo chỉ c̣n là một tôn giáo mê tín mà thôi. Xin quư vị lưu ư.

Sau cùng chúng tôi xin thành tâm kính chúc quư vị thân tâm dồi dào sức khỏe.

Kính ghi

Thích Thông Lạc

THAY LỜI TỰA

Hôm nay là buổi học đầu tiên về pháp hành, đường lối tu tập của đạo Phật, xin quư Thầy và quư Phật tử nên chắp tay lên niệm hồng danh đức Phật: “Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni” (3 lần).

Đây là những bài học đạo đức nhân bản - nhân quả làm người, nó được mọi người có đủ duyên rèn luyện tu tập từ khi có đạo Phật xuất hiện trên hành tinh này. Đấng Giáo Chủ đạo Phật được người đời sau tôn xưng là Đức Thích Ca Mâu Ni. Người đă tự tu, tự chứng và đă giác ngộ đạo lư nhiệm mầu, chứng thật sự làm chủ sanh, già, bệnh, chết. Đó là một sự giải thoát ra khỏi kiếp sống của con người đầy dẫy đau khổ và luôn luôn nối tiếp măi trong kiếp luân hồi sanh tử không bao giờ dứt.

 Đạo Phật đă có mặt trên trái đất này từ 2541 năm cho đến nay, nhưng nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu kỹ về kinh sách và lịch sử của đạo Phật theo kinh tạng Nguyên Thủy th́ chúng ta sẽ thấy:

Khi đức Phật c̣n tại thế, th́ chúng Tỳ kheo tu tập đúng chánh pháp. C̣n khi ông A Nan mất và về sau này chúng Tỳ kheo đều tu sai pháp của đạo Phật (Ông A Nan là người đệ tử sau cùng của đức Phật nhập diệt). V́ thế, không c̣n người tu chứng lái con thuyền Phật giáo vững vàng, nên các Tổ Bà La Môn tự tung, tự tác kết tập và biên soạn kinh sách theo kiến giải, tưởng giải của ḿnh, không có một chút kinh nghiệm tu chứng, nên kinh sách phát triển biên soạn theo kiểu thế tục hóa mê tín dân gian. Cho nên, khi các Tổ tu chưa chứng mà đi truyền đạo đến các nước khác th́ bị các tôn giáo khác đồng hóa. V́ thế, kinh sách phát triển Đại Thừa là một loại kinh sách tưởng mà không có gốc.

Tuy vậy, một trăm năm đầu ấy, ngay từ khi đức Phật c̣n tại thế, chúng Tỳ kheo c̣n có nhiều người sống không đúng Phạm hạnh, không ly dục ly ác pháp, nên đức Phật buộc ḷng phải chế giới bổn Patimokha để ngăn cấm, nhưng từ khi có giới bổn ra đời chúng Tỳ kheo lại càng vi phạm nhiều hơn (Đoạn kinh này do lư giải của các Tổ trong các kinh Đại Thừa). Riêng chúng tôi nghiên cứu kinh sách Nguyên Thủy th́ không phải vậy. V́ bộ kinh giới Sa Môn Quả, đức Phật đă dạy đầy đủ giới luật, không có thiếu một giới nào cả: “giới cấm, giới đức, giới hạnh và giới hành” trong kinh Trường Bộ tập 1 thuộc tạng kinh Nikaya – Pali. Chỉ có giới cấm sau này các Tổ biên soạn ra và gán cho Phật chế ra. Trong bộ giới cấm của các Tổ, chúng ta thấy có nhiều chỗ sai lầm rất lớn như: đức Phật là một người tu chứng đầy đủ trí tuệ, thế mà chế giới ra, giới luật lại được sửa đi, sửa lại năm lần bảy lượt. Các bạn thấy như vậy có đúng không? C̣n trong kinh Sa Môn Quả, đức Phật chỉ thuyết giảng Thánh Hạnh quả của người tu sĩ Phật giáo cho vua A Xà Thế nghe có một lần, chứ không bao giờ sửa đi sửa lại. Do điều này, mà chúng ta biết bộ giới cấm là do các Tổ biên soạn viết ra.

Đến khi đức Phật thị tịch, các vị đại đệ tử của Người, không đủ uy đức điều khiển với một số chư Tăng quá đông đảo (1250) vị Tỳ kheo. V́ thế, sau khi trà tỳ đức Phật xong, các vị đại đệ tử của đức Phật, nhất là ông Ca Diếp đă trực tiếp nghe một số chúng Tỳ kheo vui mừng khi hay tin đức Phật nhập diệt.

Sau khi đám tang xong, ông vội vàng mở cuộc họp, thiết lập cuộc kết tập kinh luật lần đầu tiên, để lấy đó làm giềng mối cho đạo Phật ở ngày mai.

Từ khi đức Phật nhập diệt, kinh luật đă được thiết lập theo các Tổ, nhưng mầm mống chia rẽ và phá giới, phạm giới đă có từ lúc đức Phật c̣n tại thế. Cho nên, ít ai c̣n giữ ǵn và sống đúng giới hạnh. Đến khi ông A Nan tịch th́ không c̣n ai có đủ quyền lănh đạo, nên lần lượt chư Tăng chia thành nhiều bộ phái (20 bộ phái) và mỗi bộ phái tự kiến giải kinh luật riêng của bộ phái ḿnh. Do đó, kinh sách phát triển của đạo Phật, càng ngày càng tăng lên rất nhiều.

Chính những kinh sách này, dẫn đến ĺa xa đạo Phật (mất gốc). Người tu sĩ đạo Phật, sống không c̣n đúng Phạm hạnh, tâm không ly dục ly ác pháp được, nên Thiền định tu hành chẳng có kết quả, nhập định chẳng được, phần đông rơi vào tà định. V́ thế, thời nay ít ai tu đúng "Chánh niệm" và nhập đúng "Chánh định". Tứ Niệm Xứ và Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định chỉ c̣n là lư thuyết suông.

Những học giả, những giảng sư và những hành giả tu chưa đến nơi, đến chốn, đem tưởng giải và kiến giải ra giảng những kinh Tứ Diệu Đế, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Định, Thập Thiện, Đạo Đức Nhân Quả của đạo Phật v.v… Họ không thể triển khai ni, chỉ thuyết giảng loanh quanh, lập lại những kiến giải, tưởng giải của những người xưa, rồi thêm vào những kiến giải vay mượn của các tôn giáo khác, của cả khoa học hiện đại ngày nay.

Đọc lại những quyển kinh luận của các nhà học giả, sư, thầy viết ra, lư chánh pháp mù mờ không rơ, đời - đạo viên dung lố bịch, đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo, mượn râu ông nọ cắm cằm bà kia, giống như chiếc áo chắp vá chỗ này, chắp vá chỗ khác, hành pháp th́ không thông, nên tưởng tượng ra các hành, dựa theo khoa học, vơ học, dưỡng sinh, khí công, các pháp hành của Yoga v.v…, tu tập ức chế thân tâm một cách quá đáng, tạo ra biết bao nhiêu bịnh tật cho những hành giả ngu si tự đem ḿnh vào chỗ chết, chỗ khổ mà không biết.

Kinh sách phát triển của đạo Phật quá nhiều, nhưng chẳng biết t́m đâu ra một cuốn kinh nào để tu đến nơi đến chốn, đọc vào chỉ toàn là luận lư thuyết suông, thực hành th́ vay mượn những pháp môn của ngoại đạo. Chính những người đă viết ra những bộ kinh sách đang bày bán, họ cũng chẳng tu đến đâu, v́ họ đang sống chạy theo dục lạc thế gian như những người khác, v́ thế biết rơ họ chưa giải thoát.

Sau mười năm trong thất, sống giữ ǵn giới luật đúng Phạm hạnh và tu tập Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Định, chúng tôi đă thấy được kết quả của những pháp môn này, làm chủ sự sống chết và chấm dứt tái sanh luân hồi.

Ra thất, chúng tôi thành lập tu viện Chơn Như, quyết tâm chấn hưng lại Phật Pháp. Mười bảy năm trôi qua, biết bao nhiêu người theo tu với chúng tôi, chỉ có ăn, ngủ, độc cư mà không ai tu nổi, th́ làm sao tu định vô lậu, ly dục ly ác pháp, không ly được dục ly ác pháp th́ làm sao nhập Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định được.

HiệnTại An Lạc Trú Tứ Thánh Định, không nhập được th́ không bao giờ làm chủ sự sống chết và chấm dứt luân hồi.

Tu viện của chúng tôi, chỉ c̣n lại một vài nguời sống đúng Phạm hạnh, ly dục ly ác pháp, hiện giờ họ đang thực hiện khá sâu vào Tứ Niệm Xứ để thực hiện Thiền định (Tứ Thánh Định), họ sẽ là những người thắp sáng lại đạo Phật sau này, nếu chúng sanh có đủ duyên, c̣n nếu không đủ duyên tức là thiếu phước th́ những tu sĩ này sẽ không đủ nghị lực và bền chí chiến đấu lại những nghiệp lực cuối cùng của đời họ, th́ Phật giáo chấn chỉnh rất mờ mịt và khó khăn vô cùng. V́ giới luật, là cửa ngơ để bước vào được nhà Thiền định mà giới luật th́ quá khắc nghiệt. Cho nên, sống đúng giới luật th́ quá khó khăn vô cùng.

Con đường tu hành theo đạo Phật rất thực tế và cụ thể cho tất cả mọi người, đều có thể giải thoát khỏi cảnh khổ của thế gian bằng một cuộc sống "Đạo" ly dục ly ác pháp.

Sống có ly dục ly ác pháp th́ sự tu hành theo đạo Phật mới có kết quả, bằng ngược lại tu hành vô ích, không lợi ḿnh lợi người c̣n mang nợ đàn na thí chủ.

V́ sống đạo th́ phải ly dục ly ác pháp, nên ít có người theo sống được, hầu hết đều bỏ cuộc tu hành hoặc tu có h́nh thức hoặc biến thái đạo Phật qua một h́nh thức khác (Bồ tát hạnh) để dễ bề hành dục lạc.

Suy đi nghĩ lại, chúng tôi đắn đo nhiều lần. Có nên triển khai giáo án đường lối tu tập của đạo Phật cho hậu thế ngày mai không? Nếu đường lối tu hành của đạo Phật không được phổ biến ở đời này, nhất là “đạo đức nhân bản - nhân quả giải thoát không làm khổ ḿnh, khổ người” th́ loài người sẽ đi về đâu? Và sẽ khổ đau biết dường nào?

Sự mê mờ vô minh của con người từ ngàn xưa đến nay đă lầm chấp và cho các pháp thế gian là thật có sẽ đem lại hạnh phúc cho họ, khi họ được đầy đủ. V́ sự lầm chấp này, họ ôm giữ khư khư không chịu buông bỏ ra. Do thế, ác pháp càng tăng trưởng, thiện pháp càng suy giảm, con người khổ đau lại càng khổ đau hơn.

Ḷng thương xót loài người, họ đă theo đạo Phật từ xa xưa, hiện giờ và mai sau, bao thế hệ này nối tiếp bao thế hệ kia, giải thoát đâu không thấy chỉ thấy toàn ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết, lại càng khổ đau hơn. Tu măi chỉ có an ủi tinh thần một cách trừu tượng, mơ hồ chẳng có thực tế chút nào cả, chẳng có lối thoát ra, loanh quanh lẩn quẩn trong mê hồn trận của ngoại đạo.

Những gương Thầy Tổ của chúng ta trước khi chết họ phải chịu khổ đau quá ư cay đắng, khiến cho chúng ta bâng khuâng và lo nghĩ rất nhiều về số phận của ḿnh và các đệ tử sau này.

Đạo Phật nói riêng và các tôn giáo khác nói chung, có giải quyết được sự khổ đau của con người hay chăng? Nhất là bốn nỗi khổ của kiếp làm người: sanh, già, bệnh, chết. Không lẽ tôn giáo ra đời chỉ là những điều an ủi tinh thần suông của thế hệ này, đến thế hệ khác sao? Cho nên, chúng ta tự hỏi: “mục đích của các tôn giáo đến với loài người để làm ǵ?. Đến với loài người, để xây dựng nền đạo đức nhân bản – nhân quả, giúp cho con người tự không làm khổ ḿnh, không làm khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh, hay là tôn giáo đến để ru ngủ con người vào một giấc mơ đẹp Thiên Đàng, Cực Lạc, Niết Bàn hay chứng Thiền, chứng đạo hoặc kiến tánh thành Phật, thành Tiên, thành Thánh v.v

Do những sự tư duy trên đây, bắt buộc chúng ta phải xác định rơ ràng về tôn giáo: Nếu giáo lư của tôn giáo nào chứng nghiệm được như khoa học th́ giáo lư ấy là đạo đức nhân bản – nhân quả của loài người; c̣n giáo lư nào chứng nghiệm khoa học không được th́ giáo lư ấy là giáo lư mơ hồ, trừu tượng, giáo lư mê tín, giáo lư ru ngủ con người giống như liều thuốc an thần.

Sau những ngày nghiên cứu các tôn giáo, Chúng tôi chọn Phật Giáo, v́ Phật giáo rất gần gũi với khoa học. Chọn xong và đem hết cuộc đời ḿnh, quyết hy sinh làm một cuộc thí nghiệm trên giáo pháp của tôn giáo ấy. Nhờ sự quyết tâm đó, chúng tôi đă loại bỏ ra rất nhiều pháp môn của ngoại đạo đang pha trộn trong giáo pháp của Phật Giáo. Cuối cùng, chúng tôi chứng nghiệm sự giải thoát của đạo Phật rất cụ thể và rơ ràng. Khi sống trong trạng thái giải thoát, chúng tôi không đành ḷng nh́n con người dần dần đi xuống hố thẳm khổ đau, mà cứ tưởng ḿnh vượt ra đau khổ bằng khối óc, đôi tay, bằng những kỹ thuật, khoa học, công nghệ hiện đại v.v.. Họ tin rằng, khoa học và công nghệ hiện đại sẽ làm ra vật chất đầy dẫy, th́ loài người sẽ đầy đủ hạnh phúc an vui, không c̣n khổ đau nữa. Sự nghĩ tưởng như vậy, họ đă lầm. Nếu con người không có đạo đức, th́ đừng lấy vật chất mà giải quyết sự khổ đau của con người được. Vật chất càng nhiều, sự khổ đau của con người càng lớn, do ḷng ham muốn vật chất nên tạo ra nhiều ác pháp và thế gian này sẽ là địa ngục. Nếu không có đạo đức, mà v́ vật chất th́ con người sẽ trở thành ác thú hay là quỷ dữ v.v.. Biết ḿnh tu hành chưa đủ uy đức như Phật, chưa đủ tài trí làm công việc lớn này, nhưng không thể làm ngơ trước sự đau khổ của muôn người, trước sự tồn vong của đạo Phật, nhất là nền đạo đức nhân bản – nhân quả.

Một tôn giáo có hàng triệu triệu người theo tu hành, lại tu không đúng chánh pháp. V́ thế, chúng tôi chẳng ngại nói lên sự thật, để xây dựng lại đường lối tu tập của đạo Phật đúng đắn, để làm sáng tỏ lại giáo pháp và nền đạo đức của đức Phật, và để cứu giúp biết bao nhiêu người, đang lầm đường lạc lối, tu sai pháp (tu ức chế tâm).

Nếu trên thế gian này, c̣n có những bậc chân tu của Phật giáo th́ hăy v́ tiền đồ của Phật giáo, v́ tất cả chúng sanh, v́ nhân loại… Hăy cùng với chúng tôi, vui ḷng góp sức chỉ những chỗ sai sót, để chúng tôi kịp thời chấn chỉnh cho đúng đường lối tu hành, và đạo đức nhân bản - nhân quả của đạo Phật. Xin chân thành tri ân quư vị.

Kính ghi

Trưởng lăo Thích Thông Lạc

(Ngày 06 - 10 – 1997)

LỜI BẠT

Biên soạn và trả lời những câu hỏi của các Phật tử bốn phương về đường lối tu tập của đạo Phật, chúng tôi dựa theo bốn bộ kinh A Hàm thuộc Hán Tạng và năm bộ kinh Nikaya thuộc Tạng Kinh Pali cộng với kinh nghiệm tu hành của chúng tôi.

Việc biên soạn những câu trả lời này, chúng tôi tự hiểu lời dạy của đức Phật qua kinh nghiệm tu hành, không dựa vào diễn giải của các nhà học giả xưa và nay, không theo lối ṃn đă giảng dạy của các Ngài, không chịu ảnh hưởng danh từ dịch thuật và các tôn giáo khác.

Chúng tôi biên soạn những câu trả lời này qua những lời Phật dạy trong các bộ kinh Nguyên Thủy mà chúng tôi tu tập đă có kết quả thiết thực, cụ thể, làm chủ sự sống chết và chấm dứt tái sanh luân hồi bằng sức ư thức định lực tâm linh của ḿnh.

Có những kinh nghiệm của chúng tôi đúng với những pháp hành trong kinh điển của đạo Phật. Phần đông, các nhà học giả, các vị giảng sư, xưa và nay không triển khai nổi. Nên chúng tôi phải dùng những câu kinh để chứng minh Phật đă dạy thực hành như vậy, chứ không phải tự chúng tôi kiến giải theo tâm thức phàm phu.

Khi minh chứng những lời dạy này, chúng tôi đóng ngoặc và ghi lời dạy đó ở bộ kinh luận nào, trang mấy, bài kinh số mấy để quư vị tiện nghiên cứu lại. C̣n chỗ nào dễ hiểu và không nghi ngờ, th́ chúng tôi thuyết giảng luôn và không minh chứng, được xem đó là ḍng tư tưởng lưu xuất của chúng tôi đang ḥa nhịp với những lời Phật dạy trong kinh tạng Pali. V́ thế, chúng tôi không cần nêu ra, v́ có nêu ra làm mất thời giờ vô ích.

Bộ sách Văn Hoá Phật giáo Đường Về Xứ Phật này, được giảng dạy đi thẳng vào cuộc sống Phạm hạnh (Giới luật), lư đạo, lư pháp song song với hành pháp, để tiện việc cho người tu hành, biết cách sống đúng Thánh hạnh của đạo Phật. Và những ǵ cần thông suốt th́ phải thông suốt, thực hành dứt bỏ những ǵ cần dứt bỏ, tu tập những ǵ cần tu tập, trau dồi thân tâm những ǵ cần trau dồi.

Người muốn tu theo đạo Phật, phải chấp nhận đường lối tu tập này, là một pháp môn tuyệt vời đưa ḿnh ra khỏi cảnh trầm luân của thế gian, trong 24 tiếng đồng hồ một ngày đêm, không c̣n có thời giờ rảnh rỗi, liên tục tu tập, dù là giờ đi nghỉ, giờ thọ thực vẫn có pháp để thực hành.

Người tu theo đạo Phật, thực hành đúng như lời dạy trong đường lối tu tập này, th́ trong hiện tại ngay đây liền sẽ có một cuộc sống giải thoát hoàn toàn, hạnh phúc an lạc, không phải chờ đợi một ngày, hai ngày, ba bốn năm ngày mà ngay khi quyết tâm bắt tay vào sự tu hành. Kết quả thấy liền, không làm khổ ḿnh, không làm khổ người, sống một đời thanh cao, an lạc.

Chỉ có những người không nhiệt tâm, chấp hành tu tập không đúng lời dạy trong sách này, thường để thất niệm nên không có kết quả giải thoát, dù tu suốt đời cũng vậy. Họ là những người tu theo đạo Phật mà tâm đời không muốn rời bỏ, nên kết quả chẳng ra ǵ. Họ là những người tu chơi làm mất thời giờ vô ích.

Việc biên soạn những câu trả lời này, mục đích dựng lại những tinh hoa cốt tủy của đạo Phật, ngơ hầu giúp cho mọi người thấu hiểu đạo Phật rơ ràng và khái quát hơn.

Một tôn giáo có cuộc sống an lạc hạnh phúc, gần nhất của loài người, thực tế và cụ thể như khoa học hiện đại, một tôn giáo không có tính cách mê tín, trừu tượng, huyền bí, thần kỳ, chỉ là một sức tự lực thoát ra ḷng ham muốn của chính ḿnh, để vượt khỏi sóng gió ba đào của kiếp người, bằng một nghị lực kiên cường, gan dạ, nhẫn nại, bền chí …

Việc biên soạn những câu trả lời này, là mục tiêu quét sạch những tà kiến ngoại đạo đang giả danh, giả nghĩa đạo Phật, làm mê mờ và lừa gạt hằng vạn triệu tín đồ Phật giáo trên khắp năm châu.

Việc biên soạn những câu trả lời này là mục đích chỉ thẳng cho tín đồ Phật giáo nhận biết những vị Tỳ kheo nào là đệ tử của đức Phật và những vị Tỳ kheo nào là đệ tử của Bà La Môn Giáo và Tiên Giáo…

Lời thật mất ḷng, chúng tôi biết, ngoài chúng tôi ra chẳng c̣n ai dám nói thẳng. Từ xưa đến giờ, có nhiều người đă biết cái không đúng trong đạo Phật và giáo lư ngoại lai đă biến Phật giáo thành Thần giáo mà vẫn cứ chịu làm thinh, v́ không dám nói ra, nói ra các vị thầy lớn và các bậc tôn túc răn đe đủ cách khiến cho các thầy nhỏ chẳng dám hé răng. Họ bưng bít mọi điều để che đậy các hành động sai quấy của ḿnh. Cũng v́ thế, Phật giáo chỉ c̣n có bề mặt bên ngoài, c̣n bên trong th́ mối mọt đă đục nát tan.

Những bậc chân tu nh́n thấy hoàn cảnh tu sĩ của Phật giáo hiện giờ, phạm giới, phá giới, sống như người thế tục, vật chất đầy đủ, xe cộ không thiếu, nhà cao cửa rộng, sống như những hàng vua chúa, ai mà không đau ḷng, đó là một sự sa đọa của tu sĩ Phật giáo, một sự phá hoại Phật giáo tận cùng.

Hoàn thành một bộ sách Văn Hoá Phật giáo Đường Về Xứ Phật, để xác định rơ đường lối tu tập của đạo Phật là một việc làm rất khó trong giai đoạn này. Vả lại, việc in thành sách nếu không có Phật tử góp công, góp sức và ủng hộ th́ khó viên thành. Nhưng, chúng tôi là những tu sĩ đạo Phật, thấy biết rất rơ các pháp trong thế gian đều do duyên. Duyên chưa đủ, chúng ta có muốn cũng khó thành. Nếu phước chúng sanh đủ, duyên kia sẽ thành, lo ǵ bộ sách này không đến tay quư vị.

Chúng tôi sẽ đem hết sức ḿnh làm việc, để bộ sách này, được đến tay quư vị, sớm chừng nào tốt chừng nấy, để không phụ ḷng mong đợi của quư vị.

Kính ghi

Trưởng lăo Thích Thông Lạc

(Ngày 08 tháng 10 năm 1997)

 

CHƯƠNG I

NGƯỜI CƯ SĨ
ĐẾN VỚI ĐẠO PHẬT
TRƯỚC TIÊN CẦN THÔNG HIỂU

 

 

 

DUYÊN PHẬT PHÁP

Một người có đủ duyên được đọc kinh sách của đạo Phật, thấy được chân lư của Đạo rất thực tế và cụ thể, hướng dẫn con người cách thức sống có đạo đức, tu tập và trau dồi thân tâm để thoát khỏi kiếp sống đọa đày trầm luân đau khổ của kiếp người, bằng sức tự lực của chính ḿnh nhất là điều khiển được sự sống chết như ư muốn và c̣n chấm dứt được sự tái sanh luân hồi.

V́ thế, khi bắt đầu đến với đạo Phật để trở thành người đệ tử chân chánh, th́ quư vị cần phải thông hiểu những ǵ chân thật và những ǵ không chân thật của đạo Phật. Quư vị cần phải sáng suốt chấp nhận những ǵ đúng và phải biết gạt bỏ những ǵ không đúng của Phật giáo. Và cuối cùng, quư vị cần phải biết kính trọng và không kính trọng những ǵ phải và những ǵ không phải của đạo Phật.

Phần đông, Phật tử hiện giờ không cung kính và tôn trọng chánh pháp của đạo Phật, họ thường tôn kính giáo pháp phát triển của một số hệ phái và luôn luôn tu hành theo giáo pháp trừu tượng mê tín đó, mặc dù kết quả tu hành chẳng ra ǵ. Nếu có ai mạnh dạn nói rằng, giáo pháp phát triển của những hệ phái đó không phải là của Phật thuyết, đó là giáo pháp mê tín của ngoại đạo Bà La Môn, th́ họ căm tức và t́m mọi cách chống lại. Đôi khi, c̣n dùng những lời lẽ xỉ vả, mạt sát, một cách hung tợn và bảo thủ.

Khi một người chưa biết Phật Pháp, chưa hiểu đạo Phật, một hôm có đủ duyên được đọc một cuốn kinh Phật như trường hợp chúng tôi đă nghe quư Phật tử thuật lại: Con từ hồi nào tới giờ chưa biết Phật Pháp, một hôm được người bạn trao cho cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm. Nhờ đọc kinh này, con thấu lư của đạo Phật quá tuyệt vời, quá hay. Nên từ đó, con hướng tâm đến đạo Phật, thường đi nghe thuyết giảng trong các chùa và mua thêm những loại kinh sách Phật để tham cứu đường lối và cách thức tu tập của đạo Phật, càng đọc kinh sách Phật con lại càng có ư muốn đi tu hơn!!!”.

Đó là, những người hữu duyên may mắn được đọc các bộ kinh như: Thủ Lăng Nghiêm, Kim Cang Kinh, Pháp Hoa Kinh, Phật Học Phổ Thông và toàn bộ giáo lư A Hàm hoặc kinh Nikaya. Ngược lại, những người chưa đủ duyên, chưa được đọc kinh sách Phật, chưa hiểu đạo Phật ra sao, nên nh́n đạo Phật như một tôn giáo mê tín, ông Phật như ông Thần chuyên pḥ hộ và ban phước lành cho nhân gian.

Hầu hết hiện giờ, mọi người hiểu đạo Phật qua bốn hệ phái khác nhau:

1. Tịnh Độ Tông, biến Phật giáo thành tôn giáo mê tín, cúng bái, cầu khẩn, niệm Phật cầu văng sanh như Đạo Bà La Môn.

2. Thiền Tông, biến Phật giáo thành Tiên Giáo.

3. Duy Thức Tông, biến Phật giáo thành khoa tâm lư học.

4. Mật Tông, biến Phật giáo thành tôn giáo huyền bí, linh thiêng.

Thật ra, Phật giáo không phải tâm lư học, không phải cảnh giới siêu h́nh (Cực Lạc) không phải bản thể của vạn hữu, cũng không phải linh thiêng siêu phàm nhập thánh mà chính là cuộc sống b́nh thường như mọi người đang sống, nhưng họ đă ĺa xa ḷng ham muốn và các ác pháp.

Người nào hiểu đúng và biết cách sống đúng ly dục ly ác phápsẽ có tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự. Đó chính là, người có hữu duyên với chánh pháp của đạo Phật, bằng ngược lại th́ đó là vô duyên hoặc gặp tà pháp, hoặc có duyên với tà pháp như người Phật tử đă nói ở trên.

Vô duyên không gặp chánh Phật Pháp, c̣n hơn là những người hữu duyên mà gặp lại tà pháp của ngoại đạo. Gặp tà pháp của ngoại đạo th́ lại sanh ra kiến chấp, kiến chấp rất là khó bỏ. Con người vốn vô minh nên khi gặp pháp nào cũng đều tin. Tin một cách mù quáng nên dễ dính mắc tà pháp, nhưng dù biết đó không đúng pháp của đạo Phật, nhưng rất khó bỏ. V́ thế, trên thế gian này có rất nhiều tôn giáo, nhưng tôn giáo nào cũng có người theo, nhất là những tôn giáo có thần thông lại dễ cám dỗ người theo hơn. Do đó, giáo pháp nào có thần thông th́ người theo càng ngày càng đông, như kiến bu trên cục đường. Nghe thần thông ai lại không mê, nhưng thần thông chỉ là một loại tưởng lực, ảo giác, lừa đảo con người.

NGƯỜI TÍN ĐỒ
CHÂN CHÁNH CỦA PHẬT GIÁO

Do sự hiểu biết không thâm sâu về đạo Phật, hiểu biết một cách nông cạn. V́ thế, tín đồ Phật giáo có thể chia làm năm loại:

1. Người tín đồ đến chùa cúng bái, cầu an, cầu siêu, xin xăm, bói quẻ, xem ngày tốt xấu, cúng sao, giải hạn v.v.. (Phật tử mê tín).

2. Người tín đồ đến chùa cúng dường chư Tăng, nghe thuyết pháp giảng kinh để t́m hiểu đạo Phật, những người này có học thức nhưng lại thiếu cân nhắc, nghe giảng pháp nào tin ngay pháp nấy. Không biết pháp có đúng hay sai của đạo Phật, cứ nghe giảng có lư là cứ tu tập. Do thế, sanh ra kiến chấp, tranh luận hơn thua... (Phật tử nông nổi).

3. Người tín đồ đến chùa ít cúng dường chư Tăng, ít lễ Phật, ít cúng bái, chỉ chuyên nghe thuyết giảng kinh điển, học thuộc làu nghĩa lư và thỉnh nhiều loại kinh sách của các nhà học giả nghiên cứu sưu tầm soạn ra, lấy đó làm tiêu chuẩn, rồi cũng tự kiến giải nghĩa lư ấy, theo quan điểm riêng tư của ḿnh, t́m các bậc tu hành tranh luận hơn thua để hạ nhục họ và tự cho ḿnh như một bậc Thầy thông suốt lư đạo. Đôi khi, c̣n tỏ ra như ḿnh đă tu chứng (Phật tử kiêu căng).

4. Người tín đồ đến chùa không cúng bái Phật, không cúng dường chư Tăng, không nghe thuyết giảng kinh, chỉ móc nối làm ăn (Phật tử mượn danh làm ăn).

5. Người tín đồ đến chùa cúng bái Phật, cúng dường chư Tăng, nghe thuyết giảng kinh điển để t́m hiểu và cân nhắc pháp môn nào đúng, pháp môn nào sai, để chọn lấy pháp môn chân chánh của đạo Phật rồi mới tu tập (Phật tử chân chánh).

Trong năm loại Phật tử, chỉ có loại Phật tử thứ năm, mới chính là tín đồ Phật giáo thuần thành, chấp hành nghiêm túc theo đúng lời dạy của đức Phật, c̣n bốn loại Phật tử kia, là tín đồ không hiểu đạo Phật chịu ảnh hưởng tà giáo ngoại đạo khiến Phật giáo suy vong, cũng chính do bốn hạng Phật tử trên, nhất là hạng Phật tử mê tín.

Nếu không là đệ tử của đức Phật th́ thôi, mà đă là đệ tử của đức Phật, th́ phải có sự sáng suốt, ngăn ngừa bảo vệ không cho tà giáo ngoại đạo xâm chiếm vào Phật giáo mới đúng, đàng này th́ khác, đệ tử của đức Phật mà lại nối giáo cho ngoại đạo để diệt Phật giáo mới thật là đau ḷng.

Kính thưa quư vị! Không phải quư vị hiện giờ đang thực hành và ca ngợi giáo pháp của ngoại đạo sao?

Những điều quư vị đến chùa cúng bái, cầu siêu, cầu an, cúng sao giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu v.v.. và như vậy, quư vị có làm đúng như lời Phật dạy không?

Quư vị hằng ngày ngồi Thiền, niệm Phật đă được những kết quả giải thoát ǵ? Tâm có hết tham, sân, si chưa? Hay chỉ ngồi kiết già ba bốn tiếng đồng hồ, quư vị cho đó là kết quả ư!

Ở những giáo pháp này, đă biến quư vị trở thành những con chiên ngoan đạo, quư vị có biết không?

Những giáo pháp này, đă biến Phật giáo thành tà giáo ngoại đạo, mê tín, lạc hậu, thiếu khoa học, không logic. Các vị có tin lời nói của chúng tôi không? Đó là, một sự thật hiển nhiên, xin các vị suy ngẫm lại.

VỊ MINH SƯ PHẬT GIÁO

Người vô duyên không được gặp Phật Pháp, cuộc đời trôi theo ḍng nước dục lạc uế trược thế gian, bảy nổi ba ch́m, khổ đau vô tận, từ kiếp này chuyển sang kiếp khác không bao giờ dứt, như con kiến đi quanh ṿng miệng lu.

Người vô duyên không gặp Phật Pháp, lại gặp tà pháp, càng tu tự ngă càng cao, thường gạt người để mua danh cầu lợi, làm nhiều điều tội ác, thật là uổng phí cho một đời tu của một kiếp người.

Người hữu duyên gặp được Phật Pháp nhưng không gặp được minh sư, không thấu rơ lư chánh pháp của đạo Phật, tu tập theo kiến giải của các nhà học giả, giống như loài vật gặm xương, bỏ đi th́ uổng, nhai lại th́ chẳng có ǵ.

Người hữu duyên và có tâm quyết tu theo đạo Phật, để mong cầu thoát ra cảnh khổ trần lao thế tục, mà lại gặp những kinh sách phát triển ngoại đạo, hiện hành của các nhà học giả biên soạn ra, xưa và nay th́ tu hành, dở sống dở chết chẳng ra ǵ. Đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo.

Để làm sáng tỏ trong giới tu sĩ Phật giáo hiện giờ, chúng ta có thể chia làm sáu loại tu sĩ như sau:

1/   Tỳ kheo chuyên cúng bái, tán tụng, kệ ngâm (ứng phú đạo tràng). Tỳ kheo này ít học giáo lư, chùa là nơi sinh sống như một gia đ́nh, có vợ, có con, tự làm ăn mọi nghề nghiệp như một gia đ́nh thế tục: làm ruộng, làm rẫy, làm vườn, chăn nuôi heo, gà, dê, ḅ v.v.. Có ai thỉnh đi cúng bái, tụng niệm cầu siêu, cầu an v.v.., đều cất giá tiền công hẳn ḥi.

2/   Tỳ kheo chuyên cúng bái tụng niệm, cầu siêu, cầu an, tổ chức lễ lộc, tổ chức hành hương, tổ chức từ thiện v.v.. Các vị Tỳ kheo này không có vợ con, có tŕnh độ giáo lư và có học thức, đi đám tụng niệm không lấy tiền công, chỉ nhận tiền cúng dường trai tăng tứ sự v.v.. Chùa là nơi sinh hoạt của những Phật tử mê tín suốt ngày.

3/   Tỳ kheo chuyên học tập giáo lư, làm việc Giáo Hội, giảng sư dịch thuật, soạn kinh viết sách, các vị Tỳ kheo này có tŕnh độ văn hóa cao, có kiến thức Phật giáo sâu rộng nhưng không có tu hành, họ thuộc về cấp lănh đạo Giáo Hội Phật Giáo.

4/   Tỳ kheo vừa tu vừa thuyết giảng kinh điển Thiền, Mật và Tịnh cho tín đồ tu tập theo kiến giải của ḿnh, những Tỳ kheo này tu theo Bồ Tát Đạo, hành Bồ Tát Hạnh. Bốn hạng Tỳ kheo trên đây thuộc về Bắc Tông Đại Thừa Giáo.

5/   Tỳ kheo chuyên ăn thịt chúng sanh, đó là những Sư Nam Tông, tu theo kinh sách Nguyên Thủy, nhưng bị kiến giải của các nhà học giả có học thức cao trên đại học thường phá giới, sống phi Phạm hạnh nên hiểu sai lời dạy của đức Phật đă trở thành những ác tri thức, mất chủng tử từ bi, xa ĺa hạt giống chánh pháp, thường lư luận để ăn thịt chúng sanh: “Ăn không thấy, không nghe, không nghi”.

6/   Tỳ kheo cất thất, am, cốc riêng để tu một ḿnh, đó là những tu sĩ tiêu cực, yếm thế, chỉ t́m sự an vui cho cá nhân. Họ tưởng tu như vậy là giải thoát, nhưng nào ngờ là trốn đời chạy theo tâm ham muốn sống cảnh yên tịnh.

Trên đây là sáu hạng Tỳ kheo:

a/   Nếu quư vị chọn loại một làm thầy th́ quư vị tu theo Phật giáo Ứng Phú Đạo Tràng mê tín, chịu nhiều ảnh hưởng phong tục tập quán dân gian, những Tỳ kheo này phần đông phá giới, phạm giới, sống không bao giờ đúng giới hạnh, những tu sĩ này được xem là những cư sĩ trọc đầu.

b/   Nếu quư vị chọn loại hai làm thầy, th́ quư vị tu theo Phật giáo thuộc Bà La Môn Giáo, tu phước hữu lậu.

c/   Nếu quư vị chọn loại ba làm thầy, th́ quư vị tu theo Phật giáo danh lợi.

d/   Nếu quư vị chọn loại bốn làm thầy, th́ quư vị tu theo Phật giáo Thiền Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông. Những pháp môn tu này giống như người nhai viên sắt, nuốt chẳng vô, nhả chẳng ra.

e/   Nếu quư vị chọn loại năm làm thầy, th́ quư vị tu theo Phật giáo Nam Tông, trở thành ác tri thức, mất tâm từ bi, xa ĺa đạo giải thoát.

f/    Nếu quư vị chọn loại sáu làm thầy, th́ quư vị tu theo Phật giáo yếm thế trốn đời, tiêu cực. Cuộc đời tu hành chẳng tu tới đâu, chỉ có công mà chẳng lợi ích ǵ.

Trong đạo Phật có sáu loại tu sĩ như vậy, nếu quư vị không chấp nhận họ làm thầy của ḿnh, th́ quư vị chấp nhận ai làm thầy của ḿnh?

Chúng tôi xin giới thiệu một vị minh sư của đạo Phật, để quư vị khỏi t́m kiếm đâu xa và khỏi bị tà sư ngoại đạo lường gạt. Vị minh sư ấy là Giáo Pháp và Giới Luật của đức Phật’’. Xưa, đức Phật cũng nhờ nương vào giáo pháp và giới luật này, mà Ngài tu chứng đạo. Cho nên, khi thành đạo Ngài đă quỳ xuống đảnh lễ giáo pháp này và tôn xưng nó là Thầy của ḿnh. Đến khi nhập diệt vào Niết Bàn, Ngài di chúc lại: “Sau khi Ta nhập Niết Bàn, các Thầy Tỳ kheo hăy lấy Giáo Pháp và Giới Luật của Ta làm Thầy, làm chỗ nương tựa vững chắc tu hành…”

Chúng tôi cũng xin giới thiệu, kinh sách của chính đạo Phật để quư vị khỏi lầm kinh giả.

1. Bốn bộ kinh A Hàm.

2. Năm bộ kinh Nikaya.

Tuy rằng, bốn bộ kinh A Hàm và năm bộ kinh Nikaya là kinh gốc của đạo Phật, nhưng trong ấy các Tổ đă có sự thêm bớt rất nhiều, nhất là kinh A Hàm, các Tổ đă dịch làm lệch ư của Phật và c̣n soạn viết những bài kinh gạch nối giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa. Vậy, quư Phật tử khi nghiên cứu đừng tin trọn những kinh sách này, mà hăy nhớ lời đức Phật đă dạy:

“Này các Kàlàmà!

1-       Chớ có tin v́ nghe truyền thuyết,

2-       Chớ có tin v́ nghe truyền thống,

3-       Chớ có tin v́ nghe người ta nói đồn,

4-       Chớ có tin v́ được kinh tạng truyền tụng,

5-       Chớ có tin v́ nhân lư luận siêu h́nh,

6-       Chớ có tin v́ đúng theo một lập trường,

7-       Chớ có tin v́ đánh giá hời hợt những dự kiện,

8-       Chớ có tin v́ phù hợp với định kiến của ḿnh,

9-    Chớ có tin nơi phát xuất có uy quyền,

10-  Chớ có tin v́ bậc Sa Môn là Đạo Sư của ḿnh, v.v..

Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào, tự ḿnh biết rơ như sau: “Các pháp này bất thiện, các pháp này là có tội lỗi, các pháp này bị người có trí hiểu biết chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”. Thời này, Kàlàmà hăy từ bỏ chúng không nên tin theo”.

Những lời dạy trên đây của đức Phật, là những lời nhắc nhở và cảnh cáo đệ tử của ḿnh, đừng quá vội tin mà bị lừa đảo những pháp môn ngoại đạo giả mạo của Phật giáo.

Rút ra từ những lời dạy này, khi bước chân vào các tôn giáo th́ chúng ta cần phải dè dặt cẩn thận nhiều hơn, không nên tin mù quáng mà phải chọn đúng chánh pháp dạy đạo đức làm Người, làm Thánh. V́ chính đạo đức làm Người, làm Thánh là sẽ không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ tất cả những loài chúng sanh.

ĐẠO PHẬT LÀ MỘT TÔN GIÁO TỰ LỰC

Người muốn đi theo con đường tu hành chân chánh của đạo Phật, th́ phải thấu rơ đời sống của con người từ khi sinh ra cho đến khi chết, toàn là một cuộc sống khổ, khổ như thật, khổ v́ thân tâm của ḿnh mang đầy ắp phiền năo tham, sân, si, khổ v́ mọi người sống chung quanh ḿnh tư tưởng không đồng nhau, khổ v́ hoàn cảnh trái ngang lúc thuận lúc nghịch, khổ v́ cơm ăn áo mặc phải vất vả gian nan. Khi chúng ta thấy đúng, biết đúng khổ như vậy, th́ mới dám chọn con đường tu hành của đạo Phật. Nếu không thấy đời sống khổ như thật, c̣n thấy nó có hạnh phúc, có an lạc, sung sướng th́ đừng nên chọn con đường tu hành của đạo Phật.

Tại sao vậy?

Tại v́, con đường tu hành của đạo Phật là con đường đi ngược lại với cuộc sống của đời người. Vả lại, con đường tu hành theo đạo Phật là một con đường phải tự lực dùng sức lực của ḿnh, luôn luôn phải trau dồi thân tâm và rèn luyện tu tập cố sức xả bỏ những tâm niệm đầy tham muốn và các ác pháp đang vây quanh. Khi muốn xả bỏ như vậy, th́ chúng ta cần phải gan dạ, lầm lỳ, kiên tŕ, chịu đựng, kham nhẫn v.v.. Và c̣n phải đầy đủ nghị lực để mạnh dạn dứt bỏ những thói hư, tật xấu, chứ không phải vào điện Phật cúng bái, cầu khẩn, van xin, nhờ tha lực chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ, trợ lực cứu khổ cứu nạn, giải thoát các khổ đau, tai ương, bệnh tật v.v.., hay phóng hào quang tiếp độ những vong hồn người chết về cơi Cực Lạc Tây Phương.

Và cũng không phải tu hành bằng cách tụng kinh, niệm Phật, niệm chú, ngồi Thiền, luyện bùa, luyện chú để có thần thông, pháp thuật v.v.. hoặc để cầu được sinh về Cực lạc, Niết Bàn bằng những tha lực, oai lực của chư Phật, chư Bồ tát.

Muốn tu theo đạo Phật để thoát cảnh khổ đau của kiếp làm người, th́ phải dùng sức tự lực của chính ḿnh, chứ không phải bằng tha lực của người khác, như trong các kinh sách phát triển ngoại đạo dạy.

Đọc kinh sách Nguyên Thủy, chúng ta thấy đức Phật dạy tu hành bằng những pháp môn tự lực, hầu hết không có một bài pháp nào dạy tu tập cầu tha lực. Chỉ có kinh sách phát triển ngoại đạo mới có dạy tu tha lực mà thôi (niệm Phật cầu văng sanh).

Khi nghe giảng đến đây, có người lại hỏi chúng tôi: Vậy, kinh sách Nguyên Thủy Phật dạy: “Tứ Bất Hoại Tịnh”, không phải pháp môn Tứ Bất Hoại Tịnh là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới sao?

Kính thưa quư Phật tử! Đức Phật dạy niệm Phật là sống như Phật, chứ không phải niệm danh hiệu Phật; niệm Pháp là sống đúng như pháp, tu tập đúng như pháp, chứ không phải tụng kinh; niệm Tăng là sống ḥa hợp như chúng Tăng, không chống trái nhau, chứ không phải trai tăng cúng dàng lạy lễ các vị Tăng để cầu phước báu; niệm Giới là sống đúng Phạm hạnh, không hề vi phạm giới luật và không phạm một lỗi nhỏ nhặt nào, chứ không phải hằng tháng vào ngày 30 và ngày rằm cùng nhau tụng giới. Nghe dạy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới th́ các nhà học giả kiến giải theo chữ nghĩa mà giải thích ra, niệm là đọc lầm thầm trong ư như câu; “Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni hay Nam Mô Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Niệm như vậy, là niệm không có nghĩa ǵ cả, không có sự giải thoát ǵ cả. Ở đây, đức Phật dạy niệm tức là sự tư duy Phật, Pháp, Tăng và Giới để chúng ta thấu triệt Phật, Pháp, Tăng và Giới hàm nghĩa giải thoát như thế nào, để chúng ta noi theo đó mà thực hiện sống và tu tập đúng như Phật, như Pháp, như chúng Thánh Tăng và như Giới luật đă dạy.

Có hiểu biết và tu tập như vậy, th́ mới có giải thoát thật sự, c̣n niệm danh hiệu Phật, tụng kinh, cúng dàng trai tăng và đảnh lễ chư Tăng và tụng Giới, dù có niệm Phật, Pháp, Tăng và Giới như vậy cho đến muôn kiếp ngàn đời th́ cũng chẳng có giải thoát được chút nào. Người ta đă lầm, niệm như vậy là để nhất tâm bất loạn tức là niệm không có vọng niệm xen vào, chỉ duy nhất có câu niệm Phật mà thôi, th́ sẽ được văng sanh Tịnh Độ, đó là hiểu theo Tịnh Độ Tông (Thất nhựt nhất tâm bất loạn chuyên tŕ danh hiệu A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền...). C̣n hiểu theo Thiền Tông, th́ nhất tâm bất loạn tức là chẳng niệm thiện niệm ác, chẳng niệm thiện niệm ác là Thiền định, là Phật tánh. Nhưng tất cả những sự tu tập như vậy, đều sai hết quư vị ạ! Chỗ nhất tâm bất loạn của quư vị, sẽ rơi vào thế giới tưởng của tưởng uẩn, nơi đây là mê hồn trận của tà giáo ngoại đạo. Quư vị tu hành cần nên cảnh giác nơi hang hùm nguy hiểm này. Nếu tu tập đến đây quư vị coi chừng rối loạn thần kinh mà nguy hiểm tánh mạng, biến quư vị trở thành người điên khùng.

Người mới bước chân vào đạo Phật, ngơ ngác trước đống kinh sách khổng lồ của Phật giáo phát triển. Có những loại kinh sách, chúng ta đọc vào thấy toàn sự tu tập đều nhờ tha lực để trợ lực trên bước đường đi đến giải thoát như: kinh Vô Lượng Quang, kinh Di Đà, kinh Quy Ngươn, kinh Pháp Hoa v.v..

Tất cả kinh này đă làm cho người tu sĩ nhụt chí, mất hết nghị lực, biến Phật giáo thành một tôn giáo tha lực, một tôn giáo mê tín khiến cho người đời sau tu hành chỉ c̣n biết cầu cạnh vào kẻ khác, do những sự tu hành sai này đạo Phật chẳng c̣n ai tu chứng.

Họ lư luận, người mới tu phải tụng kinh, bái sám, niệm Phật, lạy hồng danh chư Phật, phải cầu tha lực, c̣n người tu lâu năm phải tự lực ngồi Thiền quán niệm hơi thở. Người tu hành mà hiểu Phật giáo như vậy, tức là chẳng hiểu Phật giáo ǵ cả. Hiểu như vậy là hiểu theo Phật giáo phát triển.

Người mới tu, như các cư sĩ bước chân vào Đạo, đức Phật đă dạy bài học tu tập tự lực đầu tiên là phải dứt bỏ sáu nghề nghiệp ác đang sanh sống hàng ngày, nghĩa là chúng ta muốn theo đạo Phật tu hành th́ phải đổi nghề ác làm nghề thiện.

Qua bài kinh dứt sáu nghề ác, chúng ta thấy rơ sự tự lực của đạo Phật ngay từ lúc ban đầu.

Khi bước chân vào Đạo ta được nghe Người dạy:Thông hiểu những ǵ cần phải thông hiểu, dứt bỏ những ǵ cần phải dứt bỏ, tu tập những ǵ cần tu tập, trau dồi những ǵ cần trau dồi. Những việc làm này không thể cầu tha lực của người khác được.

Đạo Phật là một tôn giáo xây dựng trên nền tảng thiện pháp, mọi ác pháp đều phải được loại trừ dứt bỏ, nhờ có loại trừ ác pháp, tăng trưởng thiện pháp, cuộc sống mới có sự giải thoát an vui, hạnh phúc cho ḿnh, cho người.

Loại trừ ác pháp, chỉ có tự lực, không thể có tha lực, những điều làm ác phải tự ḿnh dứt bỏ chứ không thể cầu cạnh người khác giúp ḿnh được.

Ví như ḿnh đi ăn cắp, ăn trộm, nhờ người khác giúp ḿnh đừng ăn cắp, ăn trộm có được không? Không thể được, phải tự ḿnh biết đó là một việc làm ác, khiến người ta sầu khổ th́ ḿnh nên dứt bỏ, cũng như sáu nghề nghiệp ác, không thể cầu chư Phật giúp ḿnh dứt các nghề nghiệp ác đó được. Chính phải tự ḿnh tự lực dứt bỏ, không hành nghề ác đó nữa.

Nhờ thế, chúng ta mới biết rơ đạo Phật là đạo tự lực. Kinh sách tha lực không phải kinh sách đạo Phật.

Đạo Phật nh́n cuộc đời với đôi mắt nhân quả, nhân quả chỉ có tự lực mới dứt bỏ được mà thôi, dù cho có một đấng vạn năng cũng không giúp chúng ta vào việc này được.

V́ thế, đạo Phật là một tôn giáo mà phi tôn giáo; một tôn giáo không có đấng thiêng liêng vạn năng cứu khổ, một tôn giáo bằng sức tự lực của con người cứu ḿnh ra mọi cảnh khổ, nên đạo Phật c̣n gọi là “Đạo Độc Cư, Độc Bộ, Độc Hành”.

Đạo Phật c̣n gọi là nền đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ ḿnh, khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh.

 

CHƯƠNG II

NGƯỜI CƯ SĨ CÓ
SÁU NGHỀ KHÔNG NÊN LÀM


 

 

 

CÓ SÁU NGHỀ ÁC

Trong kinh A Hàm và Nikaya, đức Phật đă ngăn cấm người cư sĩ không nên hành sáu nghề ác, v́ sáu nghề này không phù hợp với tâm từ bi của đạo Phật. Sáu nghề ác đó như sau:

1.   Không làm nghề săn bắn, nghề săn bắn là một nghề cực ác, giết hại biết bao nhiêu loài cầm thú rừng: nai, hươu, khỉ, chồn, heo, gà rừng và các loại chim chóc khác nữa v.v..

2.   Không làm nghề chài lưới, nghề chài lưới cũng là một nghề rất độc ác, chuyên bắt tôm cá, giết hại loài thủy tộc như: đặt rọ, lờ, chài, lưới, vó, câu v.v..

3.   Không làm nghề buôn bán thịt sống, nghề buôn bán thịt sống là nghề sát sanh trâu, ḅ, heo, dê, ngựa, chó, gà, vịt v.v.. Người làm nghề này, gọi là đồ tể giết gia súc bán từng kư lô cho người khác mua về làm thực phẩm, nghề này rất độc ác, giết hại chúng sanh không chút ḷng thương xót.

4.   Không làm nghề buôn bán thịt chín, nghề buôn bán thịt chín là nghề lấy thịt chúng sanh nấu thành thực phẩm như: phở, cháo ḷng, hủ tiếu, bánh canh, b́ chả, nem v.v.. Nghề này cũng là nghề độc ác, người hành nghề này cũng đánh mất tâm từ bi.

5.   Không làm nghề sản xuất và buôn bán rượu, v́ sản xuất và buôn bán rượu khiến người ta nghiện ngập say sưa, không c̣n trí thông minh, nên họ có thể la xóm, mắng làng, chửi vợ mắng con, bất kể cha, mẹ, anh, em ruột thịt, không biết dơ sạch, nằm ngoài đường, ngủ bụi, ngủ bờ, nằm sương nằm nắng, làm mất thể diện con người, thân thể dễ sanh bệnh tật, tạo cảnh khổ đau cho cha, mẹ, anh, em, vợ, con v.v..

6.   Không làm nghề buôn bán người, nghề buôn bán người là nghề măi nô (bán nô lệ) nghề buôn hương bán phấn (nghề măi dâm) cũng là nghề buôn bán người. Nghề này rất độc ác, dùng thế lực, tiền bạc, vật chất bắt ép những người cô thân thất thế đang cảnh nghèo đói bán thân làm nô lệ, làm gái măi dâm, khiến cho gia đ́nh khổ đau và tan nát. Nghề măi dâm là một nghề đồi bại làm mất nhân phẩm của con người, khiến con người không c̣n đạo đức và c̣n tệ hơn loài thú vật, v́ con vật có lúc dâm và cũng có lúc không dâm, cho nên kẻ làm nghề bán trôn nuôi miệng là kẻ làm xấu xa thân phận làm người.

Sáu nghề nghiệp này, là sáu nghề nghiệp độc ác, giết hại chúng sanh và làm khổ đau bệnh tật muôn người, nhất là nghề sản xuất và bán rượu, sản xuất và bán thuốc phiện, sản xuất và bán x́-ke ma túy, sản xuất và bán thuốc lá, thuốc lào v.v.. là những thứ gây bệnh tật nghiện ngập hao tổn tiền bạc, của cải, tài sản biết bao nhiêu người, trải qua bao nhiêu thế hệ phải gánh lấy hậu quả đau khổ này.

Do thế, những người hành những nghề nghiệp này để nuôi thân mạng, cha mẹ, gia đ́nh và làm giàu trên sự đau khổ của muôn người muôn vật.

Họ là những người vô minh không thấy luật nhân quả đang chi phối diễn biến từng phút giây trong mỗi con người, luật nhân quả sẽ không tha thứ một ai, nếu ai đă làm điều ác th́ phải hứng lấy hậu quả khổ đau.

Nếu quư vị không tin lời Phật dạy, th́ hỏi thăm những gia đ́nh đang hành những nghề nghiệp này. Trông bề ngoài có vẻ giàu sang sung sướng nhưng bên trong chẳng có hạnh phúc ǵ cả. Thường những gia đ́nh này hay có những người đau ốm bệnh tật, không người này th́ đến người khác, tai nạn thường xảy ra, khiến gia đạo bất an, lúc nào cũng lo lắng sợ sệt, cuộc sống của gia đ́nh họ chẳng bao giờ êm ấm yên vui hạnh phúc.

Làm ác th́ phải lănh quả khổ. Không làm sao và cũng không ai cứu thoát khổ được.

V́ thế, đức Phật biết rất rơ nhân quả thiện ác, nên Ngài muốn cho đệ tử của ḿnh thoát ra khỏi cảnh khổ đau, Ngài thường ngăn cấm không cho người cư sĩ hành sáu nghề nghiệp ác, dù nghề nghiệp ấy kiếm tiền rất dễ, nhưng nó không phải là hạnh phúc chân chánh. Do đó, Ngài muốn cho các đệ tử của ḿnh sống an vui hạnh phúc chân chánh, không c̣n gặp cảnh đau khổ nữa. Chính v́ hằng ngày, trong cuộc sống chúng ta đă tạo ra nhiều nhân ác nên phải chịu những quả khổ đau đời đời kiếp kiếp, chứ không ai mang đến quả khổ ấy cho ta được dù kẻ đó là quỉ thần ác độc. Cũng như không có một vị thần Thánh nào hay một đức Phật cùng những vị Bồ Tát nào ban phúc lành cho chúng ta được. Xin các bạn lưu ư cho điểm này.

Nhân quả là một đạo luật công bằng, chính chúng ta làm ra là chúng ta phải chịu, không thể người khác chịu thay cho chúng ta được. V́ thế, không ai mang đến khổ đau cho chúng ta mà chính chúng ta, cũng như không ai mang đến hạnh phúc an vui cho chúng ta mà chính chúng ta.

Bởi, người cư sĩ không thấy luật nhân quả rất công bằng và công lư, cho nên trong cuộc sống họ không biết chọn nghề nghiệp, chỉ thấy nghề nào làm ra tiền và có cơm ăn áo mặc dễ dàng, nhất là môi trường sống, nơi đó mọi người làm nghề sát sanh là dễ kiếm tiền th́ họ bắt chước làm theo, nhưng không ngờ lại tạo ra vô vàn tội ác. Từ những hành động tạo ra sự chết chóc và đau khổ cho chúng sanh th́ chính bản thân họ và ngay cả gia đ́nh đều phải thọ lănh những quả khổ đau ấy từ người này đến người khác.

Là đệ tử của đức Phật, những hàng cư sĩ phải lưu ư sáu nghề nghiệp ác độc này, luôn luôn phải vâng theo lời dạy của đức Phật th́ mới t́m thấy chơn hạnh phúc, an vui của cá nhân và của cả gia đ́nh ḿnh.

Hành nghề đúng như vậy mới gọi là chánh nghiệp, chính nghề nghiệp chân chánh mới nuôi được chánh mạng của ḿnh và của mọi người trong gia đ́nh. Hạnh phúc từ ấy sẽ đến với các bạn. Các bạn có tin những lời dạy này không?

THỌ DỤNG THỰC PHẨM ĐỘNG VẬT
KHÔNG THẤY, KHÔNG NGHE, VÀ KHÔNG NGHI

Sáu nghề nghiệp ác đă dạy trong tập sách này, chúng tôi có ghi chú thêm để quư Thầy và các Phật tử nhận thấy rơ.

Tại sao lại có chư Tăng Nam Tông thọ dụng thực phẩm động vật?

Có phải đức Phật đă cho phép chư Tăng thọ dụng thực phẩm động vật hay không?

Để trả lời những câu hỏi này và làm sáng tỏ Phật giáo. Các nhà sư Nam Tông không biết dựa vào lời dạy nào của đức Phật mà dám thọ dụng thịt động vật.

Thưa quư Ḥa Thượng, quư Sư, Thầy và các Phật tử hăy đọc lại bài kinh số 55 Jivaka trang 71, kinh Trung Bộ tập 2, Tạng Kinh Việt Nam do HT Minh Châu chuyển ngữ từ tiếng Pali sang Việt ngữ.

Trong bài kinh này, đoạn kinh thứ nhất đức Phật đă dạy người tu sĩ không được thọ dụng thịt động vật thấy, nghe và nghi: Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt động vật không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi”.

Theo nghĩa của đoạn kinh này, khi một vị Tỳ kheo “thấy” thực phẩm của người Phật tử cúng dường có thịt chúng sanh th́ không được ăn, đó là trường hợp thứ nhất.

Khi thực phẩm của người Phật tử cúng dường “không thấy” có thịt chúng sanh nhưng lại “nghe” người khác nói trong thực phẩm đó, có thịt chúng sanh, th́ không được ăn, đó là trường hợp thứ hai.

Khi thực phẩm của người Phật tử cúng dường “không thấy” có thịt và cũng “không nghe” nói có thịt chúng sanh nhưng tâm lại sanh “nghi ngờ” thực phẩm này có thịt chúng sanh, v́ có mùi tanh th́ không được ăn, đó là trường hợp thứ ba.

Xét qua ba trường hợp trên đây, rơ ràng đức Phật không cấm ăn thịt chúng sanh mà chỉ có lời khuyên để chúng Tỳ kheo ư thức sự đau khổ của chúng sanh mà không ăn thịt. Ư thức sự đau khổ của chúng sanh mà không ăn thịt tức là thực hiện ḷng từ bi thương xót chúng sanh, có nghĩa là sống đúng đạo đức hiếu sinh. C̣n cấm, tức là giới cấm, giới cấm là có sự bắt buộc không ăn thịt chúng sanh, có nghĩa là ăn chay, nhưng ăn chay ấy là ăn chay theo kiểu Đại Thừa Bà La Môn Giáo (Ăn chay do giới cấm). C̣n ngược lại, Phật giáo Nguyên Thủy chỉ dùng giới đức không cấm nhưng chỉ khuyên người tu sĩ phải tự giác ăn như thế nào để thể hiện được đạo từ bi đúng nghĩa của từ tâm.

Trường hợp thứ nhất và thứ hai th́ quá rơ ràng, c̣n trường hợp thứ ba là nghi ngờ, dường như mơ hồ, nhưng thực ra thịt chúng sanh th́ có mùi tanh hôi của chúng, mặc dù chúng ta không thấy, không nghe, nhưng mùi cá làm sao không tanh cá, mùi thịt ḅ làm sao không hôi ḅ, mùi thịt heo làm sao không hôi heo, mùi thịt gà làm sao không tanh gà v.v.. Tất cả, thịt động vật đều có mùi riêng của nó, làm sao chúng ta không nghi ngờ, mà đă nghi ngờ th́ không được phép ăn, v́ lương tâm và t́nh thương của chúng ta, không cho phép nuôi mạng sống bằng sự khổ đau của loài vật khác.

Phật dạy lần thứ hai: Này Jivaka! Ta nói trong ba trường hợp thịt được thọ dụng:Không thấy, không nghe và không nghi. Có lẽ, dựa theo lời dạy này, mà các nhà sư Nam Tông dùng lư luận biện hộ cho những hành động tội ác của ḿnh: “Không thấy nghĩa là không thấy người giết con vật, để cúng dường cho ḿnh; không nghe, nghĩa là không nghe tiếng kêu của con vật khi bị giết để cúng dường cho ḿnh; không nghi nghĩa là thấy thực phẩm động vật Phật tử cúng dường không nghi ngờ người ta giết con vật làm thực phẩm để cúng dường cho ḿnh”. Cho nên, trong bài kinh Jivaka có mở ngoặc và đóng ngoặc (V́ ḿnh mà giết). Bốn chữ này, là do người sau thêm vào để thỏa măn dục vọng tham ăn thịt chúng sanh. Xưa, các Tổ không có điều ǵ mà không dám làm, họ thêm bớt rất nhiều trong kinh sách Nguyên Thủy, ngày nay cũng vậy, họ cũng dám lư luận làm sai lệch lời dạy của đức Phật, có khi v́ bảo vệ danh dự của ḿnh trong lúc vi phạm giới luật và cũng có khi v́ không hiểu phương pháp hoặc do tu tập chưa chứng.

Nếu bài kinh chấm dứt ở đây, th́ chúng ta khó làm sáng tỏ được Phật giáo. Nhưng bài kinh lại dạy tiếp phần thứ hai và phần thứ ba, nên chúng ta mới thấy rơ bộ mặt bất thiện và ḷng tham dục của các nhà sư Nam Tông khéo thêm thắt, khéo lư luận bóp méo kinh sách của đức Phật để gây tội ác tày trời, nên tất cả các xứ Phật giáo Nam Tông tu hành chẳng đến đâu, nhập định điên khùng Minh Sát Tuệ tu hành không đúng Tứ Niệm Xứ và Tứ Thánh Định của đạo Phật. Chẻ pháp môn Tứ Niệm Xứ ra từng mảnh: Đây là trường Thiền tu Tâm Niệm Xứ; đây là trường Thiền tu Thân Niệm Xứ; đây là trường Thiền tu Thọ Niệm Xứ. Chẻ pháp môn Tứ Niệm Xứ ra từng mảnh như vậy, mà lại c̣n hô hào rùm beng viết kinh sách phổ biến khắp nơi, làm cho người sau hiểu lầm Phật Pháp, tu hành sai lệch, chẳng giải quyết được sanh, già, bệnh, chết. Trong khi, Pháp môn Tứ Niệm Xứ rất tuyệt vời, tu là thấy kết quả ngay liền, tu tập là có những thần lực siêu việt không thể nghĩ bàn. Do chia chẻ pháp Môn Tứ Niệm Xứ, nên các nhà Sư Nam Tông tu hành chẳng tới đâu, chỉ loanh quanh trong các định tưởng, chẳng bao giờ đạt được sự giải thoát của Phật giáo.

Các nước theo Phật giáo Nam Tông, lấy Phật giáo làm Quốc Giáo, mọi thanh niên đúng tuổi đều phải vào chùa tu tập ba năm, nếu ai muốn tu luôn th́ ở lại tiếp tục tu hành c̣n không muốn tu th́ phải “xuất săi”. Xuất săi có nghĩa ra đời (hoàn tục) lập gia đ́nh. Nhưng, những người thanh niên này, đă tu theo đạo Phật mà không có chút ḷng từ bi nào cả, họ đă dám cầm dao, súng, vũ khí diệt dân tộc họ như giết heo, gà, dê v.v..

Bởi, tu hành mà c̣n ăn thịt chúng sanh, th́ thành ác quỷ chứ làm sao thành Phật được. Bài kinh Jivaka đức Phật đă dạy như vậy, mà các Tổ bên Nam Tông dám bịa ra ăn năm thứ bất tịnh nhục. Thật là đau ḷng.

Tại sao vậy? Tại v́, tu sĩ Phật giáo Nam Tông ăn thịt chúng sanh, nên tâm họ rất hung ác. Đời sống tu sĩ của họ sống ngược lại với đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ tất cả chúng sanh của đạo Phật.

Đạo Phật, là đạo đức của loài người, đạo đức của loài người sao lại nỡ nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh, mà không chút ḷng thương yêu. Vậy, những người tu sĩ này, có phải là tu sĩ của đạo Phật hay không? Xin các bạn trả lời cho.

Cũng trong bài kinh ấy, đức Phật dạy tiếp cho các vị Tỳ kheo không nên ăn thịt chúng sanh, bằng phương pháp tu tập và trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm.

Bài kinh dạy tiếp: Này Jivaka! Tỳ kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn nào, vị ấy phải luôn tu tập tâm ḿnh biến măn khắp cùng một phương với ḷng từ và an trú, phương thứ hai, thứ ba, thứ tư cùng khắp thế giới trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp vô biên, tâm vị ấy biến măn và câu hữu với ḷng từ quảng đại vô biên không hận, không sân và an trú’’.

Với ư nghĩa của đọan kinh này, khi một vị Tỳ Kheo ăn uống th́ phải quan sát khắp cùng trên món ăn của ḿnh, đồng thời khởi tâm từ bi thương xót tất cả muôn loài chúng sanh, nếu thấy có thịt chúng sanh thà chết chớ không ăn. Đó là thực hiện Đạo từ bi, ḷng hiếu sinh của ḿnh. Bài pháp dạy rơ ràng như vậy, thế mà các nhà sư Nam Tông nỡ nhẫn tâm ăn thịt được th́ chúng tôi rất thương hại cho họ, chỉ một đời tu hành mà chẳng có ích lợi ǵ cho bản thân ḿnh, cho tất cả chúng sanh.

Đoạn kinh này, đức Phật đă xác định rơ rằng: Một người tu sĩ đạo Phật phải luôn tu tập Tứ Vô Lượng Tâm. Người đă tu tập Tứ Vô Lượng Tâm th́ c̣n ḷng dạ nào ăn thịt chúng sanh được. Phải vậy không các bạn? Vậy mà, các sư Nam Tông vẫn nuốt trôi được thịt chúng sanh mới thực là hay!

Về phần các vị Tỳ kheo đức Phật đă dạy, không ăn thịt chúng sanh bằng hai bài pháp tuyệt vời:

1- Ăn thịt chúng sanh không thấy, không nghe và không nghi.

2- Ăn thịt chúng sanh với ḷng từ bi biến măn khắp cùng mười phương trên dưới.

Cũng trong bài kinh ấy, đức Phật dạy người cư sĩ phải cúng dường thực phẩm cho Phật và chúng Thánh Tăng: Này Jivaka! Người nào v́ Như Lai hay v́ đệ tử của Như Lai mà giết hại sinh vật làm thực phẩm cúng dường, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: Hăy đi và dắt con thú này đến đây. Đó là, nguyên nhân thứ nhất, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy khi bị dắt đi, bị lôi kéo nơi cổ, nên cảm thọ đau đớn khổ ưu. Đó là, nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy nói:Hăy đi và giết con thú này. Đó là, nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ đau đớn khổ ưu vô cùng, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử của Như Lai một cách phi pháp. Đó là, nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức”.

Qua đoạn kinh này, chúng ta thấy rất rơ, đức Phật đă dạy rất kỹ cho người cư sĩ không nên cúng dường Phật và chúng Thánh Tăng thực phẩm động vật. V́ cúng dường như vậy, là cúng dường phi pháp, không có phước mà tổn đức thêm trọng tội v́ sát hại sanh linh.

Một bài kinh rất có giá trị với các tu sĩ Nam Tông. Bài Jivaka trong Trung Bộ kinh đă khẳng định người tu sĩ đạo Phật không được ăn thịt chúng sanh nên ăn thực phẩm thực vật với mục đích là để trau dồi tâm từ, bi, hỷ, xả của ḿnh để ly dục ly ác pháp, khiến cho thân tâm thanh tịnh, nhập được các loại Thiền định, làm chủ được sự sống chết luân hồi. Ngược lại, một người tu sĩ c̣n ăn thịt chúng sanh tức là tâm dục chưa ly, ác pháp chưa ĺa, th́ rất uổng cho một đời tu hành theo đạo Phật, mà chẳng hưởng được sự giải thoát của đạo Phật, mà lại c̣n đọa vào địa ngục (địa ngục ở đây không phải cơi địa ngục mà là trạng thái đau khổ của thân hay phiền năo của tâm). Tu mà c̣n tâm ác như vậy, th́ phải mang nợ đàn na thí chủ muôn đời, muôn kiếp. Hiện giờ, các nhà sư Nam Tông ăn uống cho khoái khẩu, thân h́nh mập béo, lấy ác pháp mà nuôi thân mạng, th́ thân mạng này phải chịu thọ khổ muôn vàn, v́ đă đem vào thân những sự đau khổ của chúng sanh th́ làm sao tránh khỏi sự đau khổ ấy.

Ghi chú:

Đọc bài kinh Jivaka, chúng ta nhận xét về đạo Phật. Đạo Phật là một tôn giáo tự lực, dạy đạo đức nhân bản – nhân quả rất thực tế và cụ thể. Cho nên, đức Phật là một nhà tâm lư học thông suốt mọi t́nh cảm, tâm tư và nguyện vọng của mọi người. V́ thế, giáo pháp của Ngài dạy toàn là đạo đức làm người. V́ dạy đạo đức làm người nên nói về tâm lư của con người rất là sâu sắc:

1-       Dạy người cư sĩ không làm nghề nghiệp ác để tránh nhân quả xấu như: tai nạn, bịnh tật, yểu tử v.v..

2-       Dạy chư Tăng không ăn thịt chúng sanh bằng sự ư tứ cẩn thận trong từng miếng ăn của ḿnh bằng một tấm ḷng thương yêu rộng lớn đối với muôn loài chúng sanh.

3-       Dạy Phật tử không nên cúng dường thịt chúng sanh làm ra thực phẩm cho Phật và chúng Thánh Tăng. Cúng dường như vậy là phi pháp, phi công đức (không có phước báo mà c̣n thêm tội lỗi).

Toàn bộ giáo lư của đức Phật từ sơ thiện, trung thiện, đến hậu thiện, Ngài dạy con người cách thức sống trong thiện pháp, ngăn ngừa và đoạn dứt các ác pháp. V́ thế, mà ngay từ bước đầu tiên đức Phật đă dạy người cư sĩ không làm sáu nghề nghiệp ác như trên đă giảng.

Cách thức tu của đạo Phật rất cụ thể. Ở đây, quư Thầy và các Phật tử phải hiểu cho rơ ràng, đổi nghề nghiệp, không làm nghề ác nữa tức là tu hành, tu tức là sửa đổi, thay đổi, làm tốt lại, làm thiện lại và không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ chúng sanh, chứ không phải ngồi đó gơ mơ, tụng kinh, niệm Phật, lần chuỗi, ngồi Thiền hay lạy hồng danh sám hối mà tiêu tội hưởng phước được v.v..

Quư vị đừng lầm hiểu theo sự hướng dẫn tu tập của các nhà học giả của một số hệ phái, khi tu tập là phải ngồi Thiền, nhập thất, tụng kinh, sám hối, niệm Phật, niệm chú, truyền tâm ấn, la hét, đánh, xô đẩy để ngộ Phật Tánh. Đó là, h́nh thức tu tập chịu ảnh hưởng ngoại lai của các tôn giáo khác, chẳng giúp ǵ cho chúng ta giải thoát tâm tham, sân, si, phiền năo, thương, ghét, giận hờn, thù oán, tật đố, nghi kỵ và các ác pháp khác.

Cách thức tu tập của đạo Phật trong kinh điển Nguyên Thủy dạy, thực tế và cụ thể hơn, có kết quả ngay liền khi bắt tay vào tu, không như những pháp hành của các nhà học giả dạy ở trên theo kinh sách phát triển của một số hệ phái.

Như trên đă nói, quư vị đổi nghề ác làm nghề thiện là quư vị không làm khổ chúng sanh, không làm khổ đau cho chúng sanh tức là quư vị không làm khổ đau cho quư vị, không làm khổ đau cho quư vị tức là giải thoát.

Dạy người không làm nghề ác, không làm việc ác tức là tu thiện đấy các bạn. Các bạn có hiểu biết điều này không?

Dạy người không cúng dường thực phẩm bằng xương máu chúng sanh tức là tạo nghiệp thân ít bịnh, tuổi thọ sống lâu.

Dạy chư Tăng không ăn thịt chúng sanh là trau dồi tâm từ, bi, hỷ, xả để đối trị tâm tham, sân, si, ích kỷ, nhỏ mọn v.v..

Bài kinh này, quư Thầy và quư Phật tử nên lưu ư lời dạy của đức Phật: “Ăn thịt chúng sanh phải không thấy, không nghe và không nghi”. Lời dạy này, có nghĩa là trong sự ăn uống phải trau dồi mắt tai của ḿnh, phải ư tứ cẩn thận, khi ăn khi uống phải biết rơ trong thực phẩm đang ăn có xương máu và sự chết chóc đau khổ của chúng sanh trong đó hay không? Nếu có chúng ta thà chết trong giới luật của Phật chớ không ăn mà phạm giới.

Tại sao vậy?

Tại v́, người tu sĩ đạo Phật thường trau dồi tu tập tâm ḿnh ḷng thương yêu rộng lớn đối với tất cả chúng sanh, đối với nhân loại khắp mười phương thế giới.

Nếu chúng ta chỉ v́ bổ béo cho xác thân vô thường bất tịnh này và chạy theo dục lạc, ảo giác ngon ngọt của vị giác th́ chúng ta chưa phải một vị tu sĩ đạo Phật chân chánh có ḷng từ bi.

Đạo Phật ăn chay trên ăn chay, ăn chay v́ ḷng thương yêu chúng sanh vô bờ bến. Ngược lại, trong thế gian này có những người ăn chay, không ăn thịt chúng sanh nhưng làm thực phẩm giống như thịt chúng sanh, th́ đó là ăn chay theo kiểu phàm phu, ăn chay c̣n thèm thịt, nên tạo thực phẩm chay giống như thực phẩm thịt chúng sanh để ăn đỡ thèm.

Cách thức ăn chay như thế, đức Phật không chấp nhận. Đạo Phật tu thật, làm việc thiện từ trong ḷng thiện sanh ra, ăn chay v́ thương xót chân thật đối với chúng sanh nên không nỡ ăn thịt chúng sanh.

Ăn chay chỉ v́ sợ địa ngục, sợ quỷ Vô Thường, quỷ Dạ Xoa hành hạ, thiêu đốt, đâm chém, cắt lưỡi, móc họng, rút gân, v.v..

Ăn chay để cầu sanh về Cực Lạc, Thiên Đường, v.v..

Ăn chay để cầu cho tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, tuổi thọ sống lâu, v.v..

Ăn chay như vậy, đạo Phật không chấp nhận v́ không phải pháp tu hành để giải thoát, đó là một loại ăn chay để an ủi tinh thần, ăn chay như vậy giống như con ḅ ăn cỏ, không có nghĩa lư ǵ của Đạo giải thoát cả.

CHÁNH NGHIỆP VÀ CHÁNH MẠNG

Đạo Phật rất tuyệt vời dạy tu tập để thoát ra cảnh khổ đau của đời sống con người, bằng sự thay đổi trong nghề nghiệp ác để không làm khổ ḿnh, khổ người, kế đến dạy ăn uống để nuôi thân bằng những thực phẩm không có sự đau khổ, bố thí cho mọi người và cúng dường cho chư Tăng, vật cúng dường không được phi pháp, không làm tổn phước đức, đầy đủ phước báo hiện tại và mai sau:

1-       Làm th́ tránh nghề nghiệp ác và hành động ác.

2-       Ăn th́ ư tứ cẩn thận, không phải đụng đâu ăn đó, gặp ǵ ăn nấy, ăn có nơi có chỗ, không phải ngồi quán, ngồi lều giữa chợ giữa đường và c̣n phải trải tâm từ bi biết ơn người làm ra của cúng dường, không nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh, đầy ḷng thương xót khắp cùng.

3-       Cúng dường chư Tăng bằng mồ hôi nước mắt của ḿnh làm ra, không được gian tham trộm cắp, không được giết hại chúng sanh.

Người tu sĩ khi thọ thực phẩm phải tránh ăn thịt chúng sanh, mà c̣n phải quán xét sự tu tập của ḿnh (công đức) có xứng đáng thọ dụng hay không?

Từ một nghề nghiệp chân chánh (Chánh Nghiệp) làm bằng sức lao động chân tay hoặc bằng trí óc tạo ra những thực phẩm lương thiện để nuôi thân mạng (Chánh Mạng) không có sự gian ác và đau khổ trong đó.

Trong Bát Chánh Đạo, đức Phật đă khẳng định có hai nẻo (hai lớp học) tu tập chỉ về cách sống của người tu sĩ chân chánh (Chánh Nghiệp và Chánh Mạng). Đó là, hai nẻo tu tập để thoát ra cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

Một người hành nghề nghiệp giết hại chúng sanh, làm đau khổ người khác th́ nghề nghiệp ấy đạo Phật gọi là tà nghiệp, tà nghiệp c̣n có nghĩa là hành động, lời nói và ư nghĩ ác, hành động giết hại chúng sanh và làm đau khổ người khác hay mắng chửi người khác, nói xấu người khác, vu khống người khác, chuyện ít xích ra nhiều thêm bớt v.v.. Đó là, hành động ác, hành động ác là tà nghiệp, nhân tà nghiệp th́ quả phải khổ đau, không chạy tránh đường nào được cả. Cho nên, nhân quả không thể trốn tránh, dù có trốn lên Trời hay chui xuống đất cũng không thoát khỏi.

Tà nghiệp c̣n có nghĩa là nghiệp quả khổ. Thấy một người gặp tai nạn khổ sở có thể đi đến tù tội và tử h́nh, th́ đó đều là do nghiệp quả ác của họ. Người bệnh tật đau khổ rên la trăn trở suốt đêm ngày cho đến khi chết, th́ đó cũng là nghiệp quả ác của họ, do họ đă tự tạo ra nhân ác trong quá khứ v.v..

Tà nghiệp, c̣n gọi là thói hư tật xấu như người ham mê bài bạc, rượu chè, đĩ thơa, điếm đàng, du đăng v.v..

Tà nghiệp, c̣n là những hành động phóng dật, chạy theo dục lạc ác pháp thế gian làm khổ ḿnh, khổ người, khổ chúng sanh v.v..

Tà nghiệp, c̣n là những hành động sai trái phi pháp luật, làm ra tiền của đem về nuôi thân mạng cũng như những hành động bắt và giết hại chúng sanh để trao đổi và buôn bán làm ra tiền nuôi sống cha mẹ, gia đ́nh, vợ con… Th́ đó là, lấy tà nghiệp nuôi lớn tà mạng, không phải chỉ riêng ḿnh mà c̣n cả gia đ́nh.

Dưới đôi mắt của đức Phật, nh́n những nghiệp ác của chúng sanh đem về nuôi thân mạng, th́ đó là đem vào thân mạng một nghiệp ác, một sự khổ đau, một tai họa lớn. Nên Ngài dạy những hành động đó, là những hành động không chân chánh, những hành động tà nghiệp nuôi dưỡng tà mạng, nuôi tội ác và nuôi đau khổ cho ḿnh cho người.

Muốn không tạo ra các tà nghiệp, đức Phật ngăn cấm không cho đệ tử của ḿnh hành sáu nghề ác, để tránh đem vào thân mạng những sự khổ đau, do nghiệp quả ác chính ḿnh đă tự tạo ra.

V́ Chánh Mạng, nên đức Phật c̣n dạy thêm, đừng nên ăn thịt chúng sanh v́ ăn thịt chúng sanh là nuôi tà mạng, đem vào thân mạng những bệnh tật tai ương, đem vào cuộc sống những sự đau khổ tai họa hiểm nghèo, đem vào gia đ́nh những chuyện bất an, bất toại nguyện v.v..

Người cúng dường và bố thí cho chư Tăng bằng sự gian ác sẽ không được phước báo mà c̣n phi công đức, thọ lấy những quả khổ địa ngục, súc sanh v.v..

Người nhận của bố thí cúng dường, mà không thấy từ sự gian ác của người cúng dường, thọ dụng như vậy là nuôi tà mạng, do nuôi tà mạng, thân tâm không thanh tịnh, không ly được dục và ác pháp. V́ thế, vị Tỳ kheo này tu hành uổng công, chẳng có kết quả, chẳng nhập được Tứ Thánh Định, chẳng thực hiện được Tam Minh.

Bởi vậy, đức Phật dạy: “chư Tăng phải thiểu dục tri túc, thừa kế pháp, không nên thừa kế thực phẩm”, không thiểu dục tri túc không thừa kế pháp, luôn thừa kế vật chất và thực phẩm th́ tâm sanh ra tham dục, ham muốn phóng dật, chạy theo ngũ dục lạc, ăn uống phi thời, ngủ nghỉ phi thời, trí tuệ đần độn, tưởng tuệ phát triển, thường luận Đông luận Tây che đậy lỗi lầm, phá sạch giới bổn, sống đời sống dục lạc chẳng biết sợ hăi những lỗi nhỏ nhặt, chẳng biết xấu hổ khi oai nghi tế hạnh cũng không có, đi, đứng, nh́n, ngó, giống như người thế gian.

Chánh Nghiệp, tức là nói về những bài học về hành động thân, miệng và ư phải chân chánh, ở đây có nghĩa là do ba nơi này tu tập không làm hành động ác.

Chánh Mạng, tức là nói về những bài học sự nuôi dưỡng thân mạng chân chánh. Thân mạng chân chánh ở đây có ư nghĩa tu sửa không ăn uống lặt vặt phi thời, ăn uống không đúng giờ đúng lúc, ăn uống có tiết độ, ăn uống không phải v́ thèm khát, ăn uống là v́ sự sống để tu tập, không v́ lợi dưỡng, không ăn thịt chúng sanh, không ăn uống những chất độc hại, gây tạo cho cơ thể bệnh tật khổ sở, dù những thực phẩm đó có ngon ngọt béo bổ đến đâu cũng nên tránh xa, đó là nuôi chánh mạng.

Thân mạng được nuôi sống chân chánh có những ích lợi:

1-       Thân không trả nghiệp quả khổ đau.

2-       Thân không bệnh tật khổ đau.

3-       Tuổi thọ được lâu dài.

4-       Thân được mạnh khỏe tu tập dễ dàng hơn.

5-       Thân được mạnh khỏe tâm hồn được an vui, thanh thản và vô sự.

Người tu theo đạo Phật cần phải siêng năng tu tập trau dồi những bài học về Chánh Nghiệp và Chánh Mạng. V́ đó là, đạo đức nhân quả, nằm trong cuộc sống của mỗi con người, khi tu tập theo đạo Phật.

Chúng ta là những đệ tử của đức Phật, không thể xem thường Chánh Nghiệp và Chánh Mạng. V́ Chánh Nghiệp tốt th́ Chánh Mạng mới tốt theo, Chánh Nghiệp thanh tịnh th́ Chánh Mạng mới thanh tịnh. Do đó, đời sống mới được an vui, hạnh phúc, bằng ngược lại, Chánh Nghiệp xấu th́ Chánh Mạng phải chịu nhiều tai ương, họa khổ v.v..

Vị Tỳ kheo, đệ tử của đức Phật, cũng phải lưu ư Chánh Nghiệp và Chánh Mạng. Nếu Chánh Nghiệp không đúng Phạm hạnh, phạm phải những lỗi lầm nhỏ nhặt, không biết xấu hổ, th́ Chánh Mạng tu hành chẳng tới đâu, tâm lậu hoặc không sao diệt được, thiền định th́ rơi vào tà Thiền, tà định, tu suốt đời chẳng có ích lợi ǵ, c̣n mất th́ giờ vô ích.

V́ thế, người cư sĩ cũng như vị Tỳ kheo muốn được giải thoát an vui, hạnh phúc trong kiếp sống này, th́ sự tu hành phải tu đến nơi đến chốn. Trước tiên, phải tu tập Chánh Nghiệp và trau dồi mỗi hành động thân, miệng, ư của ḿnh toàn thiện, tức là không làm khổ ḿnh, khổ người. Nhờ đó, mới nuôi thân bằng Chánh Mạng, th́ chắc chắn có muôn vạn người tu theo đạo Phật đều đạt được kết quả giải thoát như nhau. Nếu mọi người biết sống đúng Chánh Nghiệp, nuôi thân bằng Chánh Mạng th́ thế gian này, là Thiên Đàng, Cực Lạc không c̣n phải đi t́m nơi đâu, không cần phải niệm Phật cầu văng sanh Tây Phương. Phải không các bạn?

NIỀM TIN

Nếu trên bước đường tu tập đầu tiên, mà quư vị đă nghe lời dạy của đức Phật, thay đổi nghề nghiệp ác bằng những nghề nghiệp thiện là quư vị đă đặt trọn niềm tin nơi đức Phật, Pháp, chư Hiền Thánh Tăng và giới luật.

Niềm tin đó, có được nơi quư vị là do chỗ suy tư quán triệt lời dạy của đức Phật. Ví như Ngài dạy câu này: “Đừng làm khổ ḿnh, khổ người th́ sẽ thoát ra cảnh khổ”. Với lời dạy này, biết áp dụng vào đời sống th́ rất đúng không sai, có kết quả ngay liền.

Khi Ngài dạy, thay đổi nghề nghiệp ác, chúng ta tư duy thấy rất đúng, v́ những nghề nghiệp ác đó, chúng ta đang hành là những nghề làm đau khổ và giết hại chúng sanh rất nhiều, như: nghề chài lưới, săn bắn, bán rượu, thuốc phiện v.v.. Người có trí sau những lời dạy này, chúng ta cũng đủ đặt trọn niềm tin ở Người, v́ đó là một lời dạy rất thực tế đem lại sự an vui cho ḿnh, cho người và cho các loài vật đang sống trên hành tinh này. Do thế, chúng ta tin và không bao giờ có ai lay chuyển được ḷng tin ấy.

Tại sao vậy?

Tại v́, lời dạy của Ngài rất thực tế và cụ thể, đem đến sự giải thoát an vui, hạnh phúc cho chúng ta và tất cả muôn loài vật như trên đă nói.

Ḿnh không làm khổ ai, chắc không ai làm khổ ḿnh. Nếu có người khác làm khổ ḿnh, có lẽ người ta chưa nghe và chưa hiểu lời dạy của đức Phật. Nếu mọi người ai cũng được nghe, hiểu và thực hành theo đúng lời dạy của Ngài, th́ thế gian này là Thiên Đàng, Cực Lạc hạnh phúc biết bao cho muôn loài, c̣n đâu đau khổ nữa.

Pháp môn tu tập của Ngài rất thực tế mang lại sự giải thoát cụ thể ngay liền tức khắc, nếu chúng ta chỉ thay đổi nghề nghiệp ngay đó, chúng sanh thoát chết, thoát khổ, người mạnh không ăn hiếp người yếu, con vật lớn không ăn thịt con vật nhỏ. Nh́n thấy cảnh thoát chết thoát khổ của chúng sanh, tâm hồn chúng ta hân hoan, bàn tay chúng ta không c̣n làm ác, không c̣n vấy máu nữa, mắt chúng ta không c̣n thấy sự chết chóc, đau khổ của chúng sanh nữa. Đó là hạnh phúc biết bao cho muôn loài vạn vật, đang sống trên hành tinh này.

Từ sự suy tư quán xét và cân nhắc kỹ lưỡng, thấy rất rơ sự giải thoát cho ḿnh, người và chúng sanh. Sự thay đổi nghề nghiệp ác chuyển thành nghề nghiệp thiện mà c̣n được hạnh phúc như vậy, giải thoát như vậy, th́ thử hỏi người tu sĩ xuất gia sống ba y một bát th́ c̣n giải thoát và hạnh phúc biết dường nào, nhất là nhập các định làm chủ sanh tử luân hồi, chấm dứt tái sanh, th́ ḷng tin ấy phải như thế nào?

Nhờ có kết quả chúng ta mới tin sâu hơn, v́ vậy lúc đầu chúng ta tin Phật, Pháp, Tăng, nhưng ḷng tin ấy chưa phải là ḷng tin sâu. Vậy, tin Phật, Pháp, Tăng và Giới như thế nào mới gọi là tin sâu?

Muốn niềm tin được sâu, lâu dài và bền bỉ th́ kết quả tu hành giải thoát trong cuộc sống hàng ngày, thân và tâm phải được thành tựu giải thoát cụ thể trong mỗi pháp môn tu tập, mỗi sự thực hành tu tập đều phải có kết quả dù ít dù nhiều th́ ḷng tin ấy mới tăng trưởng, bền bỉ và lâu dài.

Mới đầu quư vị chỉ có tư duy theo lời dạy của đức Phật và nh́n thấy những người khác thay đổi nghề nghiệp được hạnh phúc an vui. Do thế, quư vị quyết tâm thay đổi nghề nghiệp ác, trước tiên quư vị thấy kết quả giải thoát là không c̣n thấy những sự giăy giụa đau khổ và chết chóc của loài vật. Đôi bàn tay quư vị cũng không c̣n làm đổ máu chúng sanh nữa, không c̣n thấy những người say rượu đi ngoài đường, té xuống đứng lên, chân bước tới chân bước lui, chửi vợ mắng con hoặc chửi làng chửi xóm, không c̣n thấy phụ nữ làm nghề bán thân nuôi miệng đồi bại như một loài thú vật không biết xấu hổ, không c̣n thấy những người ngồi quán ngồi lều ăn thịt chúng sanh như loài ác thú, không c̣n thấy những loài thủy tộc mắc lưới mắc câu giăy giụa đau khổ trước cái chết, không c̣n thấy những loài thú vật sợ hăi chạy tán loạn trước những người thợ săn... Ḷng quư vị hân hoan sung sướng, nh́n thấy cảnh đó, là cảnh giải thoát cho ḿnh, cho người và cho muôn vật. Thật là hạnh phúc biết bao cho con người và loài vật trên hành tinh này.

Ngoại cảnh yên vui của mọi người và muôn vật đang ḥa nhịp với tâm hồn quư vị thanh thản, an lạc, khiến cho đời sống càng hạnh phúc hơn và ḷng yêu thương của mọi người, mọi chúng sanh càng lúc càng thấm thía hơn nhiều phải không hỡi quư vị?

Mới đầu, chúng ta đổi nghề c̣n thấy vất vả và khó khăn, sau một thời gian mới lấy lại b́nh thường, không c̣n lo lắng sợ hăi như lúc ban đầu.

Dần dần nghề nghiệp mới phát triển hơn, nghĩ tới hồi nào c̣n đi chài lưới, giờ này c̣n ở sông ở biển, mỗi khi có gió to băo lớn, sự sống chết như chỉ mành treo chuông, người thân trong gia đ́nh đau đớn khổ sở, lo lắng thức suốt đêm cầu nguyện cho người thân ḿnh tai qua, nạn khỏi, bể lặng, sóng yên.

Nỗi khổ tâm nhất là những người làm nghề giết hại chúng sanh, thường gia đ́nh sống trong nỗi lo âu, bệnh tật tai họa thường hay xảy đến cho họ, nhưng họ nào biết được.

Đến với đạo Phật, thực hiện sống đúng lời dạy của Ngài, người nào chịu khó nghiệm xét sẽ thấy nhiều điều kiện may mắn đến với họ hơn là những tai họa.

Hồi tưởng lại, khi c̣n làm nghề nghiệp ác, thường có nhiều sự tai biến bất an xảy ra cho gia đ́nh nhưng họ không để ư, khổ th́ cứ khổ, lo lắng th́ cứ lo lắng, nhưng cuộc sống cứ thả trôi theo ḍng đời ba ch́m bảy nổi măi măi và măi măi.

Nhưng khi bước chân vào đạo Phật, bằng sự thay đổi nghề nghiệp đúng như lời đức Phật đă dạy, họ đă t́m được sự giải thoát khổ trong những hành động thiện, chớ không phải chờ đợi mười năm hay hai ba chục năm sau, mới thấy được sự giải thoát đó, giải thoát ngay liền khi chúng ta sống thiện, làm những điều thiện, tức là không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ chúng sanh.

Có những người hiểu sự giải thoát của đạo Phật một cách lầm lạc, nghĩa là giải thoát của họ là cầu ǵ phải được nấy, muốn ǵ th́ phải được toại nguyện nấy. Cái đó, không phải sự giải thoát của đạo Phật, mà đó là sự chạy theo của ḷng ham muốn và bị sự trói buộc thêm của vật chất thế gian, khiến càng khổ lại càng khổ thêm, nhiều hơn nữa.

Đạo Phật vốn buông ra để không khổ, từ bỏ ḷng tham muốn để thoát ly sanh tử, luân hồi. Đại khái các hành pháp của đạo Phật là như vậy. Ôm vào, th́ sanh ác pháp, buông ra th́ thiện pháp tăng trưởng.

Sống trong cảnh cơm ăn áo mặc đầy đủ, không giàu sang danh vọng to nhưng tâm hồn thanh thản biết đủ, an nhàn, ít muốn, thảnh thơi an lạc. Biết nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng trước mọi cảnh, mọi người. Cái đó, không phải là giải thoát của đạo Phật sao?

Tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ, khen chê, sợ hăi, lo toan v.v.. đều không làm động tâm, th́ đó chẳng phải là giải thoát sao?

Giải thoát của đạo Phật là nhằm vào chỗ tâm bất động trước mọi cảnh, mọi vật, mọi sự cám dỗ của cuộc đời và mọi sự cảm thọ đau đớn khổ sở vô tận của thân tâm, chớ không phải chỗ xuất hồn, nhập xác, ngồi Thiền năm bảy ngày, thọ hưởng hỷ lạc tưởng, hay ngồi trầm tư mặc tưởng một thế giới siêu h́nh nào đó, nó cũng không phải thần thông phép lạ mà cũng không phải là kiến tánh thành Phật v.v.. Đó là, những thứ ảo giác, huyễn hoặc, giàu tưởng tượng làm mê hoặc lừa đảo tín đồ.

Nhờ có kết quả giải thoát thật sự như vậy, nhờ có tu tập tâm bất động được như vậy người ta mới tin đạo Phật, mới bỏ hết cuộc đời như đức Phật đă dạy: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống không gia đ́nh, không nhà cửa, đời sống chỉ c̣n ba y một bát đi xin ăn mà thôi”. Nếu không kết quả thật sự như vậy, th́ chẳng c̣n ai dám theo đạo Phật, v́ cuộc sống của đạo Phật rất khổ (xa ĺa ngũ dục lạc thế gian). Vả lại, sự tu hành c̣n phải dày công và c̣n nhiều gian nan vất vả khác nữa.

 Chẳng hạn, như quư Thầy hiện giờ đang tu Thiền Đông Độ suốt cả năm năm, mười năm, có người đă tu từ 15 đến 20 năm rồi, mà vẫn chưa thấy giải thoát ǵ cả, kiến tánh rồi, tiệm tu mà cứ tu măi tu hoài tu cho hết vọng tưởng và hằng ngày cứ ngồi Thiền, ngồi đó mong giữ cho tâm hết vọng tưởng để làm Phật, nhưng khi hết vọng tưởng lại rơi vào vô kư và rơi vào những trạng thái hỷ lạc của tưởng. Khi th́ như thế này, khi th́ như thế khác, lúc được lúc mất, nhưng gặp việc th́ tâm tham, sân, si vẫn c̣n chẳng mất, thấy danh lợi th́ tâm vẫn c̣n tham, ăn uống phi thời, không đúng hạnh Thánh, th́ làm sao gọi là giải thoát được.

Từ bắt đầu tu tập ngồi 30 phút tăng dần đến 1 giờ rồi 10 giờ, 12 giờ nhưng vọng tưởng có lúc hết lúc không, có lúc rất an ổn, có lúc rất bất an, tiến tới th́ không tới được nữa, lui th́ rất uổng công. Trường hợp và hoàn cảnh tu tập này, quư Thầy có thối tâm hay không? Chỉ c̣n an ủi ḿnh bằng những lời nói của các Tổ: “Tu phải trải qua nhiều kiếp”, có Tổ phải tu hai ba chục năm v.v..

Quư Thầy nuôi hy vọng và tự an ủi ḿnh, chắc có lẽ ḿnh tu chưa đến nơi đến chốn, phải ráng tu thêm nữa. Mười năm qua nh́n lại, tâm nào tật nấy, tham, sân, si c̣n đủ, thôi th́ phải ráng tu tập thêm. Hai mươi năm qua tu tập hết sức ḿnh làm chủ sự sống chết th́ chẳng thấy ǵ, mà cứ có ai động đến tâm th́ tham, sân, si lại nổi lên ầm ầm, phiền năo đau khổ vẫn c̣n, tu măi tu hoài mà sao không hết được?

Ngồi Thiền 7, 8 tiếng đồng hồ cho đến 11, 12 tiếng đều được, nhưng ngồi 1, 2 ngày th́ lại không được.

Tại sao vậy?

Tại v́, không có pháp hành và tu tập không đúng pháp, nên kết quả không có, tu tập dậm chân tại chỗ, nhưng đă lỡ tu, lỡ dạy người khác, bây giờ biết ăn làm sao, nói làm sao? Đó là những Thầy lớn, nói ra th́ mất danh mất lợi, nói ra khó nói quá, tiến thối lưỡng nan, thôi mặc kệ tới đâu hay tới đó, cứ nhắm mắt làm liều, c̣n các Thầy nhỏ th́ đă lỡ rồi, ra đời th́ sợ người ta chê cười, mà tu th́ chẳng đến đâu, cứ dối gạt Phật tử mà sống bằng cách thuyết giảng, nay kinh này mai kinh khác, như trao đổi thực phẩm để người ta dễ ăn dễ nuốt, thường dùng những lối lư luận mơ hồ trừu tượng bằng những pháp huyền, pháp thoại ở đầu môi chót lưỡi, loanh quanh nghĩa lư nhai lại của các Tổ xưa có bấy nhiêu, cứ lặp đi lặp lại, thêm mắm dậm muối làm có vẻ mới mẻ để lừa đảo người, cho nên có người bảo: “Coi chừng bị lưỡi lừa của ông ta”.

Những ai đă gơ cửa đúng của đạo Phật, th́ ngay đó, có sự giải thoát liền, chiêm nghiệm được sự giải thoát đó, một cách cụ thể.

Vả lại, khi bước chân vào đạo Phật chúng ta thấy sự tu tập rất cụ thể, giải thoát rơ ràng không có mơ hồ, v́ pháp thiện và pháp ác, ai cũng có thể dễ nhận ra. Nói như vậy, có nghĩa là những người nào đă học xong đạo đức nhân quả th́ mới dễ nhận ra pháp ác và pháp thiện. Tu hành của đạo Phật tức là sống, sống thiện là giải thoát, sống ác là đau khổ.

Đổi nghề nghiệp ác làm nghề nghiệp thiện, nếu biết tư duy quán xét ngay liền có một tâm hồn yên vui, an lạc không những một ḿnh mà cả gia đ́nh. Nhất là, những người biết thiểu dục tri túc th́ sự yên vui hạnh phúc lại càng gia tăng gấp bội.

Những ai đă tin sâu nhân quả và đă học được đạo đức nhân bản – nhân quả th́ sẽ chứng nghiệm phước báo rất rơ ràng, dù người đó không cầu mong điều ǵ, cứ hân hoan sung sướng làm việc thiện th́ luật nhân quả sẽ đem phước báo đến cho họ và họ luôn luôn hưởng trọn đầy hạnh phúc của cuộc sống. Đối với những người này ác pháp đến với họ như nước đổ trên lá khoai môn.

ĐẠO VÀ ĐỜI

Muốn thành tựu được ḷng tin tịnh tính sâu sắc, quư vị phải suy nghĩ cho kỹ và so sánh giữa cuộc sống “Đời” và cuộc sống “Đạo”. Đời có cuộc sống theo Đời, Đạo có cuộc sống theo Đạo.

Sự sống theo Đạo là đi ngược lại sự sống theo Đời, Đạo th́ buông xả ra, Đời th́ ôm lấy vào, cho nên quư vị đừng tưởng cuộc sống Đời và cuộc sống Đạo giống nhau.

Không! Hoàn toàn không! Không giống nhau một chút nào cả. Người tu sĩ đạo Phật có cuộc sống như thế gian, nghĩa là có vợ, có con, sống chạy theo danh lợi, ăn ngủ phi thời, là những người cư sĩ trọc đầu, chứ không phải là một vị Tỳ kheo xuất gia đệ tử của đức Phật, họ diệt Phật giáo chết cũng giống như trùng trong lông sư tử sẽ diệt sư tử.

Người tu sĩ Phật giáo sống như người thế gian ăn ngủ phi thời, không buông xả vật chất, tâm dễ dính mắc sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ngũ triền cái luôn luôn che mờ trí tuệ họ, Thất kiết sử thường trói buộc như dây xích sắt khiến họ khó vẫy vùng, nên họ đă trở thành Ma Ba Tuần.

V́ thế, làm sao sống đúng Phạm hạnh, ly dục ly ác pháp được? Làm sao nhập Tứ Thánh Định, làm chủ sanh tử, chấm dứt luân hồi được? Làm sao nhập Định Vô Lậu xả tâm diệt ngă chấm dứt khổ đau? Làm sao nhập Định Bất Động Tâm sống thanh thản, an lạc và vô sự?

Nếu một người tu sĩ mà c̣n có lối sống như thế gian th́ không thể nào tu hành theo đạo Phật được, đó là những kẻ mượn chiếc áo Phật giáo t́m miếng cơm để sống, sống như vậy là sống một cách hèn hạ, chỉ biết lừa đảo tín đồ mê muội để sống bằng mồ hôi nước mắt của người khác, thật là đáng khinh bỉ.

Có người lầm hiểu đạo Phật cho rằng, chỉ cần biết được pháp môn tu tập, chớ không phải do sự sống đúng Phạm hạnh. Hiểu như vậy là hiểu sai, hiểu như vậy có nghĩa là sự sống và sự tu tập là hai lối khác nhau: niệm Phật, tụng kinh, bái sám, niệm chú, ngồi Thiền trước điện Phật có ăn nhập ǵ vào cuộc sống đâu? Đó là, cái hiểu về tu hành nông cạn, của những người tâm c̣n tham đắm quá nhiều vật chất, đời không muốn bỏ mà đạo lại muốn thêm.

Đạo Phật vốn tu nghĩa là sống, sống biết sửa sai, sửa quấy những lỗi lầm, biết ngăn chặn không làm những điều ác, biết xa ĺa mọi cám dỗ vật chất thế gian, biết tiết độ trong ăn uống ngủ nghỉ. Biết thiểu dục tri túc đối với đời sống, biết pḥng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ư của ḿnh, biết giữ chánh niệm để tâm được thanh thản, an lạc và vô sự.

Lấy cuộc sống Đạo của những bậc chân tu đem so sánh với cuộc sống người thế gian, bên nào khổ, bên nào thoát khổ.

Khi đă so sánh như vậy, ta mới thấy đời sống con người thật khổ, khổ như thật, đời sống xuất gia tu hành phóng khoáng như hư không, không ǵ trói buộc được, không ǵ làm động đến tâm họ được.

Khi đă thấu rơ cả hai cuộc sống ta mới quyết định chọn một trong hai con đường này. Nếu không so sánh, không thể thấu rơ, mà vội vàng chọn lấy con đường tu th́ e rằng chúng ta nông nổi, bồng bột, đến chừng vào Đạo đă trở thành một tu sĩ th́ chừng đó tiến thối lưỡng nan.

Đời sống Đạo rất khó, không phải dễ như mọi người lầm tưởng. Rồi đây, cuộc sống Đạo chẳng ra Đạo, Đời chẳng ra Đời, chết cũng dở, sống cũng dở.

Lấy cuộc sống của mọi người mà suy ngẫm cuộc sống của ḿnh. Đời sống trong gia đ́nh đầy rẫy những triền phược, biết bao dây mơ rễ má trói buộc, biết bao nhiêu vật chất cám dỗ và lôi cuốn vào đường tội ác. Đường đời đầy dẫy ô nhiễm và uế trược, biết bao chông gai và hố thẳm của ác pháp đang chờ đón, càng suy ngẫm chúng ta mới thấy rằng, đời sống con người sinh ra là để khổ, khổ thật.

Chúng ta mới lớn lên chưa lập gia đ́nh, đời c̣n tươi đẹp giống như một giấc mơ, ăn rồi đi học, chẳng lo nghĩ ǵ hết, đói no có cha mẹ lo, đến khi lớn lên một chút, biết ham muốn, biết xài tiền, biết ăn chơi vui đùa, chớ chưa biết khổ là ǵ nên thường rủ rê bạn bè uống rượu, cờ bạc rồi đánh nhau, hoặc đua xe gắn máy, gây tai nạn giao thông, găy chân, găy tay, có khi mất mạng. Bây giờ, mới thấy khổ nhưng cái khổ đó có thấm vào đâu.

Đến khi lập gia đ́nh, chừng đó mới thấy cái khổ của đời sống con người: vợ con, tiền bạc, nhà cửa và những vật dụng tiêu thụ hàng ngày.

Khi cha mẹ c̣n sống, có thiếu hụt cái ǵ th́ ông bà giúp đỡ cho, đến khi cha mẹ mất, chẳng c̣n ai giúp đỡ, tự ḿnh phải lo lấy cuộc sống của ḿnh, trên vai chất gánh nặng phải lo toan đủ thứ, thế mà vợ con đâu biết, nên đâu phải lúc nào cũng ngọt ngào với ḿnh, vợ con cũng phải có những tư tưởng riêng, lối sống ưa thích riêng do những đặc trưng riêng biệt, ḿnh cũng vậy. Cho nên, sống với nhau đâu phải lúc nào cũng hợp nhau được.

Do sự khác biệt đó, nên trong nhà thường có sự lục đục, rầy rà trái ư nhau, làm cho tâm ḿnh bất toại nguyện, phiền năo, chớ đâu phải sung sướng ǵ. Nếu không nhẫn nhục, tùy thuận với nhau th́ gia đ́nh là một địa ngục tại trần gian, càng tư duy suy nghĩ, ta càng thấy đời sống khổ đau, quá khổ, không có ǵ là hạnh phúc nhưng nó lại trói buộc chặt hơn bất cứ một thứ ǵ. Chẳng hạn, đang sống chung với nhau có một người chết, thử hỏi những người c̣n sống có buồn khổ không? Chắc chắn, không ai là không đau khổ. Hai vợ chồng ngồi trong mâm cơm vừa ăn vừa nói chuyện hàng xóm, rốt cuộc gây gổ nhau th́ thử hỏi có vui sướng ǵ không? Thấy thế, đời sống có vui sướng ǵ? Hai vợ chồng sống chung với nhau không tiền không bạc, vợ th́ ham muốn cái này cái kia, do đó vợ chồng căi cọ hờn giận nhau, thế mới biết đời khổ, khổ mọi điều, nhưng ở đời người ta đâu biết, đâu thấy cái khổ đó, người ta chỉ thấy cái ảo ảnh bề ngoài tưởng là hạnh phúc như đôi vợ chồng trẻ ngồi trên chiếc xe hơi bóng loáng, hoặc trên chiếc xe Honda, h́nh ảnh này thật là hạnh phúc nhưng ḷng dạ họ đang khổ nào ai biết. Một người nghèo nói: “Tôi nghèo không có cơm ăn áo mặc, tôi quá khổ”, nhưng người giàu có lại nói: “Tôi có tiền có bạc, tôi lại c̣n khổ hơn nữa, tôi ngủ không yên sợ trộm cắp”. Đó là, mọi thứ khổ đau ưu năo của cuộc đời.

Ở gần nhau con gà, con vịt, con chó, con heo qua lại đă xảy ra những trận gây gổ, làm náo loạn cả xóm làng, con cái chơi giỡn với nhau, v́ bênh con đă xảy ra chuyện lớn, kẻ đi tù, người nằm nhà thương, c̣n hai gia đ́nh th́ hận nhau măi, chuyện nhỏ mọn lặt vặt đó, đă khiến cho đời người bất an, bất toại nguyện.

Nh́n lại, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không, không có một vật ǵ trói buộc, không có một hoàn cảnh nào làm dao động tâm, tâm hồn rộng lớn như đất trời, bao dung tất cả mọi thứ, dơ xấu bất tịnh cũng chẳng buồn, tốt đẹp quư báu như vàng bạc ngọc ngà cũng chẳng mừng vui.

Bởi vậy, thật khó cho những người c̣n sống ở trong gia đ́nh không thể thực hiện sống theo pháp hạnh đầy đủ hoàn toàn, trắng bạch như vỏ ốc của những người xuất gia.

Đem so sánh giữa hai đời sống thế gian và xuất thế gian. Đời sống thế gian suốt đời nô lệ cho vật chất, đời sống xuất thế gian hoàn toàn cởi bỏ ách nô lệ vật chất, v́ thế nên không c̣n một vật ǵ hết, chỉ c̣n ba y một bát, tối ngủ yên giấc, không sợ trộm cắp ǵ cả, không sợ hư hao ǵ hết, bởi v́ c̣n có ǵ nữa đâu mà hư hao, nhà cửa cũng không, gia đ́nh cũng không, lấy ǵ mà sợ vợ đói, con khát. Cuộc sống người xuất gia là như vậy nên tâm hồn an vui thanh thản và hoàn toàn hạnh phúc, tâm hồn trong trắng như vỏ ốc, không có vật ǵ làm hoen ố, ác pháp không làm dao động được tâm.

Họ sống độc cư, độc bộ, độc hành nhưng lại biết ḥa ḿnh trong mọi cuộc sống của người khác bằng đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng.

Từ chiếc áo của người cư sĩ chúng ta đem so sánh với chiếc áo của người xuất gia, ta nhận xét, người cư sĩ tu theo đạo Phật hoàn toàn khó giải thoát như người xuất gia, chỉ giải quyết được cuộc sống bằng Thiện pháp và không thể thực hiện được sự làm chủ sống chết bằng Thiền định.

Khi quán triệt cuộc sống Đời và Đạo, ta mới thấu rơ người tu sĩ đạo Phật không thể sống theo dục lạc thế gian, không thể sống có vật chất tài sản được, phải xa ĺa viễn ly tất cả, buông bỏ xuống hết, không chùa to tháp lớn, không ti-vi, tủ lạnh, không xe hơi, xe cúp, không điện thoại di động v.v.. sống đời thiểu dục tri túc, ba y một bát, hằng ngày sống một bữa ăn, không ăn uống lặt vặt phi thời, đi khất thực nuôi thân, chẳng thân chẳng sơ với ai, chẳng tiền chẳng bạc, chẳng danh chẳng lợi, ai hỏi Đạo th́ chỉ thẳng, chẳng nói, chẳng dạy điều mê tín gạt người.

V́ thế, cuộc sống Đời và cuộc sống Đạo không thể giống nhau được, giống nhau th́ không phải Đạo.

Ở đây, trong tu viện có tu sĩ và cũng có cư sĩ, nam có, nữ có nhưng sự cân nhắc tu hành quả thật chỉ có buông bỏ mà quư vị chưa hoàn toàn buông bỏ sạch. Chúng tôi biết rất rơ quư vị nghe chúng tôi giảng để hiểu biết, chớ sự thật tu hành để giải thoát cảnh trần lao đau khổ th́ quư vị không đủ ư chí cương quyết và khả năng hành tŕ được. Người có quyết tâm đi t́m sự giải thoát th́ phải gan dạ, gọt bỏ râu tóc, mặc y áo xấu xa, cắt đứt dây mơ rễ má t́nh cảm với gia đ́nh, cha mẹ, anh em, chị em ruột thịt, vợ con và người thân quyến thuộc, lại c̣n phải bỏ tất cả tài sản của cải châu báu vàng bạc. Có đoạn dứt được như vậy, th́ con đường Thiền định của đạo Phật mới tu tập được, có tu tập được Thiền định (Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định) th́ mới làm chủ được sự sống chết, mới tịnh chỉ được các hành trong thân. Sự tu hành này, nó không đơn giản mà phải tu tập hết sức. Các Thầy phải tự suy nghĩ, các hành đang hoạt động trong thân của chúng ta như: tim đập, gan, phèo, phổi, thần kinh đang hoạt động không ngừng nghỉ, hơi thở đang ra vô tự động, da đang bài tiết. Tất cả, những sinh hoạt này đang tạo ra một sức sống cho thân mạng chúng ta. Thế mà, tu tập Bốn Thánh Định chúng ta điều khiển làm cho nó ngưng hoạt động, th́ đây không phải là một việc dễ làm, nếu tâm của chúng ta chưa thanh tịnh, chưa ly dục ly ác pháp, c̣n thương, c̣n ghét, c̣n giận, c̣n hờn, c̣n tham muốn vật này vật khác, chưa đoạn ĺa t́nh cảm thế gian th́ chắc chắn quư Thầy không thể thực hiện được, không thể làm chuyện vĩ đại này được.

Giáo lư của đức Phật đă vạch ra con đường tu hành rất rơ ràng, lấy nhân quả làm ṇng cốt đối tượng cho sự tu tập, v́ thế thay đổi nghề nghiệp ác là hành động đầu tiên trau dồi thân tâm thiện (Chánh Nghiệp) kế đến, chúng ta lần lượt tu tập những hạnh bố thí cúng dường, để xả bỏ ḷng ích kỷ hẹp ḥi, để xa ĺa ḷng ham muốn nhiều của ḿnh và hàng ngày c̣n trau dồi đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng trong mỗi đối tượng, mỗi hoàn cảnh, mọi sự việc. Chính những sự tu tập này, đă mang đến cho quư vị và gia đ́nh một sự an vui hạnh phúc tuyệt vời.

Người cư sĩ chỉ cần tu tập bấy nhiêu đây, cũng đủ đem lại một cuộc sống an lành hạnh phúc mà hầu hết mọi người trên thế gian này đều mơ ước, chỉ có những người chưa biết an phận th́ con đường tu tập này không phù hợp.

Nếu không có đạo Phật chỉ đường vạch lối giải thoát cho loài người th́ loài người đi t́m hạnh phúc trong ảo tưởng, đó chỉ là một giấc mơ đẹp mà thôi.

Ở đây, chúng tôi xin lưu ư các bạn: Đời và Đạo không thể đi chung nhau một đường, mà hai nẻo rơ ràng. Đời là đau khổ, Đạo là giải thoát; Đời th́ ôm vào tất cả, Đạo th́ buông ra chẳng c̣n một vật. V́ thế, mà các bạn quan sát biết rơ người tu đúng và người tu sai, người nào tu theo đúng chánh pháp của đạo Phật; người nào tu sai lạc vào tà pháp của ngọai đạo, th́ các bạn không c̣n lầm người. Đó là, Đạo và Đời đă xác định rơ như vậy.

DỨT BỎ NHỮNG G̀ CẦN DỨT BỎ
VƯỢT THOÁT CUỘC SỐNG THẾ GIAN

Trong kinh Phật dạy: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đ́nh, sống không nhà cửa”. Đây là, giai đoạn thứ II trên đường tu tập của đạo Phật. Người cư sĩ muốn tiến tới giai đoạn này th́ phải thấu hiểu rơ đời sống xuất gia, liệu ḿnh có thể sống được như vậy hay không? Đời sống xuất gia cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa là một giới hành thứ nhất trong bộ “Giới Đức Thánh Tăng và Thánh Ni”. Cho nên, muốn trở thành một vị Thánh Tăng và Thánh Ni th́ phải có một h́nh tướng của một bậc Thánh, nhờ h́nh tướng ấy khiến cho vua chúa và những người có quyền thế nh́n thấy đều phải cúi đầu đảnh lễ. Hiện giờ, Tăng Ni không được mọi người tôn trọng cung kính là v́ sống không đúng Phạm hạnh, thường vi phạm các giới luật, sống không có oai nghi tế hạnh của một bậc Thánh.

Qua lời dạy trong đoạn kinh này: “Cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa”. Đây là, lời dạy dứt bỏ cuộc sống thế tục để cắt các duyên bên ngoài, không trang điểm làm đẹp, phải làm cho ḿnh xấu xí, ăn mặc th́ không được chải chuốt, mặc phải bằng những vải thô xấu, h́nh ảnh bên ngoài phải phá và dẹp bỏ cái đẹp đẽ của trần gian khiến cho mọi người không c̣n để ư đến ḿnh th́ mới dễ dàng tu hành. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá” có câu chuyện, một cô thiếu nữ rất đẹp đến xin với một vị Thiền sư tu hành. Vị Thiền sư bảo: “Cô tu không được”. Cô ta ngạc nhiên hỏi lại vị Thiền sư: “Tại sao con tu không được? Xin Thiền sư chỉ dạy cho”.

Vị Thiền sư đáp: “Tại cô quá đẹp”.

Nghe xong cô trở về nhà t́m cách phá hủy sắc đẹp của ḿnh. Sau khi vết thương trên mặt đă lành, để lại một vết thẹo khiến cho gương mặt cô giống như ác quỷ. Bấy giờ, cô trở lại gặp vị Thiền sư.

Vừa trông thấy mặt, vị Thiền sư đă nhận ra cô và chấp nhận cho cô ở tu. Câu chuyện trên đây, là câu chuyện của Thiền Đông Độ, nhưng Thiền Đông Độ vẫn c̣n không chấp nhận sắc đẹp huống là đạo Phật chân chánh. Phải không các bạn?

Câu kinh kế dạy: “Từ bỏ tài sản, của cải, nhà cửa, sự nghiệp”, đây là lời dạy buông xả vật chất thế gian không c̣n một thứ ǵ ngoài ba y một bát, để tâm trí không c̣n lo lắng, hối tiếc, sợ hư hao, sợ mất mát, lửa cháy, nước trôi, trộm, cướp, người khác tranh giành v.v..

Cũng bài kinh đó, câu cuối cùng dạy: “Sống không gia đ́nh” nghĩa là đoạn dứt t́nh cảm cha mẹ, anh em, chị em ruột thịt, vợ con, bè bạn, người thân quyến thuộc v.v..

Khi hiểu rơ từng đoạn kinh này, đức Phật đă chỉ dạy rất rơ ràng, người cư sĩ quyết tâm đi theo con đường giải thoát của đạo Phật th́ bắt đầu chuyển ḿnh qua cuộc sống mới, cuộc sống Đạo. Đoạn kinh này, tuy ngắn nhưng ta thấy sự chỉ dạy của đức Phật rất rơ ràng, đây là một sự thay đổi vĩ đại của cuộc sống đời người, có thể chia làm ba trường hợp như sau:

1-  Người đi tu mà c̣n trang điểm làm đẹp, làm dáng là không thể nào theo đạo Phật tu hành đến nơi đến chốn được.

2-  Người đi tu mà không dứt bỏ tài sản, của cải, vật chất, vàng, bạc của báu th́ không thể nào theo đạo Phật tu hành đến nơi đến chốn được.

3-  Người đi tu mà không dứt bỏ t́nh cảm, không cắt đứt ḷng luyến ái đối với những người thân th́ không thể nào theo đạo Phật tu hành đến nơi đến chốn được.

Cái khó của người đi tu theo đạo Phật đầu tiên là ở trong ba trường hợp này: nếu dứt một c̣n hai th́ đi tu cũng vô ích, nếu dứt hai c̣n một th́ tu cũng chẳng có kết quả ǵ, chỉ khi nào dứt trọn vẹn ba trường hợp này th́ xuất gia tu hành mới đạt được kết quả giải thoát, c̣n không dứt được ba trường hợp này th́ quư vị có tu hành xuất gia cũng chỉ làm một người cư sĩ trọc đầu mà thôi, chứ không thể thành tu sĩ được.

Xét qua ba trường hợp này, trước tiên chúng ta muốn tu tập cầu giải thoát th́ phải bỏ trang điểm, bỏ làm dáng, làm đẹp, tập ăn mặc vải thật xấu, kế đến tập bố thí, xả bỏ của cải tài sản, buông xả cho thật sạch, đừng nghĩ rằng để dành cất chùa, cất am cho thật đẹp, độ người tu, điều này là tâm luận thế gian qua ngỏ tôn giáo, đó là bị tâm ḿnh lừa gạt. Tu để cứu ḿnh thoát khổ cảnh trầm luân, chưa cứu ḿnh được mà lo cứu người đó là si mê dại dột. Đừng vội làm thầy Trời, Người mà sự tu hành của ḿnh chỉ là số không, đừng bắt chước các nhà Đại Thừa làm Bồ Tát độ chúng sanh, coi chừng cả ḿnh và chúng sanh đều xuống địa ngục cả đám. Đó cũng là, tâm danh lợi khéo che đậy mà thôi.

Ta phải xả bỏ hết của cải như ông Bàng Long Uẩn, đem tài sản của cải châu báu đổ xuống sông mà không tiếc rẻ chút nào cả. Khi xả bỏ được tài sản của cải châu báu vàng bạc, ta phải giải quyết t́nh cảm như thế nào để không c̣n bị trói buộc nhớ thương, đối với những người thân thương.

Đây là một giai đoạn rất khó đối với đạo Phật, nghe th́ dễ nhưng thực hiện th́ khó vô cùng, bởi nó thuộc về ái kiết sử.

Muốn vượt thoát cuộc sống thế gian đâu phải ai cũng làm được, phải là người gan dạ, đầy đủ nghị lực, cương quyết dũng cảm th́ mới vượt thoát ra được.

Một người có gia đ́nh như các cư sĩ đang ngồi đây, nghe chúng tôi thuyết giảng, thử hỏi quư vị có bỏ gia đ́nh đi tu ngay liền được hay không?

Quư vị muốn đi tu nhưng vợ con có đồng ư hay không? Nếu quư vị đoạn dứt bỏ đi, th́ quư vị đă làm trái với lời Phật dạy “Không làm khổ ḿnh, khổ người”. Do ư này, quư vị sẽ hỏi chúng tôi: “Tại sao đức Phật đi tu bỏ vợ, bỏ con, bỏ cả gia đ́nh cha mẹ trong lúc mọi người không chấp nhận, không muốn rời xa, v́ ḷng thương yêu? Đức Phật c̣n như vậy, ở đây Thầy lại bảo không làm khổ ḿnh, khổ người, như vậy đạo Phật có mâu thuẫn hay không?”.

Quư vị quên rằng: khi đức Phật đi tu là đạo Phật chưa có. Do đạo Phật chưa có, nên chưa có ai dạy đạo đức nhân bản – nhân quả không làm khổ ḿnh, khổ người, c̣n bây giờ chúng ta đă có được đạo Phật, và đức Phật đă dạy: “Đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người”. V́ thế, bà Dhamar phải chờ chồng chết rồi mới được đi tu, lúc bây giờ hơn 70 tuổi. Bà là một Thánh Ni trong thời đức Phật.

Hai chữ “bổn phận” đă trói buộc chúng ta chắc hơn cả dây xích sắt. Bổn phận làm người đối với cha mẹ, đối với vợ con chúng ta có bỏ được không? Điều đó, ít có ai làm được, đâu phải dễ. Phải không các bạn?

Một người làm được điều này, ví như một bầy cá đang mắc trong lưới chỉ có một con vượt thoát ra khỏi lưới, đó là một điều hy hữu ít có. V́ thế, ông Trang Tử vỗ tay ca ngợi: “Con cá khôn thật, tuyệt vời”.

Chúng ta là những người bị lưới gia đ́nh, lưới vật chất, lưới danh, lưới lợi bao vây khắp cùng không thể vượt thoát ra được. Thầy Minh Tông là một cư sĩ có vợ, con c̣n nhỏ, mẹ già đang bịnh tật, nhưng đứng trước sự chết sống, bịnh khổ và tái sanh luân hồi của kiếp người. Thầy không chần chờ được nữa, mạnh dạn quyết tâm vượt ra khỏi mạng lưới, để thực hiện con đường giải thoát cứu ḿnh và cứu mọi người, trong đó có gia đ́nh ḿnh cha mẹ và vợ con, nhưng năm năm trôi qua xác định Thầy không cắt được ái kiết sử, mỗi lần vợ con đến thăm là Thầy xin tiếp duyên. Ôi, có quyết tâm đi tu mà ái kiết sử không đoạn trừ, th́ cũng phí uổng một đời mà c̣n mang tiếng là bất hiếu thiếu t́nh nghĩa đối với vợ con, không làm hết bổn phận làm chồng, làm cha, thật đáng trách phải không các bạn.

Một người làm được như cư sĩ Minh Tông không phải ai cũng làm được như vậy hết, nhưng v́ làm được bằng h́nh thức bên ngoài mà nội tâm không đoạn trừ ái kiết sử. V́ thế, mà phải đổ vỡ con đường tu. Hầu hết quư vị đang có mặt ở đây, đang nghe chúng tôi thuyết giảng, chẳng qua chỉ để nghe cho hiểu biết, chớ không đủ can đảm vượt qua những mạng lưới của gia đ́nh, cạo bỏ râu tóc xuất gia, thay đổi cuộc sống hoàn toàn, cắt đứt dây mơ rễ má, t́nh cảm gia đ́nh để thực hiện đời sống cao quư của đạo Phật “Không làm khổ ḿnh, khổ người” và c̣n phải đi sâu hơn nữa con đường giải thoát của đạo Phật, đó là thực hiện Thiền định, tịnh chỉ các hành trong thân, làm chủ sự sống chết, quét sạch luật nhân quả luân hồi. Những việc làm này, không thể người cư sĩ tại gia c̣n sống trong gia đ́nh mà làm được. Con đường tu tập của đạo Phật không đơn giản như mọi người nghĩ mà phải thực hiện từng bước ban đầu, có bậc minh sư hướng dẫn tu tập đúng cách, đúng pháp.

Quư Thầy và các Phật tử cứ nghĩ xem các hành trong thân của chúng ta đang tự hoạt động như: tim đập, phổi hô hấp, bao tử nhồi bóp thực phẩm, ruột non, ruột già và da đang bài tiết, óc, thần kinh đang hoạt động, hơi thở ra vô liên tục, thế mà người ta tu hành tập điều khiển làm cho các hành trong thân đều ngưng hoạt động, th́ quư Thầy và các Phật tử tự suy nghĩ đây không phải là một việc dễ làm, dễ tu tập.

Nếu tâm quư vị c̣n đắm nhiễm mùi tục lụy thế gian: c̣n thương, c̣n ghét, c̣n giận hờn, c̣n ham muốn vật này vật kia, c̣n ham thích nói chuyện đời, chuyện đạo, tranh luận hơn thua, chưa từ bỏ viễn ly, chắc chắn quư Thầy và các Phật tử không thể làm được những chuyện vĩ đại này.

Giáo lư của đức Phật, đă vạch ra cho chúng ta thấy con đường tu tập rất rơ ràng, bắt đầu phải diệt trừ các ác pháp, ĺa tâm ham muốn, lấy nhân quả làm ṇng cốt, tu tập thiện pháp khiến cho tâm xa ĺa và đoạn dứt thất kiết sử, ngũ triền cái, lần lượt tu tập buông xả, lập hạnh bố thí, cúng dường và c̣n trau dồi những đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng trong mỗi đối tượng, mỗi hoàn cảnh v.v.. Nếu bước đầu tu tập đúng như vậy, quư Thầy và các Phật tử sẽ ly dục ly ác pháp một cách dễ dàng, mà đă ly dục ly ác pháp được th́ tâm của quư vị sống trong gia đ́nh được yên vui hạnh phúc, chẳng ai làm ǵ động tâm được cả, luôn luôn lúc nào tâm của quư vị cũng thanh thản, an lạc và vô sự.

Khi thực hiện được giai đoạn ly dục ly ác pháp, quư vị sẽ có được một tâm hồn giải thoát an lạc và một cuộc sống hạnh phúc an vui, nếu quư vị măn nguyện nơi đây, th́ con đường tu của đạo Phật, quư vị mới đi được một phần ba đường.

Quư vị muốn đi nốt quăng đường c̣n lại của đạo Phật trong chiếc áo người cư sĩ chắc chắn quư vị khó mà thực hiện được.

Giai đoạn chuyển tiếp từ chiếc áo người cư sĩ đến chiếc áo của người tu sĩ, quư vị phải xả bỏ hết tài sản của cải như ông Bàng Long Uẩn, đem của cải, tài sản, vàng bạc, châu báu đổ hết xuống sông. Khi xả bỏ được của cải, vàng bạc châu báu chúng ta mới giải quyết t́nh cảm ái kiết sử như thế nào, để không c̣n bị trói buộc thương nhớ, khi sống độc cư một ḿnh.

Đây là một giai đoạn rất khó, nếu cha, mẹ, anh em, chị em, vợ, con đều thông suốt Phật Pháp th́ dễ dàng dứt áo ra đi. Bằng ngược lại, th́ khó khăn vô vàn. Đó là phần h́nh thức, đồng ư hay không đồng ư, c̣n về t́nh cảm của chúng ta đối với những người này, trong tâm có dứt được hay không?

Khi vào chùa ngồi tu mà tâm tư luôn ở gia đ́nh, th́ tâm niệm đó không thể tu giải thoát được.

Muốn t́m con đường tu hành giải thoát mà không mạnh dạn dứt bỏ, không đủ nghị lực xa ĺa những người thân thương, th́ dù tu ngàn kiếp cũng chẳng tới đâu, trường hợp như một số cư sĩ về đây tu hành. Họ cứ nghĩ rằng, ngồi Thiền ức chế vọng tưởng khi nào hết vọng tưởng là tâm không c̣n thương nhớ và tham sân si cũng không c̣n nữa, đó là họ đă hiểu theo lối tu tập của một số hệ phái phát triển. Cho nên, họ tu ngàn kiếp muôn kiếp, cũng không bao giờ đoạn dứt thương nhớ và tham, sân, si v.v..

Quyết t́m đường giải thoát ra khỏi kiếp sống trần lao gian khổ, mà không dứt bỏ t́nh cảm th́ làm sao thoát ra khỏi trần lao được. Nếu quư vị, giải quyết tâm ḿnh không ổn th́ quư vị nên giữ chiếc áo cư sĩ mà tu thiện pháp, đừng có mơ tưởng đến Thiền định, Thiền định chỉ dành riêng cho những người biết buông xả, buông xả sạch.

Đường lối tu tập của đạo Phật và cách thức rèn luyện thân tâm rất rơ ràng, tuần tự, giai đoạn I trước tiên quư vị cần phải thông hiểu đường lối, phương pháp, cách thức rèn luyện, trau dồi như thế nào? Để diệt trừ thói hư tật xấu, không làm các ác pháp luôn tăng trưởng thiện pháp, lập hạnh bố thí cúng dường, tạo phước báo lâu dài, xả bỏ ḷng xan tham, ích kỷ để tâm được rộng lớn, lập đức nhẫn nhục, tùy thuận, bằng ḷng để tâm hồn lúc nào cũng hân hoan thanh thản, không biết hờn giận phiền năo với ai, không biết tham muốn tài sản của ai, vui sống với gia đ́nh làm gương tốt cho mọi người: “không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ chúng sanh”.

Vai tṛ người cư sĩ đệ tử của đức Phật chỉ tu như vậy, đừng nên tu hơn nữa, tại sao vậy? V́ có tu cao hơn cũng chẳng đi tới đâu, nếu không đoạn dứt ái kiết sử.

Đạo Phật có lớp tu thấp, có lớp tu cao, được chia ra làm tám lớp gọi là Bát Chánh Đạo. Người cư sĩ tu theo lớp của người cư sĩ, c̣n người tu sĩ khi xuất gia trở thành tu sĩ th́ phải trải qua tu cho xong lớp đạo đức của người cư sĩ, nếu không tu tập đạo đức như vậy th́ sẽ mất căn bản. Bằng chứng, hiện giờ các vị Tỳ kheo Tăng cũng như tỳ kheo Ni thường phạm giới cấm tức là thiếu đạo đức làm Người, làm Thánh, nên con đường tu hành chẳng ra ǵ, đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo, mà c̣n trở thành một người hành nghề lừa đảo, nghề mê tín.

Để chuẩn bị lên lớp tu sĩ th́ quư vị phải sắp xếp buông xả vật chất cho thật sạch, t́nh cảm phải dứt khoát, không c̣n để dây dưa mà phải đoạn cho dứt, xem như ḿnh đă chết rồi. Có như vậy, mới vượt thoát cuộc sống thế gian, mới trở thành người đệ tử xuất gia chân chánh của đạo Phật.

Nơi đây, là giai đoạn rất quan trọng cho cuộc đời tu hành của mỗi người, có dứt khoát được t́nh cảm, có xa ĺa được tài sản th́ mới nhập được chánh định, bằng không chỉ là tu tập có h́nh thức, chẳng bao giờ nếm được mùi vị của giải thoát.

Từ cuộc sống Đời bước sang cuộc sống Đạo toàn bộ đều thay đổi khác hẳn, v́ thế người muốn tu giải thoát mà không chuẩn bị sẵn sàng sẽ bị một cơn sốc nặng, từ đó về sau cuộc sống “Đời chẳng ra đời, Đạo chẳng ra đạo” sự tu hành cũng chẳng đi tới đâu, phí uổng một đời người chẳng ích lợi ǵ cho ḿnh, cho người.

Người nào vượt qua đoạn đường này, ví như cá vượt vũ môn. Xưa, Trang Tử cùng một người bạn đứng xem người chài lưới cá có một con cá từ trong lưới đang kéo lên vọt thoát ra ngoài. Trang Tử vỗ tay ca ngợi: “Hay! Một con cá khôn thật!”.

Người bạn hỏi: “Sao anh lại biết nó khôn?”

Đáp: “Tất cả, những con cá khác đồng chung số phận sa lưới, mà không thấy ḿnh sa lưới, không thấy sự nguy hiểm tai họa, không thấy sự đau khổ mất mạng, không thấy trên dao dưới nước sôi lửa bỏng, không thấy thân mạng như chỉ mành treo chuông, chỉ trong chốc lát ô hô! Th́ c̣n ǵ là sự sống, cả một bầy cá mà chỉ có một con vượt ra khỏi, không phải là khôn sao?”.

Ai là người khôn, thấy được thân này là vô thường, là khổ, là vô ngă, thấy thân này là bất tịnh uế nhiễm, hôi thúi, bệnh tật, khổ đau, thấy những người thân quyến thuộc là nhân quả, là những người vay nợ với nhau, không có chi là thường c̣n, vĩnh viễn, các pháp trong thế gian này không phải của ḿnh nữa, là do duyên hợp, là đau khổ, là trói buộc, thương nhớ chỉ là một sự tạm bợ trong khi thân này c̣n sống, đến khi nó hoại diệt rồi th́ sự thương nhớ kia cũng không c̣n, nó sẽ tan ra thành mây khói. Phải không các bạn?

Người đi tu theo đạo Phật mà không thấy ba trường hợp quyết định số phận tu hành của ḿnh th́ dù có tu đến đâu cũng chẳng ra ǵ, chỉ là h́nh thức tu sĩ mà thôi.

Năm năm trời dài đằng đẵng, trong những ngày công phu ức chế tâm hết sức để vào Thiền định 5, 6 tiếng đồng hồ không một chút vọng tưởng xen vào, hơi thở đă đ́nh chỉ từ 1 đến 5 phút, nhưng đến giờ phút cuối cùng cô Diệu Quang đă trắc nghiệm Minh Tông, Minh Tông như từ trên trời rớt xuống. Tâm sân bừng bốc ngút ngàn. Tất cả mọi người đều sáng mắt ra kinh sách phát triển chỉ là một pháp môn lừa đảo người từ xưa đến giờ. Xưa, các Tổ đă lầm lạc và bây giờ chúng ta cũng lầm lạc, rồi đây con cháu của chúng ta cũng lầm lạc măi măi.

Hơn 25 thế kỷ trôi qua, từ thế hệ này đến thế hệ khác đă dơi bước theo chân đức Phật nhưng nào ngờ đă theo chân của ngoại đạo huyền thoại mê tín. Biết bao nhiêu công sức của mọi người giờ đây đă trở thành cát bụi, mây khói.

PHÁP HÀNH

Bài “Vượt thoát cuộc sống thế gian” là bài pháp dạy về “dứt bỏ, từ bỏ, đoạn diệt tâm tham, sân, si”.

Muốn vượt thoát cuộc sống thế gian để trở thành người tu sĩ chân chánh của Phật Giáo; để trở thành bậc Thánh nhân; bậc chân nhân; bậc giải thoát; bậc A La Hán th́ phải gan dạ đoạn dứt, dứt bỏ từ giă, xa ĺa viễn ly tất cả các pháp thế gian như:

1-  Xa ĺa, từ bỏ, không trang điểm làm cho thân thể đẹp và sang.

2-  Xa ĺa, từ bỏ của cải, tài sản vật chất thế gian.

3-  Xa ĺa, đoạn dứt t́nh cảm cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thân bằng, quyến thuộc...

Muốn dứt bỏ được ba trường hợp này, quư vị phải trạch pháp dùng pháp hướng Như Lư Tác Ư hàng ngày phải đặt niệm trước mặt quán xét suy tư: “Thân này bất tịnh hôi thúi có ǵ sang đẹp mà trang điểm hăy từ bỏ viễn ly không làm đẹp nữa. Thân này vô thường là ổ bệnh tật, là khổ đau, là không phải là ta, là của ta, là bản ngă của ta”.

Câu hai: “Của cải, tài sản, vàng bạc, châu báu là những thứ làm ta đau khổ nhiều nhất, tai họa cũng từ đó sanh ra, ta hăy xả bỏ, tránh xa, từ khước, viễn ly như xa ĺa loài rắn độc”.

Câu ba: “Cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thân bằng, quyến thuộc, bạn bè, đều do duyên nhân quả nợ vay, vay nợ với nhau, chớ đâu có ǵ mà phải thương nhớ, phải ghét giận, phải khổ đau, phải mong ngóng, ta hăy xả bỏ và đoạn dứt hết”.

Trên đây, là những câu trạch pháp được chọn ra để người cư sĩ quán xét tư duy và dùng nó để ám thị tâm ḿnh, chuẩn bị bước qua giai đoạn thứ hai trên đường tu tập của đạo Phật, nếu ai muốn t́m đường giải thoát th́ nên hằng ngày phải siêng năng tu tập quán xét cho thông suốt những lư này và rèn luyện pháp hướng để tạo cho ḿnh có một nội lực vững chắc, đến khi ḿnh trở thành tu sĩ th́ ḿnh sẽ không bị đổ vỡ và tiến tu dễ dàng hơn.

Những người đă tu sai để lại cho chúng ta những kinh nghiệm quư giá vô cùng, từ đó chúng ta nên tập tu theo đúng những lời đức Phật đă dạy trong kinh Nguyên Thủy, đừng dựa theo kinh sách phát triển mà uổng phí một đời tu hành.

Thưa quư Phật tử! Nếu quư vị muốn tu tập để cầu giải thoát theo Phật giáo th́ những lời dạy trên đây, là lời khuyên chân thật của một người đă tu tập xong, giống như một người cha, một bà mẹ thương con luôn luôn chăm sóc cho con ḿnh, mong nó được nên người hữu ích cho nó và cho mọi người.

Các bạn nên lưu ư! Trong những bài pháp này có pháp hành, các bạn nên dùng nó mà tu tập hằng ngày. Các bài pháp này, sẽ mang đến nhiều kết quả lợi ích cho các bạn.

THOÁT KHỎI TRẦN
LAO VIỆC CHẲNG THƯỜNG

Trong kinh Thập Nhị Nhân Duyên dạy: “Nếu duyên sanh có th́ duyên ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết có; nếu duyên sanh không có th́ duyên ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết không có”. Biết như vậy, th́ người tu theo đạo Phật phải đoạn dứt duyên sanh th́ ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết sẽ đoạn dứt. Ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết đoạn dứt là giải thoát, là Niết Bàn.

Thông hiểu như vậy, biết rơ như vậy. Muốn chấm dứt ưu bi, sầu khổ, sanh tử luân hồi th́ không c̣n cách nào khác hơn là phải đoạn dứt duyên “sanh”.

Con đường giải thoát duy nhất của đạo Phật bắt đầu tu tập để trở thành một vị Tỳ kheo (tu sĩ) là phải đoạn ĺa duyên “sanh”. Nếu không đoạn ĺa duyên sanh th́ không thể trở thành một Tỳ kheo được.

Do không hiểu sự giải thoát của đạo Phật, nên người ta xuất gia tu hành theo kiểu h́nh thức tu sĩ (chiếc áo, đầu trọc). Học hỏi giáo lư thông suốt để trở thành một bậc thầy thuyết giảng gọi là Tỳ kheo, nhưng thật ra những vị Tỳ kheo này không thọ hưởng sự giải thoát chân thật của đạo Phật mà chỉ thọ hưởng danh lợi, dục lạc thế gian, như bao nhiều người khác.

Như ở trên đă dạy, đoạn dứt duyên “sanh” th́ ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết không có, trong kinh Thập Nhị Nhân Duyên Phật dạy: “Muốn chấm dứt sanh tử luân hồi, ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết th́ phải dứt bỏ, từ giă, từ khước, xa ĺa, viễn ly, từ bỏ, buông xuống duyên “sanh”.

Sanh ở đây quư Thầy và các quư Phật tử phải hiểu là “sanh y”. Sanh có nghĩa là sanh sống, cuộc sống, đời sống, nương tựa vào để sống, chớ không có nghĩa như sanh đẻ, đản sanh. Các nhà học giả thường dựa theo trong những bài kinh Tương Ưng hoặc kinh A Hàm mà giải thích sanh là sanh đẻ, đản sanh, nên các Ngài luận: “có sanh tức có tử”. Giải thích như vậy, không đúng nghĩa của kinh Thập Nhị Nhân Duyên. V́ mười hai nhân duyên này hợp lại chỉ thành ra một con người; thành một con người, tức là sai. Tuy rằng, kinh sách Tương Ưng và A Hàm là kinh sách Nguyên Thủy nhưng giải thích nghĩa như vậy chúng tôi không chấp nhận, v́ nghĩa như vậy không đúng nghĩa thế giới quan của Thập Nhị Nhân Duyên, cho nên “sanh” có nghĩa sanh đẻ, đản sanh, là không đúng.

C̣n nghĩa của chữ “sanh” trong Thập Nhị Nhân Duyên chỉ là một duyên với các duyên kia để hợp lại tạo thành hay sanh ra một thế giới khổ đau. Đó là, một thế giới quan của Phật Giáo, chứ không phải là một nhân sanh quan như các nhà học giả và các kinh sách giải thích. Đây là, một sự lầm lạc rất lớn của các nhà học giả xưa và nay.

V́ muốn cho con người hết khổ, chấm dứt luân hồi sanh tử. Đức Phật đưa ra một triết thuyết Mười Hai Nhân Duyên nối tiếp nhau không kẽ hở “sanh diệt” tiếp diễn măi “diệt sanh” theo định luật nhân quả trả vay, vay trả, nên trong các kinh đức Phật thường xác định nhắc đi nhắc lại Mười Hai Nhân Duyên này hợp lại thành thế giới khổ đau như trên đă giảng.

Làm cách nào? Tu như thế nào? Để Mười Hai Duyên này tan ră?

Đọc hết giáo lư kinh Nguyên Thủy đức Phật đă chọn duyên “sanh” làm vị trí cho chặng đường đầu tiên của người tu sĩ phải thực hiện, đó là giai đoạn thứ nhất của một vị Tỳ kheo phải tu tập cho bằng được, tức là đoạn dứt duyên sanh.

Muốn trở thành một vị Tỳ kheo của đạo Phật th́ “sanh y” phải đoạn dứt, người nào chưa đoạn dứt sanh y th́ không thành Tỳ kheo nghĩa là không thành đệ tử xuất gia của đạo Phật.

Như ở trên đă giải thích “sanh” là sanh sống, “y” là nương tựa vào để sống. Vậy, sanh y có nghĩa là nhà cửa, tài sản, tiền bạc, châu báu, cha mẹ, anh chị em, vợ con, bà con quyến thuộc nội ngoại, bạn bè thân thiết, chùa to tháp lớn, Phật tử đông, đó là sanh y.

Tu chưa xong mà lo độ người khác là mê muội, ngu si, tự ḿnh chôn ḿnh vào mồ danh lợi để mà chết trong khổ đau, cũng chẳng khác như một người nhà giàu kia vậy, đó là sanh y.

Người xuất gia tu theo đạo Phật th́ phải đoạn dứt sanh y, có đoạn dứt sanh y mới sống đúng đời sống Phạm hạnh trọn vẹn và tu tập Thiền định đạt được kết quả.

Nếu chúng ta tu hành không đoạn dứt sanh y, c̣n t́nh cảm thương ghét, ngồi trong chùa mà tâm hướng về cha mẹ, vợ con, bạn bè, quyến thuộc, của cải, tài sản v.v.. nhớ mong, thương tiếc th́ con đường tu hành giải thoát làm sao đạt được.

Hiện giờ, người nào cũng có hai tay, một tay th́ ôm đời, một tay th́ ôm đạo. Tay nào quư vị cũng nắm hết. Đời quư vị không bỏ, đạo quư vị muốn thêm. Như vậy, quư vị làm sao nắm trọn được con đường tu hành.

Ví như, có một người đi thuyền, hai chân đứng trên hai chiếc thuyền, đứng như vậy làm sao thuyền đi được? Nếu muốn t́m đường giải thoát ra khỏi cảnh khổ của cuộc đời th́ quư vị phải bỏ tay đời, rồi dùng tay đó cùng với tay kia sẽ ôm chặt con đường đạo, lúc bấy giờ quư vị sẽ thấy ngay liền có giải thoát tức khắc.

Đức Phật đă dạy: “dứt bỏ sanh y th́ Phạm hạnh mới xong”. Lời dạy này rơ ràng và cụ thể, xác định dứt khoát “có dứt bỏ th́ có giải thoát”.

Nếu Đời không muốn bỏ mà muốn tu theo đạo Phật th́ chỉ tu tập “thiện pháp” mà thôi, không thể tu cao hơn được nữa, không thể nhập Vô Lậu Định và Tứ Thánh Định được.

Người thời nay, do chỗ tu hành không đúng, không hiểu rơ Phật Pháp, c̣n bắt cá hai tay, nên một số cư sĩ tu theo đạo Phật, không lượng sức ḿnh, không rơ pháp môn nên ngày đêm tụng kinh, ngồi Thiền, cũng siêng năng nỗ lực tu hành lại c̣n đi nghe các giảng sư, Thiền sư thuyết pháp, dạy cách ngồi Thiền. Họ có công tu tập nhưng lại không dám bỏ vợ, bỏ con, không dám cắt ĺa tài sản, lúc nào cũng lo làm ra tiền, ra bạc th́ thử hỏi sự tu tập của họ sẽ giải thoát chỗ nào? Sẽ đi về đâu? Họ c̣n được các vị Thiền sư ấn chứng là đă kiến tánh thành Phật. Kiến tánh của những vị này là kiến ngôn, kiến ngữ, giỏi tài đối đáp chứ không phải thấy tánh, chỉ giỏi tài lư luận tưởng vô minh mà thôi.

Này, quư Thầy và quư vị cư sĩ đang ngồi đây nghe chúng tôi thuyết giảng đến chỗ này, quư vị nghĩ sao?

Có bỏ Đời đi theo Đạo được không?

Có xả được t́nh cảm của gia đ́nh hay không?

Có xả được của cải, tài sản được không?

Đó là, con đường đoạn dứt sanh y, các bạn có làm được hay không?

Nếu chọn Đạo làm con đường giải thoát kiếp sống lầm than đau khổ của ḿnh, th́ Đạo có gian khổ cách nào ta cũng không chùn bước, thà chết, chết trong Đạo, chết trên bồ đoàn, chứ không thể chết dưới bồ đoàn, chết trong sự giải thoát nhân quả, chứ không thể chết trong t́nh cảm trói buộc của gia đ́nh, của cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc v.v.., không thể chết v́ của cải, tài sản, sự nghiệp mà phải chết v́ Đạo, v́ sự chấm dứt luân hồi, đau khổ của đời người.

Có cương quyết, gan dạ đi theo Đạo giải thoát, chúng ta mới bỏ hết, dẹp hết, viễn ly, xa ĺa tất cả những ǵ gọi là cuộc sống thế gian. Chúng ta chấp nhận đời sống xuất thế gian nghèo nhưng không khổ, chỉ chọn lấy một nghề duy nhất, đó là nghề ăn xin, nghề hèn hạ nhất trong xă hội nhưng chính nhờ có tu tập và nuôi sống thân mạng bằng nghề này mới giải quyết được bản ngă ác vĩ đại, mới xô đổ và đập nhẹp nó xuống được.

Người đi tu theo đạo Phật không c̣n làm ra tiền bạc nữa, không c̣n đi cày ruộng trồng rau để mà ăn nữa.

Ngày một bữa, đói xin cơm ăn, không xin tiền, khát xin nước uống hoặc xuống suối uống, không có thuốc thang đành chịu, không than thân trách phận, không bỏ cuộc tu hành, y áo rách xin y áo mặc, không có vẫn vui ḷng chấp nhận để xả hết mọi pháp thế gian, để thoát ly những vật chất trói buộc làm khổ đau con người muôn đời muôn kiếp.

Đến với đạo Phật, là để trở thành người tu sĩ xuất gia th́ đời sống vật chất thiếu thốn mọi mặt, gần như không c̣n ǵ hết. Nếu người nào không có quyết tâm, không thấu rơ đời sống con người là khổ, khổ thật sự th́ khó mà chấp nhận đời sống Đạo.

Đời sống Đạo phải hoàn toàn đoạn ĺa, không c̣n mang một chút ǵ của đời trong tâm hồn th́ sự tu hành mới dễ dàng. Đừng ngồi đây mà lo đời nghĩ nhớ cái này, cái kia hoặc lo toan thứ này thứ nọ.

Đối với Phật tử, họ chỉ là cái nhân để cho quư Thầy tạo cái duyên tu hành cho họ về sau, chớ đừng khuyến khích họ xuất gia tu hành ngay liền bây giờ hoặc bày vẽ kêu gọi họ cúng dường, làm từ thiện, xây chùa, xây tháp, hoặc trai tăng tứ sự v.v.. Đó là biến họ trở thành sự trói buộc quư Thầy. Cũng v́ chuyện cúng dường, xây chùa tháp làm từ thiện v.v.. mà quư Thầy đă ngă quỵ trên đường tu hành của ḿnh, quư Thầy đă trở thành những người phục vụ cho nhu cầu tinh thần của cư sĩ, chứ không c̣n là một vị tu sĩ chân chánh.

Khi quư Thầy làm trụ tŕ một ngôi chùa nào đó, hầu hết quư Thầy ít bị gia đ́nh trói buộc mà bị Phật tử trói buộc. Họ cúng dường quư Thầy cái này để quư Thầy thỏa măn nguyện vọng làm Phật sự th́ họ cũng đ̣i hỏi quư Thầy ở cái kia, mặc dù cái kia không phải là giáo pháp của đức Phật, quư Thầy cũng phải làm cho vừa ḷng họ.

Người tu sĩ ĺa khỏi cuộc sống thế gian th́ lại bị sai khiến trong cuộc sống xuất thế gian. Chúng ta ĺa bỏ đời để đi t́m mục đích giải thoát nhưng không khéo lại bị đời sai khiến làm lệch Đạo.

Vượt thoát cuộc sống thế gian là một việc làm khó, thế mà vượt thoát đời sống không đúng của đạo Phật lại c̣n khó hơn. V́ những điều lệch lạc và không đúng của đạo Phật đă ăn sâu vào tâm năo của mọi người, nó đă trở thành những phong tục tập quán truyền thống sâu sắc vào đời sống dân gian (mượn danh là Phật giáo).

Thời đại chúng ta có những tiêu chuẩn pháp hành cụ thể rơ ràng chánh thống của đạo Phật, vậy mà người ta xem thường, xem những pháp hành đó chẳng ra ǵ.

Bởi vậy, muốn giải thoát khỏi cảnh lầm than thế tục và c̣n phải vượt thoát những tà Thiền tà giáo của ngoại đạo, th́ chúng ta phải noi gương đức Phật, buông xuống, buông xuống hết. Chỉ c̣n duy nhất những pháp nào Ngài đă thực hiện được giải thoát sanh, lăo, bệnh, tử, th́ chúng ta phải lấy đó hành tŕ không nên biếng trễ, để trở thành người giải thoát hoàn toàn.

Thoát khỏi trần lao là một việc rất khó vô cùng, nhưng đă vượt ra khỏi mà lại tu không đúng pháp của Phật th́ rất uổng cho một đời người; vượt ra khỏi mà không nghe lời dạy của những người có kinh nghiệm đi trước mà cứ tu theo kiến giải của ḿnh, tưởng là ḿnh đă hiểu đúng, nào ngờ đó cũng là một sự lầm lạc c̣n lớn hơn nữa, tu như vậy chỉ là tu mù, phần đông những người tu sĩ này, chịu ảnh hưởng tà giáo ngoại đạo.

Đoạn dứt sanh y tức là sống đúng đời sống Phạm hạnh, sống đúng đời sống Phạm hạnh tức là hành tŕ giới luật nghiêm túc, giới luật nghiêm túc tức là trí tuệ như trong kinh Trường Bộ, đức Phật dạy: “Chỗ nào có giới luật nhất định chỗ ấy có trí tuệ, chỗ nào có trí tuệ nhất định chỗ ấy có giới luật…”. Như vậy, đoạn dứt duyên sanh tức là trí tuệ, trí tuệ tức là “minh”. Ở đâu có minh th́ ở đó, không có vô minh.

Ở đây, chúng ta thấy rất rơ, do vô minh sanh hành, do hành sanh thức... mới tạo ra thế giới đau khổ của loài người, nếu có minh th́ vô minh không có, không có vô minh th́ không có hành, không có hành th́ không có thức, không có thức th́ không có thế giới đau khổ của loài người, nhưng minh ở đây là đời sống phạm hạnh giới luật, đức Phật đă xác định như vậy, chứ không phải do học tập thông suốt Tam Tạng Thánh Điển là minh.

Muốn đập tan Mười Hai Nhân Duyên này th́ chúng ta phải có minh, muốn có minh th́ phải đoạn dứt sanh, muốn đoạn dứt sanh th́ phải sống đúng Phạm hạnh, muốn sống đúng Phạm hạnh th́ phải tŕ giới luật nghiêm túc, tŕ giới luật nghiêm túc tức là minh. Minh ở đây, không phải là trí tuệ Tam Minh. Minh ở đây, là tri kiến và giới luật Tri kiến ở đâu th́ giới luật ở đó, giới luật ở đâu th́ tri kiến ở đó. Giới luật làm thanh tịnh tri kiến, tri kiến làm thanh tịnh giới luật”.

Tu hành theo đạo Phật mà hiểu sai một ly th́ tu sai ngàn dặm. Các tu sĩ Phật giáo hiện giờ tu sai nên chẳng t́m thấy sự giải thoát, do đó luôn luôn sống trong dục lạc thế gian, sống rất giàu sang, chùa to Phật lớn, cuộc sống đầy đủ vật chất hơn người thế gian.

Hằng ngày ăn uống ngủ nghỉ phi thời, vui chơi nghe ca hát và tự ca hát. Vả lại, các Sư Thầy c̣n cất giữ tiền bạc, đó là duyên sanh chưa ĺa, duyên sanh chưa ĺa th́ h́nh sắc, đầu tṛn áo vuông của quư Thầy là chửi rủa Phật giáo. Chính các Thầy xuất gia, mà không ĺa duyên sanh. V́ thế, các Thầy đă vô t́nh tự ḿnh đă diệt Phật giáo, nhưng các Thầy có bao giờ biết.

TỨ NIỆM XỨ VÔ LẬU THÁNH ĐỊNH
VÀ TỨ THÁNH HIỆN TẠI AN LẠC TRÚ ĐỊNH

Cũng v́ đời sống thế gian không bỏ được, nên hầu hết tu sĩ Phật giáo khắp nơi trên thế giới, năm châu không thể nhập Tứ Niệm Xứ Vô Lậu Thánh Định và Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định được, họ chỉ c̣n lư thuyết kiến giải loanh quanh “Tứ Niệm Xứ” bằng một cái tên “Minh Sát Tuệ, Trái Tim Thiền Định, Bốn Lănh Vực Quán Niệm v.v..”

Tứ Niệm Xứ Vô Lậu Thánh Định là một loại Thiền định của đạo Phật, hành giả chuyên cần tu tập sẽ quét sạch lậu hoặc đưa tâm con người ly dục ly ác pháp, giải thoát hoàn toàn chấm dứt được sự tái sanh luân hồi. Nhưng quư vị, đừng hiểu theo tưởng giải của các nhà học giả mà tu hành chẳng đi đến đâu, họ lư luận đủ loại nhưng cuối cùng chỉ ức chế tâm chứ không có khắc phục tham ưu chút nào được.

Muốn thực hiện Thiền định này mà quư vị không chịu rời bỏ “duyên sanh” th́ làm sao thực hiện được. Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định cũng vậy, “duyên sanh” mà không ĺa bỏ th́ hành giả đừng nên tu tập đến nó, v́ có tu tập quư vị cũng chẳng đạt đến đâu, c̣n làm rối loạn thần kinh v́ ức chế tâm, chẳng ích lợi ǵ c̣n có tai hại hiểm nguy khác nữa, là rối loạn thần kinh điên khùng.

Tứ Niệm Xứ Vô Lậu Thánh Định và Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định. Từ khi đức Phật và các vị Thánh Tăng đă nhập diệt, lần lượt về sau không c̣n ai tu tập và thực hiện nhập được, nên được xem như hai loại Thiền định này đă mất gốc, không c̣n ai biết đường tu tập đúng pháp.

Nh́n cuộc sống của tu sĩ Phật giáo hiện giờ, phần đông sống trong danh lợi, ăn ngủ phi thời, cách thức ăn mặc và lối sống như vua chúa thời phong kiến, chùa xây cất như cung vàng điện ngọc to lớn đồ sộ vĩ đại. Thấy cách thức sống xác định tâm họ lậu hoặc c̣n đầy dẫy, ham thích cái này cái nọ tốt, sang, đẹp và chú trọng đến danh tiếng. V́ thế, Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định không có một vị nào nhập được, chỉ c̣n là những danh từ suông trong kinh sách Nguyên Thủy. Không c̣n có một vị nào có kinh nghiệm tu tập được.

Hầu hết, các tu sĩ Phật giáo Bắc Tông hiện giờ đang trụ khắp nơi trên thế giới đều cho Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định là Thiền định ngoại đạo, Thiền phàm phu, Thiền Tiểu Thừa, Nhị Thừa.

Theo quan niệm Phật giáo Đại Thừa hiện giờ họ cho Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định là Thiền ngoại đạo của các tôn giáo khác. Vậy, chúng ta nên t́m tôn giáo nào có bốn loại Thiền định này:

1- Yoga.

2- Hồi Giáo.

3- Bà La Môn Giáo.

4- Ấn Độ Giáo.

5- Thiên Chúa Giáo

6- Tin Lành Giáo.

7- Thiền Đông Độ.

8- Cao Đài Giáo.

9- Ḥa Hảo.

10- Bửu Sơn Kỳ Hương.

11- Lăo Tử.

12- Trang Tử.

13- Mặc Tử.

14- Khổng Giáo.

15- Lạt Ma Giáo.

16- Khí Công.

17- Nội Công.

18- Trường Sinh Học.

19- Khoa Học.

20- Lục Sư Ngoại Đạo v.v..

Trong thời đức Phật chỉ thấy trong kinh có ghi lại 62 luận thuyết của ngoại đạo mà không thấy nói đến Tứ Thánh Định.

Xét tận cùng, từ xưa đến nay các tôn giáo hiện có mặt trên thế gian này, trong kinh sách của họ không thấy có dạy tu tập “Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định” chỉ có kinh sách Phật giáo Nguyên Thủy mới có dạy. Nhưng xét cho kỹ, trước đức Phật th́ loại Thiền định này cũng đă có, nhưng là của ngoại đạo lối bốn Thiền ức chế tâm nên khi lúc c̣n bé, đức Phật ngồi dưới cội cây jam bu hướng tâm ly dục ly ác pháp.

Hiện giờ hầu hết các tu sĩ Phật giáo và ngoại đạo đều không có người nào nhập được Tứ Thánh Định.

Các nhà học giả xưa và nay nghiên cứu đến Thiền định này, họ chẳng triển khai nổi các pháp hành, chỉ dựa vào một số danh từ đă có sẵn trong kinh sách, giảng dạy không rơ ràng, lờ mờ như người đi đêm không đèn, không đuốc, nhất là cố tránh né lướt qua, không dám đụng đến nó.

Tại sao, chúng ta biết không có người nhập được Thiền định này?

1- Toàn bộ kinh sách hiện giờ đang được lưu hành dạy về Thiền định, không thấy có kinh sách nào dạy tu tập Thiền định này.

2- Rất ít kinh sách xưa cổ nói về bốn loại Thiền định này, dù có nói đến như kinh sách Phật giáo Nguyên Thủy, nhưng các nhà học giả không có tu hành và nhập được các loại định này nên cũng chỉ nói sơ sài qua loa, nói theo tưởng, không có kinh nghiệm, không có pháp hành cụ thể.

3- Khắp trên thế giới chưa có tin tức người nào nhập được Thiền định này.

4- Khắp trên thế giới chưa nghe có người nào nhập Tứ Thiền, tịnh chỉ hơi thở từ 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng cho đến 1 năm, 2 năm, 3 năm không ăn không uống mà không chết.

5- Nhập các loại định này, hơi thở và các hành trong thân đều phải ngưng nghỉ.

6- Sau khi nhập định xong từ 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng cho đến 1 năm, 2 năm, 3 năm, khi xuất định vẫn phục hồi sự sống lại như thường.

Đó là những loại Thiền định khó thấy ở thế gian này và khó tu tập hơn các loại Thiền định khác.

Người nào không chịu moi đầu động năo để nghiên cứu Tứ Thánh Định mà chỉ dựa vào Thiền định này của ngoại đạo, đó là những người vuốt đuôi kẻ khác chẳng có trí tuệ.

Qua sự sưu tầm và nghiên cứu nhiều loại kinh sách, chúng ta quả quyết xác định “Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Định và Tứ Niệm Xứ Vô Lậu Thánh Định” chỉ có Phật giáo mới có mà thôi và kinh sách Nguyên Thủy đă dạy rất kỹ từ những phương pháp nhỏ nhặt và dễ dàng nhất đến để thực hành cho có kết quả ngay liền cho đến những phương pháp khó nhất để tịnh chỉ hơi thở, làm chủ sự sống chết.

DỨT BỎ DANH LỢI TRONG ĐẠO

Khi đă khoác chiếc áo Tỳ kheo, chúng ta đă nhận được đời sống xuất gia, không thể như đời sống tại gia được, hoàn toàn phải đoạn trừ tâm luyến ái, viễn ly, xa ĺa, từ khước tâm danh, tâm lợi của đời sống thế gian. Không những chỉ đoạn trừ tâm danh lợi ở thế gian mà c̣n phải đoạn trừ tâm danh lợi trong Đạo. Danh lợi mang h́nh thức là Đạo nhưng thật sự nó là tâm danh lợi của con người.

Quư Thầy hăy đề pḥng cảnh giác, đừng quên rằng cái tâm gian xảo của quư Thầy sẽ lường gạt chính quư Thầy, khiến cho quư Thầy tưởng ḿnh không danh lợi, tưởng ḿnh tu chân chánh.

Quư Thầy đă lầm, nó sai khiến quư Thầy như một tên nô lệ, làm tất cả mọi cái ǵ nó muốn, chỉ cần nó che đậy mắt quư Thầy bằng những danh từ cao thượng, “độ chúng sanh, làm lợi ích Phật Pháp”. Thế là, quư Thầy đă an tâm, “v́ Phật Pháp, v́ chúng sanh”.

Quư Thầy nên nhớ kỹ từ khi mới vào chùa xuất gia tu hành, quư Thầy chỉ là một chú “Điệu” chẳng có danh có lợi ǵ cả. Ăn rồi học giáo lư, hàng ngày cúng bái tụng niệm.

Sau thời gian năm năm, mười năm đi làm giảng sư, làm trụ tŕ chùa này hoặc chùa kia. Bây giờ, danh và lợi làm mờ mắt quư vị. Quư vị suốt ngày hết làm Phật sự này đến làm Phật sự khác. Nói danh từ Phật sự nghe cho thanh cao chứ thật sự quư Thầy đang hành một cái nghề làm “tôn giáo” để cầu danh, mưu lợi cho bản thân quư Thầy.

Quư Thầy quên rồi, quư Thầy là những người từ bỏ danh lợi, bỏ tất cả t́nh thương của thế tục, để tu hành t́m đường giải thoát.

Thế mà, bây giờ quư Thầy lại chạy theo danh lợi, bằng những danh từ khác, danh từ cao thượng “Phật sự, Như Lai sứ giả, tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo”. Ai nghe đến những danh từ này cũng phải kính nể, quỳ lạy sát đất.

Quư Thầy có tự xét lại ḿnh không? Có buồn cười cho chính bản thân ḿnh không? Hàng ngày quư Thầy đi thuyết giảng dạy người tu cái này, cái kia mà quư Thầy lại tu không được những điều quư Thầy đă giảng dạy, quư Thầy nói láo đó. Quư Thầy có biết không?

Lời giảng dạy của quư Thầy rất tuyệt vời, ư nghĩa thâm sâu tưởng chừng quư Thầy là vị Phật sống. Nhưng xét kỹ cách thức sống của quư Thầy, người ta không khỏi ngạc nhiên, quư Thầy dạy một điều mà cuộc sống của quư Thầy lại sống một ngả.

Hồi mới vào tu, th́ nghèo xơ nghèo xác, đến chừng làm trụ tŕ, giảng sư, Thiền sư th́ quư Thầy bắt đầu giàu có, chùa dần dần xây dựng vĩ đại, đồ sộ, vật dụng thế gian không có một vật ǵ thiếu cả.

Mới vào tu quư Thầy cưỡi chiếc xe đạp cũ mèm, sau thời gian th́ có xe Honda rồi xe Dream, càng tu quư Thầy lại càng giàu ra nhiều, có cả ô tô thứ thượng hạng, ngoài đời người ta có cái ǵ th́ quư Thầy có cái nấy.

Ở đời, người ta t́m danh, t́m lợi rất khó, quư Thầy ở trong Đạo t́m danh t́m lợi rất dễ dàng. Ngoài đời, người ta làm lụng t́m ra miếng cơm manh áo rất là vất vả, khổ nhọc. Trong Đạo, quư Thầy ăn không ngồi rồi, học tập chơi đùa chẳng làm động móng tay, quần áo sang đẹp, bánh trái đồ ăn thực phẩm ăn không hết. V́ thế, người đi tu theo đạo Phật hiện giờ không t́m sự giải thoát mà chỉ nhắm vào danh và lợi.

Pháp môn của Phật giáo phát triển hiện giờ quư Thầy đang tu là pháp môn dạy tu danh lợi. Tại sao chúng ta biết như vậy?

Thấy cách thức sống của quư Thầy là thấu rơ, c̣n những pháp môn dạy tu giải thoát th́ quư Thầy đă ném qua một bên, không c̣n lưu ư đến nó nữa. Không phải quư Thầy không biết, nhưng v́ pháp môn đó sống không dục lạc.

Những pháp môn này dạy xả ly, bỏ danh, bỏ lợi, đời sống tu sĩ chẳng có ǵ, thiểu dục tri túc, khắc kỷ với ḿnh, sống ba y một bát. Đời sống giải thoát là như vậy, mới chính là người tu sĩ của đạo Phật.

Muốn giải thoát theo nghĩa của đạo Phật, mà không chịu vứt bỏ đời sống thế gian th́ đâu c̣n nghĩa lư ǵ giải thoát của đạo Phật nữa.

Người tu sĩ đạo Phật muốn thể hiện độ người tu giải thoát th́ phải thể hiện sự sống giải thoát tức là ly dục ly ác pháp, ly vật chất của cải tài sản tiền bạc châu báu thế gian, ĺa chùa to tháp lớn, ĺa danh ĺa lợi, ĺa nữ sắc, ĺa ăn ngon, mặc đẹp v.v.. Nếu sự sống mà ly được như vậy th́ đó là gương hạnh độ người tu tập. Lời nói thuyết giảng giáo lư kinh điển của đạo Phật đều phải phù hợp với cách sống của ḿnh không sai một mảy. Nếu sống ngược lại, th́ lời nói thuyết giảng kinh sách không đi đôi với cuộc sống của ḿnh, như vậy là lừa bịp, lường gạt người khác, sống trong mát ăn bát vàng, bằng mồ hôi nước mắt của người khác. Thật đáng phỉ nhổ và khinh bỉ. Đă không độ được người giải thoát mà c̣n làm hoen ố đạo Phật, khiến cho Phật Pháp suy đồi, chánh pháp ch́m mất. Người trí hiểu biết nh́n vào đạo Phật khinh dễ và nghi ngờ.

Này, quư Thầy! Bổn phận và trọng trách đối với đạo Phật, quư Thầy không thể làm ngơ làm điếc làm đui được. Quư Thầy đă từng học và đă nghiên cứu kinh sách của đạo Phật. Đă thông suốt lư của Đạo, đời sống của Đạo. Cớ sao quư Thầy lại sống, lại tu tập không đúng lời dạy của đức Phật. Đó là, một lỗi lầm rất lớn mà quư Thầy phải chịu trách nhiệm đối với đạo Phật và tín đồ.

Nếu không có Tạng Kinh A Hàm và Tạng Kinh Nikaya, th́ làm sao c̣n biết đâu là đạo Phật nữa; c̣n biết đâu là đường lối tu hành chân chánh của đạo Phật.

Muốn làm sáng tỏ đạo Phật; muốn cứu ḿnh ra khỏi cuộc đời trầm luân đau khổ và sanh tử luân hồi, không ǵ hơn là quư Thầy phải quay về đường tu tập chân chánh của đạo Phật mà hai Tạng Kinh này đă dạy rất rơ. Quư Thầy phải bỏ danh lợi trong Đạo mà đức Phật đă dạy: Có danh có lợi th́ nên ẩn bóng”, vượt ra khỏi những dây xích sắt danh và lợi của tôn giáo, chọn đời sống Phạm hạnh của người tu sĩ Phật giáo chân chánh, th́ đạo Phật chẳng làm ǵ nó sẽ sáng chói và huy hoàng.

Gương hạnh sống đó, ly dục ly ác pháp, giúp cho quư Thầy nhập được các định làm chủ được sự sống chết, chấm dứt được sự tái sanh luân hồi và c̣n giúp mọi người biết buông xả, dứt các điều ác, tăng trưởng các điều lành mang lại hạnh phúc, an vui cho ḿnh, cho người và xă hội.

SỐNG TRẦM LẶNG

Đời sống của người tu sĩ đạo Phật phải trầm lặng, cô đơn độc cư và ít nói chuyện v.v.. Nhất là phải giữ ǵn tâm ḿnh trong trạng thái yên lặng, bất động, không được nhôn nhao, lăng xăng nghĩ ngợi, lo lắng, suy tư và sợ hăi, giận hờn, buồn rầu, lo nghĩ v.v..

Bài kệ nhất dạ hiền, đức Phật đă dạy chúng ta tu tập như thế nào để sống một cuộc đời tu sĩ trầm lặng?

Ông A Nan nhớ lại lời huấn thị bài kệ “Nhất Dạ Hiền”, ông đă thực hiện trong một đêm không ngủ, sáng hôm sau ông dùng thần thông đi xuyên qua cửa đá vào hang Thất Liệp để kết tập kinh điển cùng với năm trăm vị A La Hán khác. Đây bài kệ:

NHẤT DẠ HIỀN

Quá khứ không truy t́m.

               Tương lai không ước vọng.

               Quá khứ đă qua rồi (đoạn tận).

               Tương lai lại chưa đến.

               Chỉ có pháp hiện tại.

               Chánh Niệm Tĩnh Giác đây.

               Tuệ tri quán vô lậu.

               Không động không rung chuyển.

Biết vậy nên tu tập.

Hôm nay nhiệt tâm làm.

Ai biết ngày mai chết.

Không ai điều đ́nh được.

Với bọn tử thần kia.

Nhiệt tâm quyết tu tập.

Đêm ngày không mỏi mệt.

Xứng gọi Nhất Dạ Hiền.

Luôn luôn sống trầm lặng”.

Là một tu sĩ Phật giáo, luôn luôn phải giữ tâm ḿnh không cho suy nghĩ những chuyện vu vơ, không cho lo lắng hối tiếc buồn phiền những chuyện đă qua, không cho giận, hờn, căm thù, bất toại nguyện những chuyện hiện tại. V́ có suy tư những chuyện đă qua cũng chẳng ích lợi ǵ mà ngược lại c̣n làm buồn phiền, đau khổ. Do chỗ buồn phiền, đau khổ, tâm ta không được thanh thản, an vui nên đức Phật mới dạy muốn giải thoát tâm hồn được thanh thản, an lạc th́ đừng nhớ, lo, nghĩ về những chuyện đă xảy rồi; nhớ, lo, nghĩ những chuyện đă qua rồi khiến tâm bất an, chẳng có ích lợi ǵ.

Đạo Phật dạy phải đoạn dứt những sự suy tư về chuyện quá khứ, v́ chuyện quá khứ đă qua rồi, có lo nghĩ có buồn phiền th́ cũng chẳng giải quyết ǵ được mà c̣n làm tâm ta đau khổ, u tối thêm, không c̣n sáng suốt đối với chuyện hiện tại.

Vậy, chúng ta nên lấy 2 câu kệ này làm pháp hướng nhắc tâm ḿnh để xa ĺa quá khứ.

“Quá khứ không truy t́m

 Quá khứ đă qua rồi”.          

C̣n t́m kiếm có ích lợi ǵ cho ta nữa, ta hăy xả đi, buông đi.

Quá khứ đă không t́m trở lại th́ vị lai đừng nuôi hy vọng ước mơ. V́ tương lai đến, đến không bao giờ đúng với sự mơ ước, thế là thất vọng, thất vọng là khổ đau.

Bởi v́, luật nhân quả đang chi phối từng phút, từng giây trong thời gian và không gian của sự vật. Nên sự mơ ước của con người c̣n tùy thuộc ở nhân quả của người đó, nên sự ước mơ không bao giờ đúng và đạt được.

Người thấu rơ luật nhân quả chẳng bao giờ mơ ước một điều ǵ về tương lai, chỉ lo giải quyết mọi việc đang xảy ra trong hiện tại, không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ chúng sanh, th́ vị lai không ước mơ nhưng vẫn thành sự tốt đẹp đến với ḿnh.

Đạo Phật lấy mốc thời gian hiện tại để tu tập, để không nhớ nghĩ về quá khứ và cũng không lo lắng về tương lai.

Vậy thời gian hiện tại ta tu tập cái ǵ? Như trong bài kệ đă dạy:

“Chánh Niệm Tĩnh Giác đây.

Tuệ tri quán Vô Lậu”.

Đây là hai loại Thiền định mà đức Phật đă dạy người mới tu, cần phải siêng năng tu tập để tâm không nhớ nghĩ về quá khứ và cũng không mơ ước về tương lai.

Chánh Niệm Tĩnh Giác đây tức là Chánh Niệm Tĩnh Giác Định. Cách tu tập định này, trên thân quán thân tu về hành tướng ngoại (Tứ Niệm Xứ) nghĩa là thân đi biết thân đi, thân đứng biết thân đứng, thân ngồi biết thân ngồi, thân mặc y mang bát biết thân mặc y mang bát, thân làm việc ǵ đều biết thân làm việc nấy. Tâm luôn chú ư theo dơi hành động của thân đang hoạt động, không để thất niệm đang làm, mất niệm đang làm là thất niệm, thất niệm là mất tĩnh giác, mất tĩnh giác tức là mê, mê c̣n gọi là quên. Cho nên, tu tập mà để thất niệm là tu sai, tu như vậy không có kết quả, tu suốt đời cũng chẳng có ích lợi ǵ.

Thất niệm có hai trạng thái khác xen vào:

1-       Quên mất niệm hành động của thân, xen vào những vọng tưởng, nghĩ ngợi chuyện thế gian (bị vọng niệm).

2-       Quên mất niệm hành động của thân (vô kư) hành động theo thói quen, không nhớ, hay quên.

3-       Quên mất niệm là quên pháp như lư tác ư, quên pháp như lư tác ư là ư thức ch́m th́ tưởng thức hoạt động, tưởng thức họat động th́ sẽ rơi vào Thiền tưởng.

Định Chánh Niệm Tĩnh Giác, người mới tu phải dùng pháp hướng dẫn tâm tỉnh thức, nếu không dùng pháp hướng th́ tâm dễ bị vọng tưởng và vô kư. Cái khó là ở chỗ tu tập nếu không có người có kinh nghiệm hướng dẫn th́ khó mà tu tập tỉnh thức an trú thời gian dài được.

Tuệ tri quán vô lậu tức là Định Vô Lậu. Định Vô Lậu này được thực hiện trên thân quán thân tu về nhân tướng (Tứ Niệm Xứ) để khắc phục tham ưu tức là ly dục ly ác pháp. Cách thức tu tập định này có ba cách:

1-       Ngồi kiết già thẳng lưng đặt niệm thân trước mặt quán xét tư duy, thấu suốt lư duyên khởi, lư duyên sanh, lư vô thường, khổ, không và vô ngă, lư bất tịnh, xấu xí, bẩn thỉu, hôi thúi, uế trược v.v..

   Khi quán xét thân xong, ngồi đặt niệm thọ, tâm và các pháp trước mặt cũng quán xét như vậy.

2-       Ngồi kiết già lưng thẳng đặt niệm thân trước mặt, quán xét tư duy về Nhân Quả, về Bốn Đại Duyên Hợp và Thập Nhị Nhân Duyên. Khi quán xét tư duy thân xong rồi đặt niệm thọ, tâm và các pháp cũng quán xét như vậy.

3-       Khi đang tu Định Chánh Niệm Tĩnh Giác bỗng có một niệm khác xen vào ta nên lấy niệm đó đặt trước mặt quán xét tư duy, tu Định Vô Lậu liền, để xả bỏ niệm ấy cho rốt ráo, không c̣n tới lui, chớ không được buông ngang v́ buông ngang niệm ấy sẽ sanh trở lại khiến cho tâm thất niệm.

Hai loại định: Chánh Niệm Tĩnh Giác và Định Vô Lậu sẽ hỗ trợ cho nhau, khi chúng ta biết câu hữu, chúng sẽ giúp chúng ta diệt ngă xả tâm ly dục ly ác pháp, nhờ thế tâm bất động trước các đối tượng, do vậy trong bài kệ có câu:

“Không động không rung chuyển”.

Nếu người siêng năng tu tập như vậy, tâm được thanh tịnh hoàn toàn, giống như cục đất không c̣n phiền năo, khổ đau, giận hờn, thương ghét nữa.

Hiểu được và biết rơ sự lợi ích của hai loại định này chúng ta cần phải siêng năng tu tập nhiều hơn, không bỏ phí th́ giờ. Kết quả mang đến tâm chúng ta được giải thoát, cuộc sống được an vui, thanh thản và vô sự, không có một vật ǵ, hoàn cảnh nào làm động tâm được, th́ trên đời này c̣n có ǵ hạnh phúc và sung sướng cho bằng.

Này, quư Thầy và các Phật tử, khi đă nhận được hai pháp Thiền định quư báu vô giá này, th́ trên đời không c̣n có vật ǵ quư báu hơn và sánh bằng được.

Biết nó quư báu vô giá như vậy, nên đức Phật khuyên chúng ta:

“Biết vậy nên tu tập.

Hôm nay nhiệt tâm làm.

Đêm ngày không mỏi mệt”.

Đó là một lời khuyên chơn thật của đức Phật, biết hai loại định này sẽ giải thoát tâm con người ra khỏi sông mê biển khổ. V́ thế, người tu sĩ phải thấy giá trị của nó to lớn và lợi ích biết dường bao.

Khi thấu suốt giá trị của hai pháp môn Thiền định này, th́ đừng để mất thời giờ vàng ngọc của ḿnh trôi qua quá uổng, dù là một phút cũng không t́m lại được. Phải nỗ lực siêng năng tu tập với một tâm thành nhiệt huyết, ngày đêm tinh tấn không biết mỏi mệt là ǵ.

Sự nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, không biếng trễ, không bỏ qua một giây phút nào, th́ kết quả sẽ nhanh chóng, giải thoát chỉ một đêm tu tập sẽ trở thành bậc Thánh Hiền.

“Xứng gọi nhất dạ hiền”.

Chỉ có một đêm tu tập không thất niệm, tâm hồn chúng ta sẽ trở thành trầm lặng, sống ít nói, tâm hồn không lăng xăng, không nhộn nhịp, sống độc cư an vui một ḿnh.

Qua bài kệ này, quư Thầy và các Phật tử đă nhận ra được những kinh nghiệm trong hai pháp môn Thiền định quư giá để thực hành cụ thể và kết quả sẽ măn nguyện.

Người cư sĩ tại gia cũng như người tu sĩ xuất gia đều dễ dàng tu tập hai pháp môn Thiền định này mà không sợ lạc Thiền, tẩu hỏa nhập ma hoặc rối loạn thần kinh, hoặc ông lên bà xuống như nhập đồng, nhập xác.

Kết quả của hai pháp môn Thiền định này nhanh chóng, ngay liền tức khắc, không phải chờ đợi.

Nếu ai tha thiết con đường tu tập của đạo Phật mà được hướng dẫn tu tập hai pháp môn này, như người đang chết đuối mà vớ được phao, như người bệnh sắp chết mà vớ được thần dược.

Người có hữu duyên gieo trồng chánh pháp của đạo Phật mới gặp được hai Thánh pháp này. Do thế, phải nỗ lực siêng năng tu hành ngày đêm không biết mỏi mệt để cứu ḿnh ra khỏi biển khổ, để đền đáp ơn Phật, ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha và ơn đàn na thí chủ, có như vậy mới xứng danh là người đệ tử của đức Phật, là những bậc Thánh Tăng, là những bậc Thánh cư sĩ, là những bậc chân tu sống trầm lặng tuyệt vời.

SANH ĐĂ TẬN PHẠM HẠNH MỚI XONG

Trong kinh Thập Nhị Nhân Duyên đức Phật đă dạy: “Người mới vào tu, phải tu tập đoạn dứt duyên “sanh”.

Kinh Thập Nhị Nhân Duyên có mười hai duyên như mắt xích sắt, duyên này có th́ duyên kia có, duyên này diệt th́ duyên kia diệt. Kinh này bắt đầu từ duyên “vô minh” như sau:

1- V́ vô minh không thấu rơ các pháp thế gian lầm chấp chúng là thật có nên hành động chạy theo tâm ham muốn, sanh ra các ác pháp, tạo biết bao nhiêu nghiệp khổ đau, do thế kinh dạy: “Vô minh sanh hành”.

2- Hành động theo ḷng ham muốn dục lạc chạy theo ái dục sanh ra thức, nên kinh dạy: “hành sanh thức”.

3- Thức, kết hợp noăn châu và tinh trùng sanh ra danh sắc nên kinh gọi: “thức sanh danh sắc”.

4- Danh sắc, là thân và tưởng của con người, lần lần phát triển đầy đủ: mắt, tai, mũi, miệng, thân và ư. Mắt, tai, mũi, miệng, thân và ư tiếp xúc với sáu trần bên ngoài nên kinh dạy: “Danh sắc sanh lục nhập”.

5- Lục nhập, có nghĩa là sáu căn và sáu trần. Sáu căn gồm có: Nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư. Sáu trần gồm có: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu trần tiếp xúc sáu căn, nên kinh dạy: “Lục nhập sanh ra xúc”.

6- Xúc, tạo ra sự va chạm êm ấm, ngọt bùi, khả hỷ, khả lạc nên kinh dạy: “Xúc sanh ra thọ”.

7- Thọ, sanh ra cảm giác thích thú, cảm mến, giận hờn, thương ghét nên kinh dạy “Thọ sanh ra ái”.

8- Ái, là yêu mến, thương mến, ưa thích người vật và vật chất nhà cửa nên từ đó chúng ta mới có (Hữu), nên kinh dạy: “Ái sanh ra hữu”.

9- Hữu là có vật này, vật kia như: thân tứ đại, thân ngũ uẩn, nhà cửa, của cải, tài sản, cha, mẹ, anh, chị, em, bà con... Khi đă có th́ mới ǵn giữ bảo vệ, nên kinh dạy: “Hữu sinh ra thủ”.

10- Thủ là giữ lại, nhờ có giữ ǵn bảo vệ của cải tài sản, thân bằng quyến thuộc nên mới có đời sống (sanh), cho nên kinh dạy: “Thủ sinh ra sanh”.

11- Sanh, phải nói đủ là sanh y, sanh là của cải, tài sản, vật chất, sự nghiệp, cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc, bạn bè v.v.. như trên đă nói. Do thế, khi tài sản của cải bị mất th́ sanh ra buồn rầu bịnh khổ và chết, cha mẹ vợ con chết cũng sanh ra buồn rầu, đau khổ phiền ḷng nên kinh dạy: “Sanh sanh ra ưu bi, sầu khổ, bệnh, chết”.

12- Ưu bi, sầu khổ, bệnh, chết là duyên cuối cùng của Mười Hai Duyên này, hợp lại thành thế giới khổ đau của kiếp người.

Sau khi quán xét Mười Hai Nhân Duyên, cái này có th́ cái kia có, cái này diệt th́ cái kia diệt.

Như đă nói ở trên, Mười Hai Nhân Duyên này hợp lại là thế giới đau khổ của con người thành h́nh. Mười Hai Nhân Duyên này ră tan là thế giới hết khổ đau, hoại diệt.

Muốn thoát khổ th́ Mười Hai Nhân Duyên này phải ră tan. Vậy, ră tan như thế nào và duyên nào ră trước?

Kinh điển phát triển Đại Thừa và Thiền Đông Độ nhắm vào duyên vô minh phải phá trước bằng “Minh”, minh tức là trí tuệ.

Muốn triển khai “Minh” trí tuệ, các nhà Đại thừa và Thiền Đông Độ dùng pháp hành ức chế niệm thiện niệm ác, cho tâm không niệm thiện niệm ác là định và do tâm định th́ phát tuệ (chẳng niệm thiện niệm ác bản lai diện mục hiện tiền), bản lai diện mục hiện tiền là Phật Tánh, mà Phật Tánh là tánh giác, tánh giác tức là trí tuệ. Do những pháp hành tu tập để triển khai trí tuệ như vậy. Họ đă lầm, không ngờ đường tu tập ấy lại khai mở tưởng tuệ. Khi tưởng tuệ được khai mở th́ lư luận của các nhà Đại thừa siêu việt tưởng, nên không tôn giáo nào tranh luận hơn được, nhất là lư Bát Nhă của Đại Thừa.

Do lư luận siêu việt tưởng Bát Nhă nên nó đă phá luôn Phật giáo chính gốc (vô khổ, tập, diệt, đạo). V́, Phật giáo Nguyên Thủy chính gốc, không có lư luận tranh hơn thua, không có lư luận siêu việt tưởng như vậy, chỉ dạy thẳng đời người là khổ, nguyên nhân sinh ra đau khổ, trạng thái tâm hết khổ đau và tám cách thức tu tập để diệt nguyên nhân sinh khổ. Những pháp hành này, cụ thể để mọi người ai cũng tu được, cũng thực hiện được sự giải thoát hết khổ như nhau.

V́ thế, kinh điển Nguyên Thủy nhắm vào duyên “sanh” để đoạn dứt nó, đoạn dứt nó th́ ưu bi, sầu khổ, bịnh, chết cũng đoạn dứt, nên kinh thường nhắc đi nhắc lại: “Sanh đă tận Phạm hạnh mới xong”.

Nếu một người tu tập quyết t́m đường giải thoát ra khỏi cuộc sống trần lao này, th́ phải buông xả như đức Phật và các bậc Thánh Tăng: không trang điểm làm đẹp, của cải tài sản bỏ sạch, cha mẹ, anh em, chị em, vợ con đều bỏ xuống hết như trong bài “Vượt thoát” đă dạy.

Đó là bứt tất cả những sợi dây xiềng xích đang trói rất chặt mọi người. Chỉ có những bậc chân tu thấy được nhân quả nên họ đă mạnh dạn dứt bỏ sạch để vượt thoát cảnh đời thế tục.

Sự dứt bỏ vượt thoát này, không phải ai cũng làm được, tuy nói rất dễ nhưng làm rất khó. Người tầm thường không thể làm được, trong kinh dạy rất đơn giản: “Sanh đă tận Phạm hạnh mới xong” hoặc “duyên sanh dứt th́ bệnh tử sầu khổ ưu bi dứt”. Những danh từ nghe th́ dễ dàng, nhưng đương đầu trước của cải, tài sản châu báu, ngọc ngà cùng cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, xả bỏ hay đoạn tận là một việc không phải dễ làm.

Nếu không đoạn tận, th́ không thể thực hiện được con đường giải thoát của đạo Phật.

Tại sao vậy?

Tại v́ đạo Phật gọi là đạo giải thoát mà không bứt được những sợi dây xiềng xích vô h́nh đó đang trói buộc th́ làm sao gọi là giải thoát được?

Hiện giờ, những người đang tu theo đạo Phật, đời chẳng muốn bỏ mà đạo lại muốn thêm, hai tay đều nắm hết. Do thế, cuộc sống tu hành Đời chẳng ra Đời, Đạo chẳng ra Đạo.

Hiện giờ, quư Thầy và các cư sĩ tu hành chẳng đến đâu, chỉ v́ tu theo kiểu đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo, rất uổng công cho một đời tu hành. Tu măi chỉ c̣n lấy Phật giáo làm danh làm lợi cho cuộc sống thế tục.

Tu theo Phật giáo, người tu hành phải đoạn dứt sanh y, có đoạn sanh y th́ tâm mới được giải thoát đau khổ. Tâm có được giải thoát đau khổ th́ tâm mới có thanh tịnh; tâm có thanh tịnh th́ tâm mới nhập Thiền định; Tâm nhập được Thiền định th́ tâm mới làm chủ được sự sống chết.

Người không đoạn dứt sanh y, không thể nào ly dục ly ác pháp và nhập Tứ Thánh Định được, do không ly dục ly ác pháp và nhập Tứ Thánh Định được, th́ không c̣n pháp nào tu tập làm chủ sanh tử và chấm dứt luân hồi.

Đường về xứ Phật không khó, nhưng khó cho những ai, không muốn dứt bỏ đời sống dục lạc và t́nh cảm thương mến ở thế gian.

Pháp môn tu hành của đạo Phật không có ǵ huyền bí và vĩ đại, chỉ cần hiểu rơ đời sống thế gian là khổ vô vàn và khổ muôn kiếp. Đời sống xuất thế gian là dứt khổ, hết khổ, chỉ c̣n một đời sống này nữa mà thôi, một đời sống tu theo đạo Phật hoàn toàn sẽ chấm dứt khổ.

BỐN THÁNH ĐỊNH

Quư vị muốn tu tập Thiền định của đạo Phật, th́ nên theo bản tóm lược này mà tu tập từng giai đoạn một để có kết quả như ư ḿnh. (Tứ Thánh Định).

I – SƠ THIỀN

1-       Tịnh chỉ ngôn ngữ.

2-       Sống đúng giới hạnh.

3-       Lấy giới bổn Patimôkha pḥng hộ sáu căn.

4-       Tu tập Chánh Niệm Tĩnh Giác Định.

5-       Tu tập Định Vô Lậu, diệt ngă xả tâm, quét sạch ngũ triền cái, đoạn dứt thất kiết sử tức là ly dục ly ác pháp.

6-       Thiểu dục tri túc.

II – NHỊ THIỀN

1-       Tu tập Định Niệm Hơi Thở.

2-       Định Diệt Tầm Giữ Tứ.

3-       Định Diệt Tầm Diệt Tứ.

4-       Hướng tâm tịnh chỉ tầm tứ.

5-       Tịnh chỉ tầm tứ.

III – TAM THIỀN

1-       Tu tập Định Niệm Hơi Thở khéo tác ư.

2-       Nương hơi thở hướng tâm, xả ly sáu loại hỷ tưởng đầu tiên: sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp tưởng (ly hỷ trú xả).

3-       Tỉnh thức trong giấc ngủ xả mộng tưởng.

4-       Dùng pháp hướng xả ly 18 loại hỷ tưởng.

IV – TỨ THIỀN

1-       Nương Định Niệm Hơi Thở khéo tác ư.

2-       Hướng tâm tịnh chỉ âm thanh.

3-       Hướng tâm tịnh chỉ các thọ.

4-       Hướng tâm tịnh chỉ hơi thở.

5-       Hướng tâm tịnh chỉ các hành và hơi thở.

6-       Tịnh chỉ các hành và hơi thở.

7-       Nương Định Niệm Hơi Thở khéo tác ư.

Trên đây là phần lư thuyết của bốn Thiền, c̣n phần thực hành để nhập Tứ Thiền Thánh Định th́ phải tu học có căn bản, từ thấp đến cao.

Đạo Phật là đạo đức nhân bản - nhân quả của loài người, nó là chân lư của con người, v́ thế con người không có hai ba chân lư mà duy nhất chỉ có một mà thôi. Do nó là chân lư, nên nó phải có chương tŕnh tu học như chương tŕnh giáo dục kiến thức ngoài đời.

Chúng ta ai cũng biết chương tŕnh tu học của đạo Phật chia làm tám lớp tu học gọi là Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo gồm có như sau: 1- Lớp Chánh kiến; 2- Lớp Chánh tư duy; 3- Lớp Chánh ngữ; 4- Lớp Chánh nghiệp; 5- Lớp Chánh mạng; 6- Lớp Chánh tinh tấn; 7- Lớp Chánh niệm; 8- Lớp Chánh định. Trong tám lớp tu học (Bát Chánh Đạo) có ba cấp (Giới, Định, Tuệ).

Cho nên, muốn nhập được bốn Thánh Định, th́ phải học từ lớp 1 đến lớp 8. C̣n nếu, ngay từ bốn Thánh Định mà tu tập như lư thuyết trên đây, th́ phải có người tu xong hướng dẫn th́ mới nhập được, c̣n nếu không có người hướng dẫn th́ chỉ tu chơi, chứ không bao giờ nhập được.

Thưa các bạn! Không phải Tứ Thánh Định là một thứ Thiền định tu hành khó khăn như các bạn tưởng. Đức Phật đă từng dạy: “Với tâm định tỉnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng nhập bốn Thiền không có khó khăn, không có mệt nhọc”.

Theo kinh nghiệm bản thân của chúng tôi th́ giới luật phải nghiêm chỉnh, muốn cho giới luật được nghiêm chỉnh th́ phải tu tập Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, trong Tứ Chánh Cần có các pháp cần tu tập. Đó là Định Niệm Hơi Thở, Định Vô Lậu, Định Sáng Suốt và Định Chánh Niệm Tĩnh Giác. Trong Tứ Niệm Xứ có các pháp cần tu tập. Đó là Tứ Niệm Xứ tu tập trên Tứ Niệm Xứ, pháp Thân Hành Niệm. Pháp môn Thân Hành Niệm là pháp môn cuối cùng của lớp học Chánh niệm. Kết quả của pháp môn này, là lần lượt bảy năng lực Giác Chi xuất hiện, khi giác chi cuối cùng xuất hiện th́ chúng ta đă hoàn thành Tứ Như Ư Túc. Khi Tứ Như Ư Túc đă có, th́ Tứ Thánh Định nhập vào không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức.

Nếu chúng ta tu tập như vậy, th́ chắc chắn sẽ làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi một cách không có khó khăn, không có mệt nhọc. Nhưng dù sao các bạn cũng nên nhớ lời Phật dạy trong kinh Ước Nguyện: “Muốn nhập bốn Thánh Định và thực hiện Tam Minh th́ giới luật phải sống nghiêm chỉnh, không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào th́ Bốn Thánh Định và Tam Minh sẽ thực hiện không có khó khăn, không có mệt nhọc”.

Theo lời Phật dạy trên đây, các bạn đừng lo không nhập được bốn Thánh Định và Tam Minh, chỉ ngại các bạn sống không sống đúng giới luật, chứ sống đúng giới luật th́ không có khó khăn đâu các bạn ạ! Hăy bền chí tiến lên các bạn ạ! Con đường giải thoát đang chờ bạn ở phía trước.

 

CHƯƠNG III

HỎI ĐẠO

 

 

NHIỆT TÂM

Câu hỏi của Hải Tâm

Hỏi: Kính bạch Thầy! Nếu không có nghị lực, dứt khoát, từ bỏ th́ tu Định Vô Lậu và tu tập Pháp Hướng Tâm, theo sự nhận xét của con trong sự tu tập th́ con thấy cũng không có hiệu quả, có phải vậy không thưa Thầy?

Đáp: Con đường tu theo đạo Phật nếu không có quyết tâm dứt khoát từ bỏ, nhất là thiếu nghị lực th́ không thể nào tu Định Vô Lậu và dùng pháp Hướng Tâm có hiệu quả được. Người ta biết thuốc lá, thuốc phiện và rượu gây bệnh tật, tai hại cho cơ thể, nhưng không quyết tâm dứt khoát từ bỏ th́ vẫn phải chịu bệnh nghiện và con người luôn luôn ương gàn như một con thú vật, họ không biết đạo đức là ǵ.

 Nhiệt tâm là một điều quan trọng hết sức cho bước đường tu tập xả tâm, nếu không có nhiệt tâm th́ nhất định không bao giờ có xả tâm được.

Định Vô Lậu là một danh từ nếu chúng ta chỉ dùng danh từ để quán xét và nói suông th́ chẳng có nghĩa ǵ là vô lậu. Nói vô lậu tức là nói không c̣n đau khổ, nói không c̣n đau khổ tức là nói không c̣n chướng ngại pháp trong tâm, nói chướng ngại pháp trong tâm tức là nói ác pháp.

Do đó, đức Phật dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp” là để thoát khổ, nếu người không có nhiệt tâm ngăn ác diệt ác, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp th́ khó mà giải thoát được.

Bởi, nhiệt tâm là một việc làm tích cực hết sức của một người quyết chí đi t́m đường giải thoát, nếu người quyết chí đi t́m đường giải thoát mà không có nhiệt tâm th́ sự tu hành cũng chỉ hoài công vô ích mà thôi.

Muốn bỏ một điều ác nào, th́ chúng ta phải thông suốt điều ác ấy. Vậy, phải thông suốt như thế nào?

-       Thứ nhất, là phải thông suốt lư nhân quả thiện và ác.

-       Thứ hai, là phải thông suốt lư duyên hợp.

-       Thứ ba, là phải thông suốt lư các pháp vô thường, khổ, vô ngă.

-       Thứ tư, phải thông suốt Bát Chánh Đạo, tức là tám lớp tu tập để được giải thoát như:

Lớp 1: Chánh Kiến.

Lớp 2: Chánh Tư Duy.

Lớp 3: Chánh Ngữ.

Lớp 4: Chánh Nghiệp.

Lớp 5: Chánh Mạng.

Lớp 6: Chánh Tinh Tấn.

Lớp 7: Chánh Niệm.

Lớp 8: Chánh Định.

-       Thứ năm, phải thông suốt ba lậu như: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.

-       Thứ sáu, phải thông suốt Ngũ triền cái và Thất kiết sử.

-       Thứ bảy, phải thông suốt Năm hạ phần kiết sử và Năm thượng phần kiết sử.

-       Thứ tám, phải thông suốt Thập thiện và Thập ác.

-       Thứ chín, phải thông suốt bốn loại định: Định Sáng Suốt, Định Niệm Hơi Thở, Định Vô Lậu và Định Chánh Niệm Tĩnh Giác. 

-       Thứ mười, phải thông suốt Tứ Thánh Định.

-       Thứ mười một, phải thông suốt pháp Như lư tác ư và pháp Tác ư.

-       Thứ mười hai, phải thông suốt phóng tâm và phóng dật.

Trong khi đă thông suốt 12 pháp môn này, mà thiếu nhiệt tâm dứt bỏ tu hành th́ trở thành một vị giảng sư, vị giảng sư là người nói được, chứ không làm được, người nói được mà chưa làm được là người nói láo. Người nói láo bằng thuyết giảng là người lừa đảo người khác bằng kinh sách.

Vốn đạo Phật không phải là một tôn giáo nói láo, nên khi đă thông suốt các pháp th́ phải nỗ lực xả bỏ, ly tham đoạn diệt ác pháp cho chính ḿnh, để được ra khỏi cuộc đời đầy khổ đau, chứ không phải thông suốt lư đạo để đem ra dạy đời bằng những lư thuyết suông trong khi ḿnh tu tập chẳng ra ǵ mà lại dạy người tu th́ hóa ra lừa đảo người. Đừng dùng những ngôn từ trong kinh phát triển để che mắt thiên hạ “Y pháp bất y nhân”, có nghĩa là y nơi pháp mà tu hành, c̣n đừng y vào các Thầy, v́ các Thầy tuy dạy như vậy mà chưa có tu hành được như trong kinh đă dạy.

Đối với con đường tu hành theo đạo Phật, nếu không có nhiệt tâm nồng cháy quyết dứt bỏ những chướng ngại pháp trong tâm, như những lời dạy của đức Phật trong thời khóa tu tập lúc đức Phật c̣n tại thế th́ không bao giờ làm chủ được sanh, già, bệnh, chết, nếu không có nhiệt tâm nồng cháy sửa đổi những lỗi lầm của ḿnh trong những thói hư tật xấu th́ chẳng bao giờ trở thành những con người tốt trong xă hội được. Những con người có đạo đức, nếu không có nhiệt tâm nồng cháy ly dục ly ác pháp, sửa đổi tánh hư tật xấu th́ không bao giờ có ly dục ly ác pháp được. Không ly dục ly ác pháp, th́ không bao giờ nhập được Thiền định, nếu không nhập được Thiền định th́ không bao giờ thực hiện được Tam Minh, nếu không thực hiện được Tam Minh th́ không bao giờ chấm dứt tái sanh luân hồi.

Xem thế, chúng ta mới thấy nhiệt tâm là một điều quan trọng hết sức trong việc tu hành theo đạo Phật, v́ có nhiệt tâm mới có giải thoát.

Chúng ta biết, có nhiệt tâm mới có nghị lực để chiến đấu với nội tâm của ḿnh, không nhiệt tâm th́ không nghị lực, người không có nghị lực làm việc ǵ, người ấy đều gặp thất bại, huống là công việc tu hành th́ lại c̣n thất bại nặng nề hơn.

Cho nên, người tu Định Vô Lậu cũng như sử dụng pháp Hướng Tâm mà không có nhiệt tâm dứt khoát từ bỏ, th́ sự tu tập chỉ có hoài công vô ích và uổng phí một đời tu hành, chẳng bao giờ có giải thoát đối với những người này.

Theo sự nhận xét của con, trong sự tu tập của chính ḿnh, th́ con đă rút ra được những kinh nghiệm bản thân, nếu không có nhiệt tâm xả bỏ th́ sự tu tập cũng chỉ hoài công vô ích và uổng phí một đời tu hành chẳng bao giờ có giải thoát. Với những ai tu chơi th́ chẳng bao giờ có nhiệt tâm, không có nhiệt tâm th́ đừng nên tu theo đạo Phật đă chẳng ích lợi cho ḿnh mà c̣n hại đạo Phật thêm, khiến cho người đời khinh chê và phỉ báng v́ phạm giới cấm của đức Phật.

Theo sự nhận xét của con trong sự tu tập của chính ḿnh, th́ con đă hiểu biết được những kinh nghiệm bản thân, “nếu không có nhiệt tâm xả bỏ th́ sự tu tập không có hiệu quả”.

Đúng vậy! Đúng vậy! Lời nói này là cả một kinh nghiệm bản thân. Nếu trên đường tu tập mà ai không có nhiệt tâm xả bỏ xa ĺa ác pháp và ḷng ham muốn của ḿnh, th́ kết quả chẳng ra ǵ như trên đă dạy.

Nếu một người tu hành theo đạo Phật mà sống không đúng Phạm hạnh của đạo Phật, th́ người ấy không bao giờ có nhiệt tâm với sự tu tập của ḿnh. Người có nhiệt tâm, là người sống đúng giới luật Phạm hạnh.

Nếu tu tập mà không có kết quả, th́ sự nhiệt tâm sẽ mất dần và cuối cùng, ḷng tha thiết nhiệt tâm tu hành giải thoát không c̣n nữa.

Bởi vậy, kẻ nào tu sai, nhiệt tâm sẽ bị mất, nhiệt tâm mất th́ nghị lực cũng không c̣n, tu như vậy chỉ mang tiếng tu mà thôi.

Đây là một vấn đề quan trọng trong sự tu hành, quư Thầy và quư Phật tử phải bảo vệ và giữ ǵn nhiệt tâm của ḿnh, đừng nên để nó mất, nó mất đi cuộc đời tu hành của quư vị sẽ trở thành đen tối và âm u.

Người tu hành theo đạo Phật nhiệt tâm là hàng đầu của người xuất gia, nó sẽ giúp cho quư vị tu tập đến nơi đến chốn, quư vị nên nhớ kỹ và khắc ghi măi trong ḷng hai chữ “NHIỆT TÂM”. Nhiệt tâm c̣n là c̣n sự tích cực, nhiệt tâm mất là tiêu cực đến.

PHÁP MÔN DẪN TÂM

Hỏi: Kính bạch Thầy! Pháp Hướng Tâm - Như Lư Tác Ư có lợi ích như thế nào? Xin Thầy giảng rơ cho chúng con được hiểu.

Đáp: Pháp Hướng Tâm có hai phần lợi ích và hiệu quả rất lớn cho những người tu tập theo đạo Phật:

1-       Giúp cho trí tuệ bén nhạy nhanh chóng trước các pháp ác.

2-       Giúp cho tâm tạo ra một năng lực siêu việt không thể nghĩ lường.

3-       Pháp hướng tâm là phương cách dẫn thân tâm vào chỗ giải thoát, ví như: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra, hoặc an tịnh tâm hành tôi biết tôi đưa tay ra, hoặc an tịnh tâm hành tôi biết tôi đưa tay vô”.

4-       Pháp hướng tâm c̣n gọi là pháp huấn luyện tâm.

Như lời đức Phật đă dạy trong Kinh và đă xác quyết pháp môn dẫn tâm là một bí quyết giúp chúng ta ly tham đoạn diệt mà không có pháp nào khác hơn: “Ta không thấy pháp nào khác, có nghĩa không c̣n pháp nào khác hơn là pháp “Như Lư Tác Ư”.

Để minh chứng lời dạy này, chúng tôi xin trích ra một vài đoạn kinh, trong kinh Tăng Chi Bộ: “Ta không thấy một pháp nào, này các Thầy Tỳ Kheo, đưa đến sân chưa sanh được sanh khởi và sân đă sanh được tăng trưởng rộng lớn, này các Tỳ Kheo, đó là đối ngại tướng trong tâm. Này các Thầy Tỳ Kheo, đối ngại tướng trong tâm, nếu không như lư tác ư sẽ đưa đến sân chưa sanh được sanh khởi và sân đă sanh được tăng trưởng rộng lớn”.

Ở đây, đức Phật đă xác định có tính cách quả quyết và nhất định một cách hùng hồn chỉ có pháp Như Lư Tác Ư làm sân đoạn diệt, nếu không có pháp Như Lư Tác Ư, th́ không có pháp nào đoạn diệt được tâm sân.

Nếu muốn trừ tâm nghi, mà ta không dùng pháp Như Lư Tác Ư, th́ sẽ không c̣n pháp nào diệt trừ tâm nghi được, nên đức Phật dạy: “Ta không thấy pháp nào khác, này các Thầy Tỳ Kheo, đưa đến nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi và nghi hoặc đă sanh được tăng trưởng rộng lớn, này các Thầy Tỳ Kheo, nếu không như lư tác ư. Do không như lư tác ư, này các Thầy Tỳ Kheo, nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi và nghi hoặc đă sanh được tăng trưởng rộng lớn”.

Tâm tham dục cũng vậy, nếu không có pháp dẫn tâm vào Đạo th́ khó mà ly tham đoạn dục; nếu không có pháp dẫn tâm vào Đạo th́ khó mà thành tựu được Đạo giải thoát; nếu không có pháp dẫn tâm vào Đạo th́ khó mà thành tựu Thiền định; nếu không có pháp dẫn tâm vào Đạo th́ khó mà thực hiện được Tam Minh.

Bởi thấy người tu Thiền định hiện giờ mà không có pháp dẫn tâm vào Đạo th́ biết họ tu tà Thiền, tà định không thể có quả giải thoát được. Do thế, ta mới biết được pháp môn Như Lư Tác Ư là một pháp môn có lợi ích rất lớn trên bước đường tu tập, nếu không có pháp môn này, con đường tu tập chỉ hoài công vô ích mà thôi.

Đối với những người muốn thực hiện ḷng từ, bi, hỷ, xả mà không có pháp Như Lư Tác Ư, th́ ḷng từ, bi, hỷ, xả cũng không bao giờ có được, để minh chứng điều này Đức Phật đă dạy trong Kinh Tăng Chi Bộ: “Này các Thầy Tỳ Kheo, như từ tâm giải thoát chưa sanh không sanh khởi và từ tâm không đi đến tu tập viên măn, này các Tỳ Kheo, không như lư tác ư. Nếu như lư tác ư, thời từ tâm chưa sanh được sanh khởi, và từ tâm sẽ được tu tập viên măn”.

Để minh chứng một đoạn kinh đức Phật đă dạy trong Kinh Tăng Chi Bộ trang 31: “Ta không thấy một pháp nào khác, này các Thầy Tỳ Kheo, do pháp ấy các giác chi chưa sanh không sanh khởi, và các giác chi chưa sanh không đi đến tu tập viên măn, này các Tỳ Kheo, như không như lư tác ư. Do không như lư tác ư, này các Thầy Tỳ Kheo, các giác chi chưa sanh không được sanh khởi, và các giác chi không đi đến tu tập viên măn”.

Qua những lời dạy của đức Phật trên đây, quư Thầy và quư Phật tử đă thấy rơ giá trị của pháp Như Lư Tác Ư, là một pháp môn có tầm cỡ vĩ đại cho đường tu tập của quư vị. Nếu không có pháp môn này, th́ không bao giờ quư vị ly tham đoạn diệt được tâm tham ưu của quư vị; nếu không có pháp môn này th́ giới luật của quư vị không thể sống nghiêm chỉnh được; nếu không có pháp môn này th́ Thiền định quư vị không thể nhập được và nếu không có pháp môn này th́ Tam Minh chỉ là một danh từ suông, một ảo mộng thần thông của loài người.

Tóm lại, không có pháp Như Lư Tác Ư th́ con đường tu tập của đạo Phật, chỉ là một giấc mộng mà thôi.

ĐẮM NHIỄM, KHÓ TIÊU, TÁN LOẠN

Hỏi: Kính thưa Thầy, xin Thầy giảng rơ cho con hiểu: “Đắm nhiễm, khó tiêu, tâm thường sanh tán loạn” như thế nào?

Đáp: Đắm nhiễm, khó tiêu, tán loạn là những động từ kép.

      Đắm nhiễm: có nghĩa là dính măi, không bỏ được, thành thói quen, nghiện ngập, nghiệp lực.

      Khó tiêu: có nghĩa là không dứt bỏ được, không xa ĺa được, không tiêu hóa được.

      Tán loạn: có nghĩa là tâm thường khởi niệm tưởng chuyện này đến chuyện khác không dứt, gọi là vọng tưởng lăng xăng.

“Đắm nhiễm khó tiêu tâm thường sanh tán loạn” nghĩa là, tâm dính mắc thành thói quen không bỏ được nên sinh ra nghĩ ngợi lung tung chuyện này đến chuyện khác, tùy miên trong mỗi niệm tâm khởi ham thích chạy theo vật chất thế gian như: tiền tài, danh lợi, sắc đẹp, ăn, ngủ phi thời, khiến cho người tu sĩ ham mê chùa to Phật lớn, trở thành những người phóng dật, chứ không c̣n là người tu sĩ giải thoát. Bởi, trước khi đắm nhiễm th́ phải có phóng tâm, phóng tâm mà không kịp thời xả bỏ, đoạn diệt tâm niệm ấy, th́ bắt đầu tâm phóng dật, tâm phóng dật mà không đoạn dứt th́ tâm đắm nhiễm.

Đức Phật dạy: “Đứng về phương diện nội phần, này các Tỳ Kheo, Ta không thấy một phần nào khác bất lợi như vậy, này các Thầy Tỳ Kheo, như phóng dật. Phóng dật đưa đến bất lợi lớn” (Tăng Chi Bộ Kinh Tập1, trang 36).

Khởi sự bằng sự phóng tâm, nếu chúng ta thiếu sự pḥng hộ và bảo vệ sáu căn th́ không có người nào là không có sự phóng tâm, cho nên người mới bắt đầu tu hành là phải lấy giới luật pḥng hộ sáu căn tức là pḥng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ư của ḿnh, nhất là pháp “Độc Cư” dùng để pḥng hộ sáu căn không cho tiếp xúc sáu trần th́ ít phóng tâm và dần dần sẽ không c̣n phóng tâm nữa, không c̣n phóng tâm nữa, th́ đó là tâm đă ly dục ly ác pháp, nếu không pḥng hộ sáu căn th́ tâm thường phóng tâm, tâm thường phóng tâm mà không ngăn ngừa th́ tâm phóng dật, tâm phóng dật mà không đoạn diệt th́ tâm đắm nhiễm, tâm đă đắm nhiễm th́ khó mà đoạn trừ, nếu đoạn trừ không được th́ tâm sanh ra tán loạn, tâm sanh ra tán loạn là tâm bất an, tâm bất an th́ tham, sân, si, mạn, nghi, đầy đủ và thất kiết sử khó bứt được, giống như con cá đă mắc lưới, mắc câu th́ chỉ c̣n chờ chết mà thôi.

Người tu hành mà c̣n đắm nhiễm, khó tiêu và tán loạn là người không thể nào sống độc cư được, họ thích nói chuyện, họ thích tranh luận, họ thích đi chơi, không bao giờ ở yên một chỗ.

Chúng ta không tu theo đạo Phật th́ thôi, mà đă tu theo đạo Phật th́ phải tu cho đúng pháp của Phật. Trước tiên, chúng ta phải lấy giới luật để pḥng hộ giữ tâm ḿnh, tức là chúng ta phải sống cho đúng Phạm hạnh, sống không đúng Phạm hạnh th́ tâm hay khởi niệm tức là phóng tâm, nếu không có pháp ngăn giữ phóng tâm, mà lấy giới luật ngăn ngừa và pḥng hộ tâm sẽ trở thành pháp môn ức chế tâm. Do đó, người tu sĩ chỉ biết có giới luật mà tu tập theo đạo Phật, th́ người tu sĩ ấy chấp giới, tức là lấy giới ức chế tâm và như vậy vô t́nh, người tu sĩ lấy giới ức chế tâm sẽ biến dạng giới luật, từ đó lư luận thêm thắt trong giới luật, để tránh né phạm giới, do đó, kinh sách hiện giờ lệch lạc ư giới luật và ư kinh của Phật. Kinh sách phát triển và Nguyên Thủy có nhiều điểm rất sai khác nhau mà các Tổ đă làm lệch lạc, cũng như các nhà sư Nam Tông hiện giờ, họ soạn viết ra một tập sách lấy tên là “Vấn Đề Ẩm Thực Trong Phật Giáo”. Của Jan Sanjivaputta viết, dịch ra Việt ngữ do Tỳ Kheo Thiện Minh. Theo lư luận của họ giống như con cọp lư luận ăn thịt người để nuốt cho trôi, c̣n lư luận theo các nhà tu hành Phật giáo phát triển th́ cũng giống như con ḅ lư luận để ăn cỏ cho đỡ nghẹn, do đó, khiến cho người sau tu hành phá giới, bẻ vụn giới và c̣n tạo thêm tội lỗi lén lút phá giới và chính như vậy là người tu sĩ chỉ c̣n có h́nh tướng tu hành, ngoài khéo che, khéo đậy trong sự đắm nhiễm của ḿnh. Và đă bị đắm nhiễm như vậy th́ xả bỏ rất khó như đă nói ở trên.

Một tu sĩ mà phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới là tu sĩ đă sống tà mạng, không c̣n là một tu sĩ chân chánh, những tu sĩ này là “những con sâu làm rầu nồi canh”.

Bởi, những tu sĩ này đă làm cho những tu sĩ chân chánh xấu hổ.

Hiện giờ, có nhiều người muốn theo đạo Phật t́m tu giải thoát, nhưng nh́n vào giới tu sĩ phá giới, phạm giới đang đắm nhiễm vật chất thế gian, đang sống trong chùa to Phật lớn có đầy đủ tiện nghi như những người giàu sang th́ họ chẳng dám bước chân vào cổng chùa. Nếu có người đă mạnh dạn bước vào chùa th́ lại càng thấy rơ ràng hơn và cuối cùng, tâm dù muốn tu hành mà chẳng biết nơi đâu để ḿnh t́m tu giải thoát.

Nh́n chung, các tôn giáo không riêng ǵ Phật giáo, phần đông mọi tu sĩ đều đắm nhiễm.

Sự làm thiện của những tu sĩ này đối với những người khác, là sự cám dỗ người khác để theo tôn giáo ḿnh, hoặc gây ảnh hưởng chánh trị với các nhà lănh đạo quốc gia, chứ không phải với tâm thiện thật ḷng. Họ làm thiện để được sanh lên Cực Lạc, Thiên Đường, chứ không phải làm thiện v́ thương người bất hạnh; họ làm thiện để dành hạnh phúc về sau cho họ; họ làm thiện để được sự khen tặng là nhà từ thiện.

Bởi, làm thiện như vậy là làm thiện đắm nhiễm. Có nhiều nhà từ thiện mà tai nạn xảy đến, họ bảo rằng chúng tôi làm thiện mà sao không được phước.

Làm thiện để cầu danh, cầu lợi; làm thiện để được tiếng khen; làm thiện để móc nối làm ăn bất lương; làm thiện như vậy th́ làm sao có phước được; làm thiện đó là làm thiện đắm nhiễm.

Chúng ta là những tu sĩ Phật giáo phải cố gắng tránh sự đắm nhiễm. Một người nghiện thuốc lá, rượu, cà-phê, thuốc phiện v.v.. là những người đắm nhiễm.

Một tu sĩ Phật giáo, mà cầm một điếu thuốc lá, uống một ly bia hay uống một tách cà-phê, chén trà đậm đặc là những tu sĩ đắm nhiễm. Những người tu sĩ đắm nhiễm này là những loài trùng bọ trong lông sư tử, họ chỉ c̣n biết lư luận để che đậy sự đắm nhiễm của ḿnh bằng những danh từ rất tuyệt mỹ: “Trà Đạo, rượu nghĩa”.

Một người bài bạc, đĩ thơa, điếm đàng là những người đắm nhiễm, những người này được xem là những người đồi trụy xấu xa của xă hội.

V́ đắm nhiễm những người này sanh ra trộm cắp, giết người, cướp của, làm cho cuộc sống của mọi người bất an, xă hội rối trật tự.

Người ta nói đến t́nh dục, tức là nói đến sự đắm nhiễm của nhục dục.

Một người nam và một người nữ gần nhau sanh ra t́nh dục, t́nh dục là sự đắm nhiễm rất khó bỏ cũng ví như thuốc lá, cà phê, rượu, thuốc phiện v.v..

T́nh dục là một sự khổ tuyệt cùng theo sau đó, nhất là người phụ nữ phải chịu bao nhiêu nỗi cay đắng, đau khổ của t́nh dục, gần như suốt đời của họ. Tục ngữ có câu: “Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một ḿnh”.

Đúng vậy, sau khi t́nh dục, bao nhiêu sự khổ đau đều đổ lên đầu của người đàn bà. Người ta bảo rằng không có sự đau khổ nào bằng sự đau bụng đẻ, thế mà người ta đắm nhiễm t́nh dục, người ta không thể bỏ được, dù biết sự khổ như cắt da cắt thịt, gần như chết đi sống lại nhưng người ta vẫn không bỏ được t́nh dục, đó là sự đau khổ về thể xác, chứ không phải hạnh phúc ǵ cả.

Khi sanh con ra họ c̣n tiếp tục chịu nhiều lao khổ; phải nuôi con cho lớn khôn; phải chịu hôi, chịu thối sự bài tiết của con; phải chịu cực nhọc khi con đau ốm; phải chịu nhọc nhằn nuôi con cho nên người, và c̣n biết bao nhiêu sự khổ khác nữa, cho đến khi họ đi vào ḷng đất.

T́nh dục là khổ như vậy, nhưng khi đă đắm nhiễm nó th́ hầu hết không có ai bỏ được. Nam nữ gặp nhau là ham thích liền. Biết t́nh dục là khổ mà vẫn chịu đi vào chỗ khổ đó, thật là điên đảo, ngu si.

Bởi vậy, người ta ca ngợi con người là một động vật thông minh, nhưng sự thật con người không thông minh mà con người là một động vật điên đảo, vô minh, tự tạo ra cho ḿnh biết bao nhiêu sự đau khổ để rồi phải gánh chịu sự khổ đau ấy từ kiếp này đến kiếp khác cũng chỉ v́ sự đắm nhiễm. Cho nên, lời Phật dạy: “Đắm nhiễm, khó tiêu, tán loạn” là vậy.

Bởi thế, người tu sĩ cũng như mọi người ở đời cần phải cảnh giác, đừng để thân tâm đắm nhiễm dù bất cứ một vật chất ǵ, nhỏ mọn đến đâu trong thế gian này, th́ chúng ta nên xem nó là một đối tượng khổ, do cảnh giác như vậy th́ thân tâm mới được an lạc và hạnh phúc.

ĐỊNH SÁNG SUỐT

Hỏi: Kính bạch Thầy! Xin Thầy chỉ dạy cho chúng con, cách thức tu Định Sáng Suốt như thế nào? Để chúng con tu hành cho đúng, nếu không chúng con sẽ tu sai th́ vừa mất th́ giờ và c̣n có thể đưa đến bịnh tật.

Đáp: Định Sáng Suốt gồm có hai cách tu tập:

1-       B́nh thường tâm không tán loạn, không thùy miên, không vô kư, không lờ mờ, không nửa tỉnh nửa mê, không bần thần lười biếng, th́ dùng pháp hướng khi đi kinh hành hoặc ngồi một chỗ, như lư tác ư: “Tâm phải sáng suốt như ban ngày, tâm phải thanh thản, tâm phải vô sự”.

2-       Khi tâm bị thùy miên (buồn ngủ), hôn trầm (ngủ gục), vô kư (mất tĩnh giác) hôn tịch (tỉnh tỉnh mê mê) bần thần, lười biếng. Không nên ngồi, nên đi kinh hành dùng pháp hướng tâm: “Tâm phải tỉnh thức, sáng suốt đêm như ngày”, “Tâm phải tỉnh táo như ban ngày”, “Tâm phải sáng suốt như ánh mặt trời”.

Định Sáng Suốt tuy trong kinh Nikaya đức Phật dạy phải dùng tưởng tâm sáng suốt như ban ngày, sáng suốt như mặt trời v.v.. nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi hiểu định này là một loại Thiền định thư giăn các cơ và thần kinh trong thân.

Khi dụng công tu tập nhiều th́ thân tâm mỏi mệt, sanh ra lười biếng mệt nhọc, u tối, trí óc không c̣n sáng suốt. Gặp trường hợp này, chúng ta phải tu Định Sáng Suốt.

Định Sáng Suốt tức là phương pháp thư giăn của đạo Phật, giúp chúng ta thư giăn thân tâm, khiến cho các cơ và tinh thần không c̣n căng thẳng, mỏi mệt.

Biết được công năng của định này, do đó khi mỗi thời gian tu tập một loại định nào xong, chúng ta đều dùng định này để thư giăn, nhờ đó thân tâm chúng ta liên tục tu tập không thấy mỏi mệt hôn trầm, thùy miên; càng tu càng tỉnh thức và càng sáng suốt; càng tu càng thích thú và ưa thích ham tu hơn; càng tu càng thấy tâm hồn thanh thản, an lạc và giải thoát rơ ràng.

Nếu người tu hành theo đạo Phật mà không biết loại Định Sáng Suốt này th́ dễ bị ức chế thân tâm và nếu ức chế thân tâm quá căng th́ dễ sanh ra bệnh tật, hoặc bị căng mặt, căng đầu có khi rối loạn thần kinh, sanh ra điên khùng mất trí.

Tóm lại, cách thức tu Định Sáng Suốt là dùng pháp Hướng Tâm thư giăn các cơ trong thân cũng như thư giăn thần kinh, khiến cho các cơ và thần kinh buông xuống không c̣n một chút xíu dụng công và ức chế nào, nên thấy cơ thể và tinh thần nhẹ nhàng thoải mái.

Khi thư giăn, chúng ta cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng an lạc, nghe rất thoải mái vô cùng.

Ở đây, quư Thầy và quư Phật tử nên dùng câu pháp hướng, ra lệnh cho các cơ và thần kinh thư giăn bằng cách hướng tâm. Khi cảm giác nghe cơ thể mệt nhọc, đầu óc căng thẳng th́ chúng ta nên ngồi nghỉ, hai chân duỗi thẳng dài ra, hai tay buông thỏng, thả nhẹ xuống, các cơ trong thân không được gồng, tinh thần không được suy nghĩ và tập trung nơi nào cả, chỉ để nó tự nhiên theo tự nhiên của nó. Khi cảm giác thân tâm buông thỏng chúng ta mới hướng tâm: “Toàn thân an tịnh, tôi biết tôi đang thư giăn” hoặc “Toàn tâm an tịnh, tôi biết tôi đang thư giăn”.

Xong, chúng ta để thân tâm tự nhiên thư giăn và an tịnh.

Kế tiếp, chúng ta lại hướng tâm nữa: “Các cơ trong thân thư giăn, buông xuống không được gồng phải nhẹ nhàng thanh thản, an lạc và vô sự”.

“Đầu óc phải thư giăn, không được tập trung chỗ nào hết, phải tự nhiên, hồn nhiên với vạn pháp”.

Đó là, những cách hướng tâm để thư giăn, quư vị nên nhớ mà tu tập đừng nên biếng trễ.

Định Sáng Suốt sẽ giúp cho quư vị mau chóng tĩnh giác, để luôn luôn quư vị ở trong chánh niệm, nhờ đó, quư vị mới ly tham đoạn ác pháp. Có ly tham đoạn ác pháp th́ quư vị mới nhập được Thiền định và Tam Minh.

Nếu không có Định Sáng Suốt th́ quư vị tu hành sẽ rơi vào pháp ức chế tâm, và chừng đó quư vị sẽ nhập định tưởng, quư vị sẽ rơi vào tà đạo giống như các Thiền sư Đông Độ.

Định Sáng Suốt là một loại định rất quư cho quư vị trên đường tu tập giải thoát, quư vị cần phải tu tập nhiều hơn để thấy được trạng thái thanh thản, vô sự và an lạc của loại định này.

TỈNH THỨC LỢI ÍCH G̀?

Hỏi: Kính thưa Thầy! Tu tập sức tỉnh thức có ích lợi như thế nào?

Đáp: Sức tỉnh thức có lợi ích rất lớn cho đường tu tập như:

1-       Có tỉnh thức mới sáng suốt sống được chánh niệm.

2-       Có tỉnh thức mới ở trong chánh niệm và chánh niệm mới hiện tiền.

3-       Có tỉnh thức mới phá được hôn trầm, thùy miên, vô kư, ngoan không.

4-       Có tỉnh thức mới tịnh chỉ ngôn ngữ.

5-       Có tỉnh thức mới thấy được nhân quả.

6-       Có tỉnh thức mới ly được ḷng ham muốn.

7-       Có tỉnh thức mới ly các ác pháp.

8-       Có tỉnh thức mới giữ tứ diệt tầm được.

9-       Có tỉnh thức mới tịnh chỉ tầm tứ.

10-  Có tỉnh thức mới xả được 18 loại hỷ tưởng.

11-  Có tỉnh thức mới xả được mộng tưởng.

12-  Có tỉnh thức mới xả được âm thanh.

13-  Có tỉnh thức mới tịnh chỉ được hơi thở, xả thọ và các hành.

14-  Có tỉnh thức mới tu Tứ Như Ư Túc.

15-  Có tỉnh thức mới hướng tâm đến Tam Minh.

Toàn bộ giáo tŕnh của đạo Phật, quan trọng nhất, là tập luyện tâm tỉnh thức, có được tâm tỉnh thức mới đạt được Niết Bàn cứu cánh giải thoát.

Tỉnh thức như thế nào?

Người tu tập theo đạo Phật, lúc mê biết ḿnh mê là tỉnh thức, lúc tỉnh biết ḿnh tỉnh là tỉnh thức.

Tâm ḿnh tham, biết tâm ḿnh tham là tỉnh thức; tâm ḿnh sân, biết tâm ḿnh sân là tỉnh thức; tâm ḿnh phiền năo, biết tâm ḿnh phiền năo là tỉnh thức; tâm ḿnh khởi niệm ác, biết tâm ḿnh khởi niệm ác là tỉnh thức; tâm ḿnh lo rầu, biết tâm ḿnh lo rầu là tỉnh thức.

Đi, ḿnh biết ḿnh đi là tỉnh thức.

Ăn, biết ḿnh đang ăn là tỉnh thức. Đó là bước đầu mấu chốt sự tu tập giải thoát của đạo Phật.

Tu tập tỉnh thức có nhiều phương cách khác nhau:

1-       Định Niệm Hơi Thở là phương cách tỉnh thức trong hơi thở, để ly tham đoạn diệt khắc phục tham ưu.

2-       Định Vô Lậu là phương cách tỉnh thức trong quán xét suy tư để xả bỏ dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.

3-       Định Sáng Suốt là phương cách tỉnh thức để phá hôn trầm, thùy miên, vô kư, ngoan không, cơ thể mệt nhọc và căng thẳng.

4-       Định Chánh Niệm Tĩnh Giác là phương cách tỉnh thức trong mọi hành động, để ngăn ác diệt ác pháp.

5-       Định Sơ Thiền là phương cách tỉnh thức ly dục ly ác pháp.

6-       Định Diệt Tầm Giữ Tứ là phương cách tỉnh thức trong tác ư hướng tâm khắc phục tham ưu.

7-       Định Diệt Tầm Diệt Tứ là phương cách tỉnh thức giữ tâm yên lặng, b