TẠO DUYÊN GIÁO HÓA CHÚNG SANH

 

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Qúy bạn đọc có thể thỉnh sách tại TU VIỆN CHƠN NHƯ.

Ấn bản điện tử được đăng tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

MỤC LỤC

Phần I

Lời nói đầu

Lời giới thiệu

Thay lời tựa

Lời bạt

Thầy Thông Lạc

Rời khỏi Chân Không

Những ngày sống bên Hòn Sơn

Trở về sống bên mẹ

Người chiến thắng giặc sinh tử

Tạo duyên giáo hóa chúng sanh

Chỉ có người tu chứng mới thống nhất Phật giáo

Thầy trò cảm thông

Giai đoạn chuyển biến Phật giáo từ tịnh tới thiền

Thiền tông không làm chủ sanh - già - bệnh - chết

Huynh đệ tu viện Thường Chiếu thưa hỏi

Phần II

Lời nói đầu

Trở về đạo Phật

Giới, định, tuệ

Mục đích giải thoát

Sự lợi ích của Phật giáo

Phạm hạnh

Giới luật là một vị thầy được đức Phật di chúc

Tăng ni xem nhẹ giới luật

Xả bỏ danh lợi

Chúng tôi không phải là Phật, Bồ tát, A la hán

Tổng hợp các pháp môn kiến giải

Chùa là nơi tu hành

Thầy chúng tôi hòa thượng Thích Thanh Từ

So sánh các loại thiền

Chuyển đổi nhân quả

Tâm vô tâm

Thiền sư có vợ

So sánh chánh định và tà định

Tiếng nói của hòa thượng Minh Châu về Phật giáo

Mục lục

 

 

PHẦN I

NGƯỜI CHIẾN THẮNG

(Trích 1 bài trong 40 bài của quyển tạp bút:

“CUỐI HÀNG DƯƠNG”

Tác giả: THÍCH CHÂN QUANG viết tại

THƯỜNG CHIẾU vào năm 1987)

 

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

images (2)

Khi tu tập làm chủ bốn sự đau khổ: sinh, già, bệnh, chết xong, chúng tôi có những ước nguyện muốn đem những kinh nghiệm tu hành này dựng lại Chánh pháp của đức Phật, để giúp cho mọi người tu tập không còn lọt vào tà pháp ngoại đạo. Đó cũng là làm sống lại con đường tu tập giải thoát mà từ lâu đã bị kinh sách Phát triển dìm mất. Chính đó là mục đích của chúng tôi và mọi người đang tu hành theo Phật giáo đều mong ước.

Chứng đạt chân lí của Phật giáo là chứng đạt tâm Bất Động, chớ không phải chứng đạt một cái gì khác lạ như mọi người đã từng nghĩ tưởng: nào là Phật tánh; nào là thần thông, phép thuật, tàng hình, biến hóa; nào là phóng hào quang, bay lên trời hay xuống địa ngục, v.v.. Mà chính tâm Bất Động là tâm vô lậu. Tâm vô lậu tức là chừng quả A La Hán.

Nhưng trước khi muốn chứng quả A La Hán thì chúng ta phải thường học và tập sống đạo đức nhân bản - nhân quả, luôn luôn không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh.

Đó là một bài tu học đầu tiên của đạo Phật. Một bài học thường đem lại lợi ích rất lớn cho loài người, khiến cho mọi người sống chung nhau biết tùy thuận mọi ý kiến, biết nhẫn nhục làm vui lòng mọi người mà không còn chống trái với nhau; biết bằng lòng mọi hoàn cảnh để tâm mình Bất Động. Nhưng khi chúng tôi bắt tay vào làm việc để dựng lại nền đạo đức này thì gặp biết bao nhiêu là gian nan, sóng gió, khiến chúng tôi quá mệt mỏi.

Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều: Đúng là chúng sanh chưa đủ duyên nên rất khó độ. Nhưng không lẽ thấy khó mà không giáo hóa chúng sanh thì rất tội nghiệp. Vậy chúng tôi phải làm sao bây giờ?

Khi chúng tôi tu chứng đạt được chân lí  nhìn lại duyên chúng sinh với mình thì thấy không có đủ duyên để độ họ chứng quả A La Hán. Ngày xưa, khi đức Phật tu xong Ngài cũng thấy chúng sinh khó độ, vì thế Ngài tạo duyên hóa độ chúng sinh thì chúng tôi bây giờ cũng làm như vậy. Phải hóa duyên độ chúng sinh, nhưng chúng tôi tự hỏi phải làm bằng cách nào?

Khi đặt ra câu hỏi như vậy thì chúng tôi tự trả lời: Phải tạo duyên mới chớ sao? Nhưng tạo duyên mới bằng cách như thế nào? Bắt đầu ở đâu và người nào?

Chúng tôi nhớ lại chỉ thấy có Hòa Thượng Thanh Từ là nơi có thể tạo duyên hóa độ chúng sinh dễ dàng. Vì Hòa Thượng là người có uy tín trong hàng tăng, ni và phật tử hiện giờ.

Nhờ khéo tạo duyên mới này mà quý phật tử mới biết đến Người Chiến Thắng và biết cách Trở Về Đạo Phật. Nhất là bộ sách “Tạo Duyên Hóa Độ Chúng Sinh” đã giúp cho quý phật tử nghiên cứu suy tìm mới biết rõ đâu là chánh pháp của Phật và đâu là tà pháp của ngoại đạo đang ẩn núp và mạo danh là giáo pháp của đức Phật. Bộ sách khiến cho mọi người đi tìm đường giải thoát không lầm lạc, không lấy tà pháp của Bà La Môn làm chánh pháp của Phật.

Nhìn quý sư thầy tụng kinh, niệm Phật, đọc thần chú, cầu siêu, cầu an, xin xâm, bói quẻ, xem ngày giờ tốt xấu cất nhà, dựng vợ gả chồng, ngày xưa khi thấy những việc làm này của tăng,ni  thì quý phật tử cho là đúng chánh pháp của Phật, nhưng ngày nay khi đã đọc bộ sách “Thế Giới Siêu Hình Không Có” thì quý phật tử biết ngay đó là tăng, ni đang sống trong mù quáng, mê tín do kinh sách Phật giáo phát triển đã truyền dạy dẫn dắt họ đi trong thế giới ảo tưởng khiến cho tiền mất tật mang, tốn hao công sức và tiền của một cách nhảm nhí.

Người Chiến Thắng và Trở Về Đạo Phật là những cuộc tiếp chuyện giữa Hòa Thượng Thanh Từ và thầy Thông Lạc về Phật pháp. Do nhân duyên này mà bộ sách Tạo Duyên Hóa Độ Chúng Sinh mới ra đời. Bộ sách ra đời mới mà làm sáng tỏ chánh pháp của Phật. Nhờ đó, quý phật tử mới biết đâu là chánh pháp của Phật; đâu là tà pháp của Bà La Môn.

Đó là chúng tôi cố tạo duyên để mọi người biết chánh pháp của Phật; để mọi người tu tập đừng sai. Nhưng phước chúng sinh quá mỏng, dù có biết nhưng vẫn thích cúng bái cầu tha lực hơn là tự lực.

 Phật pháp tu chứng đạo đâu phải khó khăn. Xưa, đức Phật tu tập có 49 ngày thành đạo, còn chúng tôi tuy mười năm tu tập sống độc cư trong thất, nhưng cuối cùng cũng chỉ có sáu tháng với sự quyết liệt, nhiệt tâm chúng tôi đã thành công một cách mỹ mãn.

Qua kinh nghiệm tu hành chúng tôi dạy và chỉ rõ ràng từ giác ngộ chân  đến phần sống buông xả ly dục ly ác pháp để giữ gìn tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự, rồi đến các pháp hành tu tập, pháp nào tu trước và pháp nào tu sau, thế mà mọi người tu tập cứ để tâm phóng dật. Tâm phóng dật là tâm sẽ phạm giới thường rong ruỗi chạy theo sáu trần. Khi tâm phạm giới thì làm sao tâm ly dục ly ác pháp được. Chúng tôi hết sức khuyên dạy cho những ai có duyên gặp chúng tôi. Nhưng những lời dạy của chúng tôi như gió thoảng ngoài tai, như nước chảy qua cầu, ít ai nghe lời chúng tôi dạy.

Dù sao chúng tôi cũng không nỡ bỏ chúng sinh, vì họ là những người đáng thương nên chúng tôi cũng thường luôn nhắc nhở “Bí quyết thành công sự giải thoát của Phật giáo là sống Độc Cư”. Độc cư tức là phòng hộ sáu căn. Thế mà, mọi người thường phá hạnh độc cư thích đi nói chuyện với người này người khác nên chúng tôi rất mỏi mệt.

Hôm nay, chúng tôi chỉnh và nhuận lại bộ sách Tạo Duyên Giáo Hóa Chúng Sinh, mong rằng ngày mai có nhiều người nhờ bộ sách này tìm ra cho mình một đường lối tu tập thích hợp và đúng với chánh pháp của Phật thì đó là chúng tôi đã mãn nguyện và cũng là đền đáp ơn đức Phật trong muôn một. Vì chúng tôi cũng biết rằng mình cũng sẽ không sống mãi trên đời này,rồi phải từ giả cuộc đời này ra đi mãi mãi.

Tuy biết rằng chúng tôi không có thì giờ, nhưng chúng tôi cũng dành thời gian để chỉnh đốn lại tập sách này cho hoàn chỉnh hơn. Vì trước kia thầy Chân Quang ghi tóm lược không được đầy đủ trong cuộc nói chuyện giữa Hòa Thượng Thanh Từ và chúng tôi.

Với việc làm này chúng tôi chỉ mong sao đem lại lợi ích cho mọi người khi họ đến với Phật giáo và cũng là đền đáp công ơn vô cùng vĩ đại của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Kính ghi

LỜI GIỚI THIỆU

bamboo (5) copy

Người Chiến Thắng là một câu chuyện được ghi lại trong một quá trình tu tập của Thầy Thông Lạc. Người đã để lại một kinh nghiệm bằng máu và nước mắt của mình. Từ lúc tu tập theo pháp môn Đại Thừa và Thiền Đông Độ nhưng cuối cùng Người buông bỏ xuống sạch các pháp môn này và chuyên cần tu tập pháp môn Tứ Niệm Xứ trong kinh sách Phật giáo nguyên thủy. Cuối cùng  Từ trên trạng thái tâm Bất Động của Tứ Niệm Xứ xuất hiện Tứ Thần Túc, nhờ đó Người nhập Tứ Thánh Định rất dễ dàng và thực hiện Tam Minh không có khó khăn.

 Dưới đây được Thầy Thông Lạc kể lại sự tu hành của mình trong giai đoạn tu tập pháp môn Đại Thừa và Thiền tông Trung Quốc do Hòa Thượng Thanh Từ hướng dẫn.

Được Hòa Thượng Thanh Từ dựa vào Tạng kinh Đại Thừa và công án Thiền tông Trung Quốc trắc nghiệm và ấn chứng cho thầy Thông Lạc chứng quả A La Hán.

Xin các bạn theo dõi sự trắc nghiệm của Hòa Thượng Thanh Từ và hỏi đáp của huynh đệ ở Thiền Viện Thường Chiếu, để thấy rõ con đường tu tập của Đại Thừa và Thiền tông chẳng đem đến sự giải thoát thật sự mà chỉ nhập vào Không Tưởng.

Nếu có đủ duyên chúng tôi sẽ xin Thầy Thông Lạc kể lại kinh nghiệm tu hành theo pháp môn Giới, Đinh, Tuệ của Phật giáo Nguyên Thủy, đó là đoạn đường cuối cùng tu tập theo Phật giáo mà Thầy Thông Lạc đã trở thành người chiến thắng hoàn toàn giặc sanh tử.

Được Thầy Thông Huyễn ghi lại như một máy thu băng có những danh từ không được chính xác, khiến cho các bạn khó hiểu, Chánh Quang sẽ cố gắng chú thích để làm sáng tỏ nghĩa trong công cuộc chiến thắng giặc vọng tưởng của Thầy Thông Lạc.

Kính ghi,

Chánh Quang

THAY LỜI TỰA

bamboo-leaves

Đọc Người Chiến Thắng các bạn mới thấy được Thầy Thông Lạc là một người tu pháp môn Thiền Đông Độ và Đại thừa thật rốt ráo, không thua gì các Tổ sư Trung Quốc tu tập ngày xưa.

Đọc Người Chiến Thắng các bạn mới thấy rõ Thầy Thông Lạc là người đã chứng được Thiền tông và được Hòa Thượng Thanh Từ, một thiền Sư danh tiếng trong thời đại của chúng ta, dựa vào công án Thiền tông và kinh sách Đại thừa ấn chứng.

Đọc Người Chiến Thắng chúng ta nhận xét lối ấn chứng của Hòa Thượng Thanh Từ giống như các Tổ Thiền tông Trung Quốc ngày xưa truyền tâm ấn cho các đệ tử của mình.

Đọc Người Chiến Thắng chúng ta mới thấy rõ từ công phu tu tập đến vấn đáp đối với các bạn trong Thiền Viện Thường Chiếu, chứng tỏ Thầy Thông Lạc rất thông hiểu Thiền tông và kinh sách Đại thừa một cách am tường,không có chỗ nào mà Thầy không thông suốt. Nhưng Thầy Thông Lạc tu hành chứng đắc như vậy, sao lại bác kinh sách Đại thừa và Thiền tông?

Nếu có đủ duyên các bạn hãy đọc Người Chiến Thắng phần hai. Phần hai này không do Thầy Chân Quang ghi lại mà do một người khác ghi lại.Người Chiến Thắng phần 2 được ra đời,chừng ấy các bạn mới thấu rõ pháp môn Thiền tông và kinh sách Đại thừa do bàn tay các Tổ sư Trung Quốc nhồi nắn bóp méo giáo lý chân chính của đức Phật,khiến con đường tu tập làm chủ sinh,già, bệnh, chết và chấm dứt sinh tử luân hồi của Phật giáo mất dấu.

Sau khi tu tập chứng được Thiền tông, Thầy Thông Lạc không tìm thấy sự làm chủ sinh, già, bệnh, chết, nên Thầy bỏ Thiền tông và kinh sách Đại thừa,cũng giống như đức Phật ngày xưa khi tu chứng nhập Không Vô Biên Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ xong mà không tìm thấy sự giải thoát,nên Ngài cũng bỏ những loại thiền tưởng này và bỏ luôn pháp tu khổ hạnh của Bà La Môn. Sau khi bỏ các pháp của ngoại đạo xong, đức Phật bắt đầu tu lại Bốn Thiền Hữu Sắc do Ngài tạo ra phương pháp tu tập ly dục ly bất thiện pháp cụ thể hơn.

Muốn tu tập nhập Sơ Thiền hữu sắc có kết quả tốt nên Ngài phải sáng tạo ra pháp môn Tứ Chánh Cần và Tứ Niệm Xứ và nhờ các pháp môn này, Ngài li dục li bất thiện pháp rất dễ dàng,chứng đạt tâm bất động không có khó khăn.Từ trong tâm Bất Động Bốn Thần Túc xuất hiện,nhờ đó Ngài nhập bốn thiền hữu sắc và thực hiện Tam Minh.Sau khi thực hiện Tam Minh, Ngài thấy biết lậu hoặc đã sạch, không còn một chút xíu nào cả.

Từ khi không tu theo Thiền Đông Độ nữa Thầy Thông Lạc bắt đầu tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần và khi thấy tâm Bất Động luôn tỉnh thức trên Tứ Niệm Xứ. Nhờ tu theo kinh sách Phật giáo Nguyên Thủy tâm Thầy ly dục ly ác pháp hoàn toàn.

Sau sáu tháng tu tập trên Tứ Niệm Xứ Thầy Thông Lạc là người chiến thắng giặc sinh tử, ca khúc khải hoàn.Chiến thắng giặc sinh tử,ca khúc khải hoàn là một sự thật.Là một sự thật thì phải có phương pháp tu tập hẳn hoi, phải có nội lực điều khiển làm chủ thân tâm,chứ không như Thiền tông chỉ biết buông vọng không theo.

Do trình bày sự tu chứng và làm chủ sự sống chết, Thầy Thông Lạc xin Hòa Thượng Thanh Từ nhập Niết Bàn bằng cách tịnh chỉ hơi thở theo Thiền thứ Tư trong Tứ Thánh Định, nên được Hòa Thượng Thanh Từ tuyên bố với Phật tử Thầy Thông Lạc chứng quả A La Hán.

Đến đây, chúng tôi xin chấm dứt lời tựa về Thầy Thông Lạc hôm nay. Xin các bạn hãy đọc phần hai Người Chiến Thắng trong pháp môn tu tập Thiền Phật Giáo Nguyên Thủy. Các bạn còn có dịp rút ra nhiều kinh nghiệm có giá trị rất cao về sự tu tập trên đường về xứ Phật theo đúng chánh pháp của Phật.

Kính ghi,

Mật Hạnh

 

LỜI BẠT

lotus2

Sau khi đọc lại “Người Chiến Thắng” của thầy Chân Quang ghi lại còn thiếu sót rất nhiều nên chúng tôi cần phải chỉnh đốn lại để cho người khi đọc về thầy Thông Lạc là phải hiểu đúng một sự thật. Khi chúng tôi tiếp chuyện với Hòa Thượng Thanh Từ thì chỉ có hai Thầy trò, nên giữa Thầy trò không có người thứ ba biết, vì thế thầy Chân Quang không thể ghi đầy đủ những lời đối đáp.

Sách mà viết sai là để lại cho đời những tai hại rất lớn, nhất là sách thuộc về tôn giáo lại còn tai hại cho nhiều thế hệ. Bởi tôn giáo là nhu cầu cần thiết cho tinh thần mọi người.

Kính thưa quý vị! Đừng háo danh khi tu hành chưa tới nơi tới chốn mà vội viết kinh sách là phải mang tội giết nhiều người, giết nhiều thế hệ như kinh sách phát triển. Quý vị có biết không?

Xin quý vị đừng múa bút viết sách theo kiến giải khi mình tu chưa xong, sách đó sẽ gây đau khổ cho loài người và tạo thêm tội ác cho mình. Những sách đó chẳng ích lợi gì cho ai cả, chỉ làm thỏa lòng danh lợi của mình.

Chúng tôi quyết chỉnh sửa lại cho đúng những gì chúng tôi gặp Hòa Thượng Thanh Từ và các bạn ở Thường Chiếu. Sau khi chỉnh sửa xong chúng tôi mong rằng Tập sách mỏng “Tạo Duyên Giáo Hóa Chúng Sinh” sẽ mang lại cho quý vị một sự hiểu biết về Phật giáo cụ thể hơn và không còn bị kinh sách phát triển Đại thừa lừa đảo, làm phí công, phí của rất nhiều của quý vị.

Nếu tập sách này có điều chi còn sơ sót chúng tôi chỉ mong quý vị bỏ qua và góp ý chỉ điểm những chỗ sai lầm ấy để kỳ tái bản tới được hoàn chỉnh hơn. Xin thành kính tri ân.

 Trưởng Lão Thích Thông Lạc

 Kính ghi

THẦY THÔNG LẠC (1983)

 

 

THẦY THÔNG LẠC

Thỉnh thoảng THẦY THÔNG LẠC lại về Thiền Viện Thường Chiếu thăm Sư phụ (HT Thanh Từ) và các huynh đệ. Sáng nay, chúng tôi lại trông thấy Thầy từ cuối hàng dương liễu cùng với cư sĩ THIỆN CHÍ (đệ tử của Thầy), anh ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG và một bà ƯU BÀ DI (Diệu Nhiên).

Dáng người Thầy nhỏ nhắn, cặp kính không che dấu được đôi mắt thanh thản, ung dung, chòm râu bạc lơ thơ dưới cằm. Thầy thường mặc chiếc áo tràng màu vàng khi đi đường và hôm nay cũng vậy. Những đệ tử của tu viện CHÂN KHÔNG và THƯỜNG CHIẾU ít ai không biết THẦY THÔNG LẠC.

Thầy là một trong mười thiền sinh đầu tiên của tu viện CHÂN KHÔNG.

Thầy được phân công làm hương đăng cho hợp với tuổi tác và vóc dáng. Kể từ khi Thầy được Sư phụ giảng cho nghe pháp môn tri vọng: Thầy như con đại tượng qua sông không quay lại, đã tinh tấn không phút giây lơi lỏng. Có lần Sư phụ tuyên bố: “Trong pháp hội có người đại tinh tấn”. Và lúc đó ai cũng ngầm hiểu người đó là Thầy.

image021

 

RỜI KHỎI CHÂN KHÔNG

Ha_long_bay

Thường thì ít ai biết chịu thua vọng tưởng, nhưng khi nó mời gọi những ý kiến hấp dẫn thì khó tránh khỏi vòng tay của nó.

Vì thế, THẦY THIỆN NĂNG  THIỆN ẤN bất ngờ đến rủ THẦY THÔNG LẠC rời CHÂN KHÔNG ra đi giáo hoá sau ba tháng vẻn vẹn học thiền qua những bài kinh Bát Nhã, cuốn Nguồn Thiền, Thiền Quang Sách Tấn, Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng và kinh Lăng Già Tâm Ấn.

Thầy Thông Lạc không chấp nhận ý kiến phóng dật chạy theo ngũ dục lạc (đi chu du chơi), mà lại mượn danh từ HÀNH ĐẠO để lừa mình, lừa người thật là tội lỗi vô cùng. Thầy Thông Lạc thẳng thắn nói theo tâm nguyện của mình:

˗       Tôi đã hứa với Sư phụ là sẽ ở đây  học thiền suốt ba năm. Đâu lẽ bây giờ lại ra đi thì lời hứa kia còn ra gì? Xin quý Thầy cứ đi, Thông Lạc xin ở lại đây tu học đến khi nào chứng đạo mới thôi.

THẦY THIỆN ẤN nói khích:

˗       Tôi biết mà - Thầy muốn ở lại để được khen là đại tinh tấn chứ gì.

Như một ngón nhất dương, chỉ điểm đúng vào yếu huyệt sợ danh dự của thầy THÔNG LẠC.

Sau một đêm suy tư không ngủ, nước mắt thầy THÔNG LẠC tràn trề. Ở thì không được vì lời nói của Thầy THIỆN ẤN quá cay độc, còn đi thì thương Thầy (HT THANH TỪ) và thân phận tu hành của mình, không biết rồi sẽ ra sao? Đi về đâu?

Đối với Hòa Thượng THANH TỪ thì Thầy trò mới gặp nhau trong ba tháng an cư năm 1970 mà tình nghĩa rất sâu đậm.

Sáng hôm sau THẦY THÔNG LẠC  trả lời đồng ý ra đi.

 Sự ra đi đột ngột ấy làm sao thầy THÔNG LẠC quên được tình nghĩa Thầy trò. Những buổi ngồi thiền chung với chúng trong thiền đường, Hòa Thượng cầm thiền bản đi tới đi lui tuần thiền, để xem xét và kiểm tra cách thức chúng ngồi thiền. Trong khi ấy thầy THÔNG LẠC ngồi thiền đau chân lắm, Hòa Thượng biết được sự đau đớn này nên lấy bàn tay để nhẹ sau lưng của thầy THÔNG LẠC. Khi bàn tay Hòa Thượng đặt vào sau lưng, thì thầy THÔNG LẠC cảm thấy mát lạnh, sự đau đớn ấy giảm đi rất nhiều. Tình thương bằng hành động ấy làm sao thầy THÔNG LẠC quên được; làm sao thầy THÔNG LẠC không khóc. Lời nói cay nghiệt của Thầy Thiện Ấn bắt buộc thầy Thông Lạc phải ra đi, phải rời Hòa Thượng, một vị Thầy mà trên đời này khó tìm được, tình thương của Hòa Thượng THANH TỪ như vậy thì lòng dạ nào không đau xót; thì lòng dạ nào không tan nát. Phải không các bạn? Thầy THÔNG LẠC khóc nhiều lắm nhưng có ai biết đâu. Cho nên, tối hôm đó ba người đến đảnh lễ Hòa thượng để sáng sớm hôm sau ra đi, thầy THÔNG LẠC khóc nức nở nghẹn ngào. Hòa thượng cũng không nói được lời nào, chỉ nhìn những người học trò thân thương của mình quá dại dột. Hòa thượng nhẹ nhàng nói qua hơi thở như một lời trách móc:

˗       Thầy sợ mấy chú nông nổi.

Hòa thượng chỉ nói được những lời ấy thôi, rồi im lặng. Trong bầu không khí vắng ngắt, không một tiếng động, trong sự chia lìa thương đau trước cảnh kẻ ở, người đi, thật là đau buồn tê tái, đứt từng đoạn ruột, nói làm sao hết nỗi thương đau này. Các bạn có biết không? Có cảm nhận được sự chia ly đau buồn này không?

 Trong tu viện chỉ có 10 huynh đệ mà bây giờ đi mất ba người làm sao mà không buồn, không rơi nước mắt được.

image021

 

NHỮNG NGÀY SỐNG TRÊN HÒN SƠN

DSC_0176

Ba người đã ra đi trong sự bất bình của huynh đệ và chính sư phụ cũng không vui.

Ba người xuống đến AN GIANG rồi qua RẠCH GIÁ ra biển đến HÒN SƠN chơi ba ngày lại trở về AN GIANG trú nơi tịnh xá NGỌC VÂN xã MỸ LUÔNG do sư ĐỊNH làm trụ trì. Chợt THẦY THÔNG LẠC nhuốm bệnh nặng, hai thầy kia bỏ đi sang núi CÔ TÔ, HÀ TIÊN chơi, nhưng lại nói đi hóa đạo.

Tịnh xá chỉ còn lại hai sư và thầy THÔNG LẠC, đó là SƯ DUYÊN và SƯ ĐỊNHSƯ DUYÊN săn sóc cho thầy Thông Lạc rất tận tình, thường đi xin Phật tử từng bát cháo, từng viên thuốc, từng ly nước. Thật là một tình nghĩa bạn đạo khó quên. Đến khi bệnh tình giảm, thầy THÔNG LẠC theo SƯ ĐỊNH về SÀI GÒN, sẵn thầy Thông Lạc về TRẢNG BÀNG thăm lại mẹ và em gái ít hôm. Thầy lại từ giã ra đi một mình một bóng trở lại ra HÒN SƠN - RẠCH GIÁ ngồi tu ngót gần một năm trong cái hang đá. Những thợ rừng thỉnh thoảng mang cơm gạo cúng dường Thầy, Thầy cảm thấy không tiện, nên tập ăn rau và lá cây rừng để sống.

Suốt thời gian sống trên đỉnh HÒN SƠN, trong hang núi Ma Thiên Lãnh bằng lá cây rừng và rau sà lách son trồng trong ao nước giữa hai tảng đá to lớn. Người Thầy xanh và gầy như que tăm.

Nhờ sống được như vậy Thầy tu tập dẹp sạch vọng tưởng, ngồi bất động suốt 3, 4 tiếng đồng hồ dễ dàng.

image021

 

TRỞ VỀ SỐNG BÊN MẸ

Tranh lang que Viet Nam 006

Những đêm khuya thanh vắng, tiếng tàu đánh cá ngoài khơi văng vẳng gợi lên lòng nhớ thương mẹ và em nơi quê nhà, trong khi đất nước còn bom cày, đạn xé từng tấc đất yêu thương, thầyTHÔNG LẠC tự hỏi:

˗       Không biết giờ này mẹ mình và em mình ra sao? Có tránh khỏi những làn tên mũi đạn hay không? Có còn bình an ở nơi đó hay không? Hay đã xiêu lạc nơi nào?

Bao nhiêu câu hỏi dồn dập trong đầu, không sao trả lời được. Bấy giờ, pháp tri vọng vô phương không dẹp được những loạn tưởng này. Thầy THÔNG LẠC xót xa thương mẹ và đứa em gái, trong khi tuổi còn học trò mà phải lăn xả vào đời buôn gánh bán bưng để nuôi mẹ. Mỗi lần em đi buôn bán thì mẹ ngồi tựa cửa trông em, nhớ tưởng cảnh ấy lòng Thầy tê tái thương mẹ, thương em vô cùng, phải chi thầy THÔNG LẠC có cánh thì Thầy sẽ bay về bên mẹ liền tức khắc. Thương em thân gái bé thơ mà phải chịu gian truân trong cảnh đất nước đang hồi chiến tranh quyết liệt. Khi nào thấy mặt em về đến nhà thì mẹ mới an tâm. Tội nghiệp mẹ và em lắm. Nghĩ đến đây, Thầy không cầm được những giọt nước mắt, không thể ngồi yên tu hành trên HÒN SƠN được mà chỉ mong được về bên mẹ, được núp dưới bóng mẹ như lúc còn bé thơ và sống như vậy mới an tâm tu hành, dù sống bên mẹ có gian khổ như thế nào thì mẹ con đồng chia sẻ nhau, Thầy an ủi mẹ, mẹ an ủi Thầy, Thầy an tâm tu hành, vì có mẹ có em, mẹ an tâm vì có hai con một bên.

Hôm sau, Thầy đón tàu về bên mẹ.

Khi trở về nhà Thầy nói với mẹ:

˗       Mẹ ráng nuôi con ngày một bữa để con được an tâm tu hành nghe mẹ! Cuộc đời của con chỉ còn biết tu mà thôi, con thương mẹ lắm, con không thể bỏ mẹ một mình ngồi tựa cửa trông em con.

Nghe thầy THÔNG LẠC nói như vậy mẹ Thầy không cầm được nước mắt, những giọt nước mắt rơi xuống nói lên lòng mẹ thương con vô cùng vô tận. Nhớ lại lời ca Y Vân: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”.

Thầy quay lại nói với em:

˗       Em ráng nuôi anh tu hành, anh về em phải cực nhọc nhiều hơn. Anh sẽ làm phụ em những gì anh làm được và anh sẽ tiết kiệm tối đa để em đỡ vất vả, nhất là em yên tâm nhà có anh bên mẹ và chăm sóc mẹ thay em.

Em Thầy nói:

˗       Thầy cứ an tâm tu tập, có mẹ lo cơm nước cho Thầy, còn em buôn bán đắp đổi qua ngày, Thầy đừng lo để mặc em.

image021

NGƯỜI CHIẾN THẮNG
GIẶC SINH TỬ

tretruc14-3-2

Thầy khép cửa thất lá lại, bắt đầu sống cuộc đời cô đơn và cô độc suốt gần mười năm liền. Người em gái buôn gánh bán bưng chắt mót từng đồng để nuôi mẹ, nuôi anh.

Mẹ Thầy lo nhiệm vụ hộ thất mang cơm xách nước cho Thầy qua khung lỗ nhỏ.

Thời gian lặng lẽ trôi qua mãi, những đĩa rau khoai lang luộc với chén nước tương hoặc nắm muối trắng bên cạnh tô cơm là những gì nuôi nấng chút sức lực còn lại để Thầy âm thầm chiến đấu với giặc sanh tử từ muôn kiếp.

Thầy nhớ văng vẳng bên tai lời của sư phụ (Hòa Thượng THANH TỪ): Phật pháp còn hiện hữu  thế gian bởi vì còn có người tu chứng.

Đúng vậy, nếu Phật pháp không có người tu chứng thì giáo pháp của ngoại đạo sẽ diệt mất Phật pháp. Bằng chứng cụ thể như hiện giờ kinh sách Đại thừa và kinh sách Thiền tông của Trung Quốc đã diệt mất Phật pháp ở nước này.

Vì sợ danh dự mà ra đi, nhưng lòng Thầy lúc nào cũng nhớ đến sư phụ: chỉ nguyện dốc hết sức tiến tu đền ơn sư phụ đã chỉ dạy đường lối tu hành quý báu, cũng là để cho Pháp môn Thiền tônghiện hữu ở mãi thế gian, để cho chúng sinh có nơi nương tựa từ thế hệ này đến thế hệ mai sau và mãi mãi.

Lúc mới dụng công Thầy cũng cố gắng biết vọng không theo, nhưng vọng tưởng chập chùng ngăn che cái biết không hiện tiền, vọng tưởng lừa gạt tuôn chảy mãi. Thầy tự thấy chưa đủ trình độ đi con đường thẳng tắp này nên lui lại áp dụng phương pháp đếm hơi thở. Sau khi đếm hơi thở thuần thục Thầy lại chuyển sang tùy tức, theo dõi hơi thở. Sau một thời gian chuyên chú tăng tiến, sức tỉnh giác đã mạnh Thầy mới trở lại phương pháp biết vọng không theo.

Hồi ở trên CHÂN KHÔNG, Sư phụ có đưa một tập sách trong Đại Tạng Kinh chữ Hán bảo THẦY THÔNG LẠC dịch, nhưng Thầy xin được giữ độn công phu, không trọng nghĩa giải.

Bây giờ ở trong thất kín cũng vậy, Thầy bỏ hết sách vở, một bề miên mật xoay về nội tâm tỉnh giác. Có những khi Thầy bắt chân lên ngồi liền thấy rõ cảnh vật ở làng xa xa, nhưng không chấp nhận, Thầy xả thiền đi kinh hành. Hôm thầy NHẬT QUANG về thăm quê có ghé thăm thầy THÔNG LẠC. Thầy THÔNG LẠC có hỏi thăm về sự việc này thầy NHẬT QUANG bảo đó là ngũ ấm ma. Khi thầy NHẬT QUANG về núi thuật lại cho Sư phụ, Sư phụ có viết một bức thư gửi cho thầy THÔNG LẠC, nhưng bức thư đó không đến.

Những tháng ngày tiếp nối lặng lẽ trôi qua, cuộc đời bên ngoài biến chuyển rộn ràng, chiến tranh khói lửa ngút ngàn. Đến năm 1975 thì hòa bình lập lại sau cuộc chiến thắng lớn lao của quân đội giải phóng. Cả nước đang nỗ lực góp sức xây dựng lại quê hương sau bao nhiêu năm chinh chiến. Hoàn cảnh lúc này có khó khăn vì mới bước đầu dựng lại nền kinh tế độc lập cho xứ sở và dĩ nhiên sinh hoạt Phật giáo cũng có phần ảnh hưởng.

Tu viện CHÂN KHÔNG chỉ còn vài thầy với Sư phụ, các thầy trẻ tuổi về mở mang canh tác ở THƯỜNG CHIẾU.

Nhưng trong chiếc thất lá đơn sơ này có một bóng người ngồi lặng lẽ, thản nhiên, không bận tâm về các việc khác. Người này đang còn bận phải lập một chiến công oanh liệt nhất là tự chiến thắng mình. Cuộc chiến này chưa ngã ngũ, những tên giặc vọng tưởng vi tế còn lẩn lút đâu đây.

THẦY THÔNG LẠC vẫn kiên trì, không chút lơi lỏng, từng giờ, từng phút, từng giây đều kỹ lưỡng tỉnh giác, không cho sơ hở. Khi ăn, lúc uống, khi đứng, lúc đi, khi ngồi thiền, lúc xả thiền đều miên mật chăm chú.

Một thời gian dài lâu trôi qua như vậy. Một hôm Thầy chợt nghĩ: “Chư Phật thành đạo đều do sức đại hùng, đại lực, bây giờ mình phải khởi phát đại hùng để dứt hẳn vọng tưởng vi tế này”.

Thầy bắt chân lên bồ đoàn ngay thẳng tập trung sức tỉnh giác tột độ, cột trói tâm vào hơi thở, vào mắt, vào tai. Quả nhiên dòng vọng tưởng vi tế bị cột lại cứng ngắt. Thầy dần dần cảm thấy thân thể bị đau đớn quá đỗi, nhưng như con đại tượng đã qua sông không ngó lại, Thầy vẫn chịu đựng để mong dứt sạch vọng tưởng cuối cùng.

Khi Thầy thấy dễ chịu và xả thiền thì đã qua mất một đêm không hay, sáng mẹ Thầy mang cơm vào, Thầy nói: “Bây giờ con ngồi thiền, nếu mẹ thấy thân con còn ấm thì thôi, còn nếu thấy thân con đã lạnh thì gọi bà con lại chôn con”.

Mẹ Thầy ngỡ ngàng nhìn Thầy rồi lui ra, không tin những điều vừa nghe được. Nhưng những giọt nước mắt của mẹ Thầy rơi xuống, không dấu được Thầy. Thầy thương mẹ lắm, nước mắt của Thầy cũng chảy dài trên má. Thầy tự hứa với lòng mình: “Phải ráng tu để đền đáp ơn mẹ, ơn nhiều người”.

Thầy lại lên bồ đoàn, lại tập trung sức tỉnh giác tột độ như vậy và cảm giác đau đớn lại khởi lên. Vẫn ý chí ngất trời xanh, vẫn tâm nguyện kiên cường như núi đá. Thầy tiếp tục ngồi không lay động. Người mẹ già mỗi ngày mang cơm vào rồi lại mang ra, vì Thầy ngồi mãi không xả. Bà lo sợ, nước mắt lại tuôn rơi, sợ Thầy chết mất, nên đến gần quan sát thì thấy vẫn còn hơi nóng nơi thân của Thầy, nên yên tâm đi ra, nhưng không sao giữ được những giọt nước mắt thương con, bà thương con lắm, tu hành sao khổ đến thế!

 Đến ngày thứ bảy thì Thầy xả thiền, bà mừng rỡ mang cơm vào cho Thầy định hỏi thăm vài điều, nhưng thấy Thầy nhìn bà như nhìn một người xa lạ và không nói câu nào, không bảo đói, không nói khát chỉ ngồi trơ trơ như người từ một thế giới nào lạc vào đây vậy.

Lúc này thầy THÔNG LẠC đang ở trong cái đại tử của nhà thiền, mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe nhưng mọi suy nghĩ phân biệt không khởi, có cơm thì ăn, có nước thì uống, chứ không còn thấy đói khát gì cả. Khi ngồi thiền, khi xả thiền đều từ thói quen của tay chân tự động, chứ không tác ý. Thời gian đại tử này kéo dài gần hai tháng.

Một hôm Thầy bắt chân ngồi sát bàn Phật mà không biết, đến khi xả thiền kéo chân ra đụng vào góc bàn Phật liền đó tan vỡ. Xem như giai đoạn tu tập Thiền tông Tối Thượng Thừa đến đây là xong. Nhưng khi trở ra đời sống bình thường, không ở trong trạng thái đại định này thì Thầy thấy tâm mình còn tham, sân, si, mạn, nghi và còn mạnh hơn lúc chưa tu, nhưng tâm rất khôn khéo lý luận che đậy bằng những lời lẽ mà các sư đệ thường gặp trong kinh sách Thiền tông và Đại thừa như: “Tự tại vô ngại đói ăn khát uống mệt ngủ liền” hoặc “Vô sở đắc” hoặc “Còn thấy tu chứng là chưa chứng” hoặc “Em là em, Phật là Phật, em không phải là Phật, Phật không phải là em”...

Tu xong rồi tâm vẫn còn phiền não, bệnh đau phải đi bác sĩ, uống thuốc, không biết cách nào làm chủ sự sống chết. Tu hành chỉ có thông suốt tất cả những công án và kinh sách Đại thừa để làm gì khi mà không làm chủ sanh, già, bệnh, chết? Thầy rất buồn nản, chẳng còn muốn sống, 10 năm tu tập trong thất rất là gian khổ chỉ có một số tưởng giải để lý luận hơn thua, thế là cuộc đời tu hành của Thầy trở thành số không. Nhập vào trạng thái không vọng tưởng thì 18 loại hỷ tưởng xuất hiện, biết chuyện quá khứ vị lai của mình, của người rất rõ ràng, nhưng để làm gì đây? Để trở thành thầy bói ư!

Thầy muốn chết đi là xong, muốn vào rừng tự tử cho xong một đời tu hành chẳng ra gì. Tu hành như thế này còn mang nợ của đàn na thí chủ, chẳng ích lợi gì cho ai, chỉ có nói dối lừa người. Ôi! Thật là xót xa vô cùng, phí một đời người chỉ trở thành người nói dối có kinh sách, giới luật thì vi phạm không một giới nào là không vi phạm (phạm giới trong ý). Đúng là chết quách đi cho rồi, nhưng mẹ còn sống mà chết đi là bất hiếu.

Bây giờ, Thầy ở trong tình trạng như muốn điên loạn, Thầy lấy tập kinh Trung Bộ song ngữ do hòa thượng MINH CHÂU dịch ra đọc cho hết thời gian, như khi đọc đến những câu: “Tác ý một tướng khác thì tướng kia bị diệt” hoặc “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô” hoặc “Quán từ bỏ tâm tham…” hoặc “Quán đoạn diệt tâm tham...”. Đọc đến những đoạn kinh này thầy THÔNG LẠC như bừng tỉnh. Thầy áp dụng vào đời sống tu hành của mình ngay liền, Thầy không ngồi kiết già nữa vì ngồi kiết già tâm sẽ nhập vào Không Vô Biên Xứ Tưởng. Thầy rất sợ 18 loại tưởng xuất hiện, nên chỉ ngồi tựa cửa thất nhìn trời mây cây cỏ mà tác ý: “TÂM NHƯ ĐẤT LY THAM, SÂN, SI CHO THẬT SẠCH”. Nhờ tác ý như vậy, tâm Thầy lần lượt quay vào định trên thân, suốt ngày đêm Thầy không ngủ luôn luôn biết hơi thở ra, vô và cảm giác toàn thân. Chính lúc này tâm Thầy đang quán trên thân tức là Thầy đang tu tập TỨ NIỆM XỨ mà không biết. Tâm định trên thân suốt sáu tháng trời khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống đều biết chỉ có một tâm đó.

image026

Thị Giả Mật Hạnh

Một hôm, trên tâm thanh tịnh đó xuất hiện Bốn Thần Túc, Thầy liền biết một cách rõ ràng, nhưng cái biết đó không phải là ý thức mà cái biết đó là thức uẩn nên Thầy dùng thần lực đó nhập bốn định Hữu Sắc và thực hiện Tam Minh. Thầy hoàn toàn làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi sanh tử. Thầy biết rất rõ chỉ còn một đời sống này nữa mà thôi. Tâm Thầy không còn một chút tham, sân, si, mạn, nghi nào cả.

Sau sáu tháng tu tập với câu tác ý đơn giản, mà thành công vĩ đại không ngờ. Sự thành công này mở màn cho nền đạo đức nhân bản - nhân quả của Phật giáo ra đời.

Thầy mở cửa thất đi ra làm người chiến thắng vinh quang sau hơn mười năm giam mình trong cô đơn hiu quạnh, Thầy đi đến mẹ mình nói: “Từ nay mẹ khỏi mang cơm vào thất, vì con sẽ ra đây ăn cơm với mẹ! Con đã tu xong rồi”.

Mẹ Thầy vui mừng quá đỗi nói: “Thời gian qua mẹ tưởng con điên mất và nhất là lo sợ con chết”.

Có lẽ lời nguyện hứa từ kiếp nào đã làm tròn, bà cụ ra đi sau đấy ba tháng.

Mẹ ra đi vào cõi vĩnh hằng, trong nhà chỉ còn lại hai anh em, nên thầy Thông Lạc xin một đứa cháu mới tám tuổi, đặt cho pháp danh là Mật Hạnh, về nuôi, cho đi học và dạy tu hành.

Sau mười năm nhọc nhằn nuôi mẹ, nuôi anh, giờ đây, người em được Thầy giúp đỡ mọi công việc nặng nhọc, đặt cho pháp danh là Diệu Quang và lại dạy tu hành ngồi thiền xả tâm. Đó là hai người đệ tử cư sĩ đầu tiên được quy y với Thầy.

image021

 

TẠO DUYÊN GIÁO HÓA CHÚNG SANH

chim

Thấy mình không có duyên giáo hóa chúng sanh, nên Thầy muốn thị hiện NIẾT BÀN để gây niềm tin cho mọi người rằng: Thời mạt pháp vẫn có thể tu chứng. Việc lợi ích chúng sinh của Thầy chỉ như vậy, chỉ là gây niềm tin cho mọi người bằng hình ảnh NIẾT BÀN của mình. Thầy cất một cái nhà sàn định dùng làm giàn hỏa thiêu. Nhưng Thầy thấy chúng sanh còn quá khổ, bỏ đi sao đành, con đường tu hành theo Phật giáo để được giải thoát thì bị kinh sách phát triển Đại thừa và Thiền Đông Độ dìm mất, còn mình thì không có duyên làm sao cứu họ đây. Thầy suy tư rất nhiều để tìm mọi cách độ chúng sanh. Rồi Thầy lại nhớ ngày xưa đức Phật còn hóa duyên độ chúng sanh thì Thầy bây giờ cũng vậy. Phải hóa duyên độ chúng sanh, nhưng phải bằng cách nào?

Rồi Thầy tự trả lời câu hỏi: Phải tạo duyên mới chớ sao? Nhưng tạo duyên mới như thế nào? Người nào? Ở đâu?

Để trả lời những câu hỏi này Thầy dùng trí tuệ tu chứng quan sát khắp nơi: Chỉ thấy có Sư phụ (Hòa thượng THANH TỪ) là nơi tạo duyên hóa độ chúng sanh dễ dàng.

Sư phụ người đã dạy bảo, đã khích lệ mình mới có sự tu chứng như ngày hôm nay, Thầy tìm về núi cũ để thăm Sư phụ và tạo duyên giáo hóa chúng sanh.

Cảnh vật nơi CHÂN KHÔNG thay đổi nhiều quá, đường lên núi được lát đá sắp cấp dễ đi hơn nhiều. Hai bên đường là những am thất sang trọng, thầy PHƯỚC HẢO bỡ ngỡ nhìn ông già xa lạ từ đâu đi đến tự xưng là THÔNG LẠC. Thầy THÔNG LẠC nói:

-     Thầy nhớ tôi không? Tôi là THÔNG LẠC đây!

Thầy PHƯỚC HẢO không tin người đứng trước mặt mình là người huynh đệ THÔNG LẠC ngày xưa. THÔNG LẠC ngày xưa đẹp đẽ nho nhã bao nhiêu thì ông già này tiều tuỵ già cỗi bấy nhiêu, mái tóc dài lõa xõa, chòm râu bạc lơ thơ răng chiếc còn, chiếc mất làm sao THÔNG LẠC được.

Nhưng dù sao thầy PHƯỚC HẢO cũng nhận ra được và huynh đệ rất mừng tay nắm tay. Sau khi uống nước xong thầy Phước Hảo giới thiệu lên Sư phụ. Đi vòng qua THIỀN ĐƯỜNG uy nghi mát mẻ, qua tăng đường chỉ còn trơ lại nền đất, lên dốc ĐẠI MAI uốn quanh, khỏi cốc thầy KIẾN THIỆN là phương trượng Sư phụ. Sư phụ nhận ra thầy THÔNG LẠC liền. Thầy THÔNG LẠC thưa:

-     Thưa Thầy! Sau bao năm xa Thầy, giờ đây con đã có trí tuệ và nhập định một cách dễ dàng.

Sư phụ bảo:

-     Chú nói chú có trí tuệ, bây giờ tôi hỏi mà chú đáp được thì tôi công nhận.

Thầy THÔNG LẠC nói:

-     Thỉnh Thầy hỏi.

Sư phụ đưa ra một công án thiền.

Có một thiền sư hỏi thiền khách: “Phật là gì?”. Thiền khách đáp mãi mà Thiền sư không đồng ý. Bây giờ tôi hỏi chú:

-     Phật là gì?

Như trái banh nổi trên nước, đụng là xoay, đẩy là chạy, Thầy THÔNG LẠC liền đáp:

-     Thầy có thấy lá cây rung trước gió chăng?

Sư phụ gật đầu và đưa ra một công án khác:

Có một Thiền khách hỏi Động Sơn:

-     Thế nào là đại ý Phật pháp.

Động Sơn đáp:

-     Ba cân gai.

Vậy tôi hỏi chú:

-     Ba cân gai là gì?

Thầy THÔNG LẠC đáp nhanh như gió không cần suy nghĩ:

-     Đạo không lìa đời.

Sư phụ gật đầu đọc một đoạn trong kinh LĂNG GIÀ để ấn khả chỗ đến của Thầy THÔNG LẠC, tức là Thầy đã kiến tánh hoàn toàn. Theo Thiền tông kiến tánh thành Phật. Người thông suốt 1.700 công án thiền là trí, chứ không còn là thức phàm phu nữa.

Sư phụ có bảo:

-     Nếu chú có ở gần tôi, chú đã đến chỗ này sớm hơn.

Thầy THÔNG LẠC lại thưa:

-     Thưa Thầy cho phép con nhập NIẾT BÀN.

-     Năm nay chú bao nhiêu tuổi?

-     Dạ, hơn năm mươi tuổi!

-       Chú, hãy còn trẻ lắm, hãy ở gần tôi thêm lợi ích và trợ duyên tôi giáo hoá.

Duyên đã tạo ra được, từ đây Thầy THÔNG LẠC bình thản ở lại và tìm mọi cách dựng lại Chánh pháp của Phật. Sư phụ lại đưa cho Thầy nhiều kinh sách Đại thừa và Thiền tông để mở mang kiến thức.

image021

 

CHỈ CÓ NGƯỜI TU CHỨNG
MỚI THỐNG NHẤT PHẬT GIÁO

blue-sky-sunflower-245355

Hôm nay ngày 11 tháng 3 Âm lịch năm 1987, Thầy THÔNG LẠC lại về thăm Sư phụ.

Sư phụ đang ngồi trên võng nơi nhà mát phương trượng với vài ba Phật tử quen thuộc ngồi dưới nền. Thầy THÔNG LẠC đến xá chào và ngồi xuống bên phải gần Sư phụ. Các Phật tử đi theo Thầy cũng ngồi xuống chỗ thích hợp. Trong buổi nói chuyện này, anh ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG đã trình nhiều ý kiến về Phật giáo và Thiền tông với Sư Phụ. Câu chuyện ban đầu đi dần đến kinh nghiệm tu hành. Thầy THÔNG LẠC thưa:

-     Thưa thầy, theo kinh nghiệm của con: Người tu thiền phải xả bỏ tận gốc các kiến giải, tưởng giải vì sự hiểu biết đó chỉ là hiểu biết ảo tưởng, chứ không phải sự hiểu biết của tri kiến giải thoát. Như ngày trước con tu, không xem kinh sách gì, đến khi con lên trình Thầy. Thầy hỏi là con bèn đáp theo TRI KIẾN TRỰC GIÁC, chứ không do ý thức suy nghĩ phàm phu.

 Hòa thượng THANH TỪ bảo:

-     Không phải thức như thế này. Có hai loại trí:

-     Một là TRÍ HỮU SƯ.

-     Hai là TRÍ VÔ SƯ.

Trí hữu sư DO HỌC, còn trí vô sư do TÂM THANH TỊNH. Trí vô sư này mới chống lại với giặc sanh tử được, còn trí hữu sư thì không chống được. Trí tuệ là cái chính yếu để phá trừ vô minh được giải thoát. Ngày xưa các Tỳ kheo dù nhập định đến 7, 8 ngày mà chưa thấy lý Tứ Đế vẫn không chứng A LA HÁN, vì trí hữu sư vẫn là phàm phu trí.

Sau đó, sư phụ lại đề cập đến vấn đề NGUYÊN THỦYĐẠI THỪA đang là điều chú ý hiện nay. Thầy bảo cũng là đạo Phật mà hai bên đi hai đường dường như trái hẳn nhau; không thông cảm, không thống nhất gì được. Anh ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG tỏ vẻ bi quan về việc thống nhất dung hợp NGUYÊN THỦYĐẠI THỪA là điều quá khó khăn xưa nay không ai nghĩ tới. Thầy THÔNG LẠC thưa:

-     Thưa Thầy, theo con thấy mình cứ biểu hiện bằng sự tu chứng của mình. Họ thấy được điều đó rồi theo mình là tự nhiên thống nhất.

Sư phụ bảo:

-     Được mấy người tu chứng, và bao lâu mới tu chứng. Dĩ nhiên điều này là hay nhưng đòi hỏi thời gian. Trong khi vấn đề hiện nay cấp bách là phải giải quyết liền. Có ba yếu tố có thể giúp cho sự thống nhất:

-     Một là biểu hiện qua sự tu hành chân chánh của mình. Điều này đòi hỏi bên Đại thừa phải trong sáng, không để xen lẫn những hình thức mê tín, dị đoan trái tinh thần giải thoát giác ngộ của đạo Phật, phải có những người tu hành có kết quả rõ rệt; phải giữ gìn giới luật nghiêm túc; phải sợ hãi những lỗi lầm nhỏ nhặt trong giới luật.

-     Hai là Giáo lý Nguyên Thủy và Đại thừa phải được dẹp bỏ những kiến giải tưởng giải làm sai lệch ý Phật. Nhất là kinh sách Đại thừa xây dựng thế giới siêu hình ảo tưởng, tạo thành một tôn giáo thần quyền, chuyên cúng bái cầu siêu, cầu an tạo ra nhiều sự mê tín dị đoan lạc hậu khiến Phật tử mất hết sức tự lực chỉ còn tha lực cầu cạnh quỷ thần. Những tư tưởng sai lệch của Đại thừa như vậy cần phải dẹp bỏ thì mới có thể hòa hợp với Nguyên Thủy Nam Tông. 

-     Ba là nghi thức: Mình là người VIỆT NAM. Phật giáo là PHẬT GIÁO VIỆT NAM mà bên thì tụng kinh bằng tiếng Pàli bên thì tụng bằng tiếng Hán, người VIỆT NAM nghe không hiểu gì hết.

Ngừng một chút Sư phụ tiếp:

-     Nội cái việc hai tạng kinh không đồng nhau là đã rắc rối rồi. Hoà Thượng MINH CHÂU chỉ nhận tạng kinh Pàli là đạo Phật, còn cho kinh điển Đại thừa là ngoại đạo. Hòa Thượng TRÍ TỊNH thì bảo ai không nhận kinh điển Đại thừa kẻ đó là ngoại đạo. Hai ông Hòa Thượng lớn của giáo hội còn chưa thông cảm nhau, huống hồ người dưới.

Không thể nào giáo lý Đại thừa và Nguyên Thủy không trái nhau, hai giáo lý này nghĩa lý cách xa nhau như một trời một vực, vì thế không thể thống nhất giáo lý được, mà thống nhất giáo lý không được thì làm sao thống nhất hai hệ phái lớn này được. Hai hệ phái lớn không thống nhất được thì các chi phái nhỏ nhánh khác thì dễ dàng gì thống nhất họ được.

Anh ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG vui vẻ thưa:

-     Con thấy việc làm này rất khó, chỉ có những người tu chứng mới làm nổi như ý Thầy THÔNG LẠC.

Thầy THÔNG LẠC cũng đồng ý: “Đây chỉ còn là cách duy nhất mà thôi”.

Sư phụ bảo: “Tôi chỉ gợi ý thôi, còn để cho mấy chú sau này làm”.

Nói xong Sư phụ quay nhìn những đệ tử trẻ chúng tôi ngồi gần đấy.

Đã đến giờ ngọ trai, trước khi lui ra Thầy THÔNG LẠC thưa:

-     Con muốn thưa chuyện riêng với Thầy, nếu được Thầy cho phép, con gặp Thầy vào buổi chiều.

-     Ờ, hai ba giờ chiều rồi tới.

image021

 

THẦY TRÒ CẢM THÔNG

chim-canhtre

Ba giờ chiều Thầy THÔNG LẠC vào hầu chuyện với Sư phụ, ba Phật tử lúc sáng cùng đi theo.

THẦY THÔNG LẠC thưa:

-     Thưa Thầy, từ ngày con lên núi trình Thầy, được Thầy ấn chứng, con có xin Thầy cho phép nhập Niết Bàn, nhưng Thầy bảo con ở lại trợ duyên Thầy giáo hoá. Vì thế, con không đi trước Thầy. Theo lời Thầy dạy, con tiếp tục nghiên cứu các kinh sách Đại thừa. Và con cũng tuỳ duyên tiếp người mới học. Nhưng có những lời đồn quanh quất nơi các Phật tử bên ngoài là đường lối con khác đường lối Thầy, gây chia rẽ giữa con với Thầy. Thưa Thầy, con tuỳ căn cơ người mà lập hai pháp; bên Thiền bên Định, bên thiền về quán để dạy người xả chướng ngại pháp. Còn Thầy dạy Bát Nhã cũng là quán, hoặc biết vọng không theo cũng là định, không có gì khác nhau. Hôm rồi, có những Phật tử ở Cần Thơ đến nói con về việc này, rồi họ mời con xuống dưới để giải thích.

Thưa thầy, hôm nay con lên đây để trình việc này và cũng để xóa tan những dư luận bên ngoài, có khi sẽ lan tới bên trong, xin Thầy cho vài huynh đệ về phụ với con như để xác định lại rằng đường lối của con không khác đường lối của Thầy, làm sáng tỏ chỗ dư luận như vậy.

Sư phụ bảo:

-     Điều đáng ngại là Thầy trò không thông cảm nhau, còn khi Thầy trò đã thông cảm với nhau thì dư luận ở bên ngoài không quan trọng. Việc đưa người về đó không tiện vì hành chánh giấy tờ họ đã ổn định ở đây rồi, đưa qua đưa lại mất công. Khi nào thuận tiện tôi sẽ đi thăm là được rồi.

Các đạo hữu mừng rỡ.

-     Sư ông đến thăm còn gì quý bằng.

Như vậy xem như chuyện Thầy THÔNG LẠC lên thăm đây là mỹ mãn.

Sư phụ lại nói về tình hình Phật giáo hiện tại và bảo hiện nay nhà nước đang xây dựng một Viện Nghiên Cứu Triết Lý Phật Giáo, nhất là Phật Giáo Việt Nam thời Lý Trần.

Cư sĩ THIỆN CHÍ thưa:

-     Thưa sư ông, nhiều người nói sư ông bác TỊNH ĐỘ?

Thầy cười bảo:

-     Nếu chấp nhận TỊNH ĐỘ thì đã tu TỊNH ĐỘ mất rồi! Tôi không nói là bác, nếu ai hỏi về Tịnh Độ tôi chỉ giải thích niệm Phật đến chỗ nhất tâm.

Thầy THÔNG LẠC thưa:

-     Thưa Thầy, ngoài miền Trung và miền Bắc có nơi nào tu thiền không?

Sư phụ bảo:

-     Ở ngoài Bắc nơi chùa HÒA GIAI có Sư cụ pháp chủ ĐỨC NHUẬN tu theo thiền TÀO ĐỘNG, lối phản quang tự tánh. Còn ở miền Trung thì hoàn toàn không còn nữa, mặc dù trước đây miền Trung là nơi truyền dạy thiền của hai ngài NGUYÊN THIỀU và LIỄU QUÁN.

Sư phụ nói thêm:

-     Mình nói tu theo Đại thừa, mà Thiền tông là cốt tủy của Đại thừa thì không chấp nhận. Hồi tôi lập Tu Viện CHÂN KHÔNG để dạy thiền, cả giáo hội hồi đó không ai đồng ý cả, chỉ có Hòa thượng THIỆN HÒA vì tình cảm riêng mà ra thăm hỏi. Trong khi thời đó nhóm LƯƠNG SĨ HẰNG dạy thiền xuất hồn hoàn toàn sai với đạo Phật thì giáo hội không nói được một lời nào để phê phán. Trái lại tôi dạy Thiền của đạo Phật thì các vị lạnh lùng xa cách. Bởi vậy, việc làm của tôi bao nhiêu năm qua là việc làm trong cô đơn yên lặng. PHẬT GIÁO VIỆT NAM mình hầu hết 99 phần trăm là Tịnh Độ, chỉ bắt đầu từ khi Tu Viện CHÂN KHÔNG xuất hiện thì mới có thiền. Cho nên, tiếng nói của Thiền thật là bơ vơ lạc lõng.

-     Hồi trước kia trong một kỳ họp của giáo hội với tư cách là người trong ban hoằng pháp tôi phát biểu chư tăng bấy giờ có nhiều người muốn chuyên tu. Xin giáo hội cho lập những TỊNH VIỆN, THIỀN VIỆN làm cơ sở cho chư tăng chuyên tu ròng tu tập. Kỳ đó, thượng tọa THIỆN MINH làm chủ tọa, các vị bác ý kiến tôi không tiếc lời, bác thẳng tay.

Thầy THÔNG LẠC tiếp lời:

-     Tuy Sư phụ nói như vậy, nhưng riêng chúng con lại thấy khác. Có thể đối với giáo hội trước kia Sư phụ là người cô độc đi con đường của mình, nhưng từ mọi miền đất nước, từ nhiều nơi trên thế giới, với những người thiết tha tu tập mà không thỏa mãn nơi sinh hoạt của giáo hội đã hướng về Sư phụ như ngọn hải đăng rực sáng cao cả soi phá bóng đêm âm u trên biển khổ trầm luân sinh tử, giúp họ vượt qua đêm dài tăm tối si mê, đưa họ trở lại lối tu cốt tuỷ của đạo Phật. Sư phụ không cô đơn vì pháp âm của Người vang mãi trong lòng muôn người chân thành vì đạo pháp; Sư phụ không cô đơn vì con đường Người vạch lối có vô số người bước theo và tìm thấy nơi đây bình an và hạnh phúc; Sư phụ không cô đơn vì hàng đệ tử chúng con vững bước theo Người nối tiếp sứ mạng của Người làm trong sáng đạo Phật khỏi những sai lầm cực đoan và mê tín. Vì thế mà hiện giờ Sư phụ không còn cô đơn nữa, con đường của Sư phụ đi là con đường sáng chói huy hoàng mà chúng con là những người thực hiện ánh sáng ấy.

image021

 

GIAI ĐOẠN CHUYỂN BIẾN
PHẬT GIÁO TỪ TỊNH TỚI THIỀN    

river

Hôm thứ bảy ngày mùng 7 tháng 3 Âm Lịch vừa rồi có Hòa Thượng MINH CHÂU cùng với ông ĐỨC PHƯƠNGVÕ ĐÌNH CƯỜNGTỐNG HỒ CẦMTỐNG ANH NGHỊ là những người chịu trách nhiệm tờ báo Giác Ngộ, tờ báo Phật giáo hiện nay, đến THIỀN VIỆN thăm Sư phụ. Những vị kia hầu hết đều quen thuộc đối với Phật giáo, riêng ông ĐỨC PHƯƠNG là chủ bút tờ báo GIÁC NGỘ, tờ báo Phật giáo hiện nay đến Thiền Viện thăm Sư phụ. Chúng tôi đã đãi các vị bữa cơm trưa với các món ăn tự sản xuất được như: mít kho, đào chiên, canh rau dền. Sau buổi nghỉ trưa ngồi nói chuyện với Sư phụ ông ĐỨC PHƯƠNG nhận xét:

-       Tôi nghe Thầy là người tu theo ĐẠI THỪA nhưng khi đọc cuốn “CHÌA KHÓA HỌC PHẬT”. Tôi thấy Thầy nói về đức Phật rất thực tế không có vẻ gì huyền thoại”.

Ý ông nói là Nguyên Thủy mà tránh dùng chữ quá rõ.

Sư Phụ đáp:

-       Tôi không để ý đến những khía cạnh khác, với tôi đạo Phật tùy bệnh cho thuốc.

Ông ĐỨC PHƯƠNG:

-       Biết bệnh biết thuốc cũng khó chứ. Thật ra Sư phụ muốn gạt vấn đề Nguyên Thủy và Đại thừa qua một bên chia đôi hai nhánh làm gì, tùy bệnh thô thì nói pháp thô, bệnh tế thì nói pháp tế, với người chưa tỉnh thì nói pháp giải thoát, với người tỉnh rồi thì nói lý tưởng độ sanh.

Các ông khẩn khoản mời Sư phụ viết bài cho báo GIÁC NGỘ.

Sư phụ có vẻ từ chối nói rằng:

Tôi là người nhiệt tình, cũng muốn nói lên những điều cần phải nói nhưng những điều tôi đã nói lại có người hiểu lầm. Riết rồi tôi chỉ thích coi ngó làm ruộng làm rẫy mà thôi.

Ông TỐNG HỒ CẦM lại khuyến khích:

-       Thầy là con người văn hoá, công việc văn hoá là thích hợp chứ.

Ông VÕ ĐÌNH CƯỜNG lại thêm:

-       Thôi, Thầy viết cho bài trong đặc san Phật đản kỳ này đi. Có lẽ trong nội bộ Phật Giáo hiểu lầm Thầy thôi.

image021

 

THIỀN TÔNG KHÔNG
LÀM CHỦ
SANH - GIÀ - BỆNH - CHẾT

CHON-QUE-11-4948-1024x769 (1)

Đang thuật chuyện Thầy THÔNG LẠC tôi lại nhắc đến các ông, bây giờ giải thích sự kiện hiểu lầm, tôi lại phải nhắc chuyện nhà Tổ. Khi cất xong nhà Tổ. Sư phụ nói chuyện với tứ chúng. Trong bài nói, Sư phụ có dẫn thiền sư THƯỜNG CHIẾU.

THẦN NGHI hỏi thầy là THƯỜNG CHIẾU:

-       Mọi người đến thời tiết này, chỗ ngộ này, vì sao đều theo thế tục mà chết?

THƯỜNG CHIẾU bảo:

-       Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục mà chết?

-       Một mình tổ ĐẠT MA.

THƯỜNG CHIẾU hỏi:

-       Có những gì đặc biệt?

THẦN NGHI thưa:

-       Một mình đạp sóng trở về Tây.

-       Núi Hùng Nhĩ là nhà ai? (ý nói Tổ Đạt Ma cũng chết chôn trong núi này).

THẦN NGHI thưa:

-       Chỉ là chỗ chôn chiếc giày trong hòm mà thôi.

-       Lừa người lấy lợi, đứng đầu là THẦN NGHI (ý chê THẦN NGHI đi ngõ khác với Thiền).

-       Đâu thể nói TỐNG VÂN truyền dối việc vua TRANG ĐẾ quật mồ thì sao?

THƯỜNG CHIẾU bảo:

-       Một con chó lớn sủa láo, mấy con chó nhỏ sủa theo.

-       Hòa thượng cũng tùy tục chăng?

-       Tùy tục.

-       Vì sao như thế?

-       Ấy là cùng người đồng chết.

THẦN NGHI chợt tỉnh ngộ, lễ bái thưa:

-       Con đã hiểu lầm hết rồi.

Người theo Thiền tông cốt ngộ được pháp thân bất sanh bất diệt, còn cái thân tứ đại này theo luật vô thường phải có ngày tan hoại. Phật cũng thế. Không làm chuyện lạ bày trò sống lâu với thân tứ đại này chỉ vì dạy người giác ngộ pháp thân vượt ngoài sanh tử. THẦN NGHI chưa ngộ pháp thân nên chỉ nhìn nơi chuyện lạ ca ngợi tổ ĐẠT MA đã tịch chôn trong tháp ở núi Hùng Nhĩ rồi mà còn sống lại ra khỏi tháp đi về Ấn Độ, gặp sứ giả TỐNG VÂN trên núi Thống lãnh TỐNG VÂN về thuật lại, vua TRANG ĐẾ quật tháp chỉ còn một chiếc hài. Thiền sư THƯỜNG CHIẾU đã quở trách những người đến với đạo Phật chỉ để ý chuyện lạ, không sáng lý tánh qua câu: “Một con chó lớn sủa mấy con chó nhỏ sủa theo”. Sư phụ dẫn chuyện này để khẳng định đường đi của Phật giáo không chú trọng chuyện lạ, vì như thế có thể chìm vào dị đoan, mê tín. Nhưng không biết trong những người đứng nghe lúc đó nghe thế nào mà hiểu lầm rằng con chó sủa láo chính là công kích các hệ phái khác.

Trước khi ra về, các ông đã xin những cuốn sách Sư phụ đã trước tác căn bản như “Mới Vào Cổng Chùa”, “Yếu Chỉ Thiền Tông”, “Hé Mở Cửa Giải Thoát”.

Sư phụ nói tiếp với Thầy THÔNG LẠC và các phật tử:

-       Tất cả những việc tôi âm thầm làm từ trước trong hoàn cảnh không thích hợp như khôi phục Thiền tông, sau giải phóng thì tổ chức sinh hoạt lao động trong thiền viện, bây giờ những việc đó bắt đầu có cơ duyên thích hợp, từ lâu yên lặng, bây giờ mới nói lên tiếng nói ...

image021

 

HUYNH ĐỆ TU VIỆN
THƯỜNG CHIẾU THƯA HỎI

images (13)

Vì Thầy THÔNG LẠC đến sáng mai mới về, nên tối nay huynh đệ chúng tôi khẩn khoản thỉnh Thầy hoan hỷ cho chúng tôi tham vấn. Sau giờ xả thiền chúng tôi trải chiếu, bày trà nơi gian nhà trống và mời Thầy đến.

Thầy THÔNG QUÁN đã thay mặt huynh đệ hỏi trước.

-       Thưa Thầy, con nghe Thầy có dạy các pháp tu định và tu quán, các pháp này thế nào?

Thầy THÔNG LẠC bảo:

-       Hai phép tu định và tu quán không khác với nhau đường lối của Thầy viện chủ, chỉ là tuỳ căn cơ người học mà Thầy thiên về định hay về quán thôi (Thầy THÔNG LẠC có thói quen xưng “Thầy” gọi chúng tôi là “huynh đệ”, có lẽ vì Thầy thấy thân mật, chúng tôi cũng thấy cởi mở).

Với người thông minh học nhiều - Thầy tiếp - Thầy cho họ pháp quán xả tâm để đi suốt con đường tri kiến giải thoát tận đỉnh. Ngay tri kiến giải thoát tận đỉnh là tâm bất động, tức là Bất Động Tâm Định. Bất Động Tâm Định là mục đích của đạo Phật, người tu tập tới đây muốn nhập định nào cũng dễ dàng và thực hiện Tam Minh cũng không còn khó khăn. Muốn thực hiện là được liền, tức là phải dùng pháp hướng tâm. Cho nên, trong kinh thường dạy: “Hướng tâm đến Túc Mạng Minh; hướng tâm đến Thiên Nhãn Minh; hướng tâm đến Lậu Tận Minh, v.v..”. Nhưng các huynh đệ hãy lưu ý: muốn đạt được tâm bất động như vậy mà không tu tập Tứ Niệm Xứ thì không bao giờ đạt được. Muốn tu tập Tứ Niệm Xứ sung mãn mà không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh thì Tứ Niệm Xứ chỉ là một pháp ức chế tâm, khiến cho hành giả rơi vào các loại thiền tưởng, có khi bị Tẩu Hỏa Nhập Ma.

Tùy căn cơ của mỗi người, đôi khi Thầy cho họ một câu hỏi khó giải để diệt ý thức phân biệt, nhờ đó nghi tình sẽ phát khởi, khi nghi tình phát khởi thì cái nghi chôn sâu vào tâm họ, chờ duyên khai phát cái nghi đó. Cái nghi bùng vỡ là pháp tưởng hiện tiền, 1.700 công án họ đều phá sạch, không một cái nào dấu họ được. Nhưng cái khuyết ở trường hợp này là trên đường đi họ dễ sanh ngã mạn, nói năng to lớn. Người thầy phải biết trị cái bệnh này biết “thằng này nói dóc”, chặn lại và sách tấn họ vượt qua tiếp, khéo chuyển kiến giải, tưởng giải thành tri kiến giải thoát. Đa số người kiến giải, tưởng giải ở phương tiện này đều phải hàm dưỡng nhiếp tâm, an trú tâm và sức tỉnh giác rất cao để bất động tâm chứng ngộ chân lí.

Còn với người trì độn ít học, Thầy chỉ họ tu Định Niệm Hơi Thở, từ đề mục thứ nhất cho tới đề mục thứ 19. Nếu họ vào định thật sự rồi, tức là vào chỗ tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Đó là chân lí thứ ba của đạo Phật trong Tứ Diệu Đế. Cái khuyết ở trường hợp này là họ dễ chìm trong si định, cái định si mê ham ngủ, lười biếng. Nếu người thầy khéo gỡ mối đưa họ qua khỏi trạng thái si mê này thì họ chứng đạo. Trường hợp người đi qua phương tiện tu Định Niệm Hơi Thở này, khi đạt được đề mục thứ 19 thì cũng là chứng ngộ luôn.

Thầy THÔNG VÂN thưa:

-       Trong kinh pháp Bảo Đàn. Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Niệm khởi liền giác, không sợ vọng khởi, chỉ là đừng lầm vọng tưởng”. Lời dạy này có khác với Thầy chăng thưa Thầy?

Thầy THÔNG LẠC bảo:

-       Cái diệt niệm của Tiểu Thừa là diệt niệm ác, còn niệm thiện không diệt, cho nên Tứ Chánh Cần dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp”, trong kinh Pháp Cú dạy: “Chư ác mạc tác chúng thiện phụng hành” hoặc “Thấy lỗi mình không thấy lỗi người” để vào Bất Động Tâm Định. Cho nên, khác với cái giác niệm của Đại thừa. Với Đại thừa, niệm khởi mình chỉ biết thì nó không còn là vọng tưởng nữa. Tuy nhiên trong Thiếu Thất Lục Môn Tổ ĐẠT MA có dạy Lý nhập và Hạnh nhập. Người thượng căn khi nghe một câu liền ngộ và từ đó sống luôn với chỗ ngộ của mình đây gọi là lý nhập nhưng với người kém hơn phải nhờ Hạnh nhập, tức là tu định một thời gian mới có thể thấy tánh.

LỤC TỔ có bảo “Niệm trước không sanh là tâm, niệm sau không diệt là Phật”, “Trước niệm không sanh là Phật, sau niệm không thêm cái diệt chỗ đó là tâm”. Nếu giữ được như vậy lâu ngày thì thành viên mãn. Đó là theo pháp môn ảo tưởng của Đại thừa, Thiền tông nên chỉ nói suông, chứ không thể thực hiện được. Cho nên, Tổ sư và các đệ tử nhiều đời nhiều kiếp chỉ chết cứng trong những kiến tưởng giải này không lối thoát, vì thế không ai làm chủ sanh, già, bệnh, chết được. Còn người nhập định như gốc cây cục đá, chẳng đem lợi ích gì cho mình, cho người. Những loại thiền định ngôn ngữ suông này nó đã diệt nền đạo đức nhân bản - nhân quả của Phật giáo xuống tận đáy vực thẳm. Vì thế, hỏi đến nền đạo đức nhân bản - nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sanh thì từ thiền sư Tổ cho đến các thiền sư con đều không ai biết, họ chỉ biết kiến tánh thành Phật. Phật của họ là Phật phạm giới, tự tại vô ngại đói ăn khát uống mệt ngủ, nên ăn uống phi thời có sao đâu. Họ cho rằng dâm dục cũng đâu có mất Phật tánh, vì tánh Phật xưa nay đều có sẵn. Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh. Uống rượu ăn thịt như TẾ CÔNG, TUỆ TRUNGcũng đâu có mất Phật tánh.

-       Thưa Thầy, có ý kiến Tổ sư thiền là đến siêu phương tiện, không qua thứ lớp định, huệ đồng thời. Còn Thầy chia hai phương tiện như vậy có hợp chăng?

-       Đây chỉ là phương tiện ban đầu của Thầy để đưa người mới học đến cửa. Thật ra không phải căn cơ người nào cũng giống nhau. Người thượng thượng căn một lần nghe là đốn chứng viên mãn. Người thượng căn có đốn ngộ cũng phải tiệm tu. Còn người trung, hạ căn phải có phương tiện mới xả tâm rốt ráo. Như ngài KHUÊ PHONG, tuy đã ngộ, nhưng Ngài tự thấy mình còn ái kiến nên bỏ vào núi tập định ngót mười năm mới sạch.

Thầy THÔNG QUÁN lại thưa:

-       Thưa Thầy có dùng lối chỉ thẳng như các vị thiền sư không?

Thầy THÔNG LẠC bảo:

-       Có, có khi qua cái dụng để chỉ cái thể, có khi đốn cơ gạt bỏ tri thức khiến họ ngộ nhập. Nhưng trường hợp này ít ỏi.

Một Thầy mới đến thiền viện thưa:

-       Thưa Thầy con dùng lối sổ tức để tập tu ban đầu, nhưng trong mười hơi đang đếm vẫn còn vọng niệm xen lẫn.

Thầy THÔNG LẠC bảo:

-       Vậy là còn thiếu phước nên tu thập thiện, sư đệ hãy phát nguyện tu thập thiện, bắt đầu khởi tu tập ngăn ác diệt ác pháp và sinh thiện tăng trưởng thiện pháp như trong kinh Thập Thiện dạy. Khi tu tập pháp này thuần thục rồi, thì sư đệ mới tiếp tục tu 19 đề mục Định Niệm Hơi Thở thì sẽ không còn vọng tưởng xen lẫn vào nữa.

Thầy THÔNG QUÁN lại hỏi:

-       Nếu không tỉnh giác có bị các pháp cột trói không thưa Thầy?

-       Không tỉnh giác là bị các ác pháp cột trói. Cho nên, tu tập cần phải tu tập Chánh Niệm Tỉnh Giác. Chánh Niệm Tỉnh Giác có bốn giai đoạn tu tập:

1-       Giai đoạn thứ nhất: Đi kinh hành bình thường, chỉ 10 bước đứng lại tác ý một lần: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành”. Khi tác ý xong câu này rồi tiếp tục đi. Đi và đứng lại tác ý như vậy đúng 30’ mới xả nghỉ.

2-       Giai đoạn thứ hai: Đi kinh hành bình thường, chỉ 10 bước đứng lại tác ý: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra một lần”. Sau khi tác ý xong rồi thở ra hít vô đúng 5 hơi thở ngưng lại thì tác ý: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành”. Khi đi xong 10 bước đứng lại tác ý thở như trên. Tu tập như vậy đúng 30’ rồi xả nghỉ.

3-       Giai đoạn thứ ba: Đi kinh hành bình thường, chỉ 10 bước ngồi xuống kiết già hay bán già lưng thẳng, mắt nhìn chóp mũi rồi tác ý: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Sau khi tác ý xong rồi thở ra, hít vô đúng 5 hơi thở, ngưng lại đứng dậy tác ý: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành”. Khi đi xong 10 bước đứng lại rồi ngồi xuống tác ý thở như trên. Tu tập như vậy đúng 30’ rồi xả nghỉ.

4-       Giai đoạn thứ tư: Đi kinh hành theo pháp Thân Hành Niệm, pháp này phải được trực tiếp với người có kinh nghiệm dạy, chứ đừng tự mình tu tập thì dễ bị sai lệch rất nguy hiểm. Pháp này mỗi hành động trong thân đều phải tác ý trước rồi mới hành động sau, có nghĩa là lệnh đâu thì hành động phải theo đó mà thi hành.

Thầy THÔNG QUÁN hỏi:

-       Nếu không tỉnh giác, cũng không bị vọng tưởng có bị các pháp cột trói không thưa Thầy?

-       Nếu không tỉnh giác, cũng không bị vọng tưởng có bị các pháp cột trói, đó là đã rơi vào không như cây đá rồi. Người tu hành mà để thành cây đá thì có ích lợi gì. Câu hỏi của sư đệ không bao giờ có trường hợp xảy ra như vậy. Không tỉnh giác tức là mê. Mê có hai ngả:

-       Ngả thứ nhất là bị vọng tưởng.

-       Ngả thứ hai là bị hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không.

Hai ngả này xác định khi mê thì không chạy đâu khỏi, không rơi ngả này thì phải lọt ngả khác, cho nên không bị các pháp cột trói là không có.

Không tỉnh giác cũng không bị vọng tưởng là bị hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không rồi. Đã bị hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không, còn tỉnh đâu mà các pháp cột trói. Có đúng như vậy không các huynh đệ.

-       Cho nên, không bị vọng tưởng lôi kéo thì ngay đó là tỉnh giác rồi, Có tỉnh giác thì các pháp làm sao trói buộc? Câu hỏi của sư đệ vô lý, chỉ đặt ra hỏi cho có hỏi chứ không có nghĩa lý gì cả.

Thưa các huynh đệ! Muốn thưa hỏi tu hành hay thưa hỏi để nói chuyện tào lao, người tu hành không phí thời gian vô ích. Sau này sư đệ muốn thưa hỏi thì phải thưa hỏi những câu hỏi có ý nghĩa trong vấn đề tu tập và cũng không nên hỏi những câu hỏi ngoài vấn đề.

Đưa cái ly ra thầy THÔNG QUÁN lại hỏi tiếp:

-       Bạch Thầy, nếu bảo thấy cái ly là chạy theo vật, còn nói không thấy cái ly là phủ nhận sự hiện hữu vậy phải làm sao?

-       Thấy cái ly mà chạy theo vật là phàm phu, không thấy cái ly là ngoại đạo chấp không (Đại thừa Bát Nhã).

Thầy THÔNG QUÁN lại hỏi tiếp:

-       Bạch Thầy, các thiền sư ngồi thiền biết thân hay không biết thân?

-       Thiền định có nhiều cấp độ nhập định, nên các trạng thái định cũng có rất nhiều.

Thầy xin kể cho các sư đệ nghe Thiền định được phân làm hai loại:

1-       Loại nhập định còn biết thân gọi là TÂM ĐỊNH.

2-       Loại nhập định không biết thân gọi là THÂN ĐỊNH.

Tâm định gồm có những loại định như sau:

1-       Định Chánh Niệm Tỉnh Giác

2-       Định Vô Lậu

3-       Định Niệm Hơi Thở

4-       Định Sáng Suốt

5-       Định Tư Cụ (Tứ Chánh Cần)

6-       Định Tứ Niệm Xứ

7-       Định Thân Hành Niệm

8-       Định Từ Tâm

9-       Định Bi Tâm

10-  Định Hỷ Tâm

11-  Định Xả Tâm

12-  Định Tứ Bất Hoại Tịnh

13-  Định Bất Động Tâm

14-  Định Vô tướng Tâm

15-  Định Diệt Tầm Giữ Tứ

16-  Định Sơ Thiền

Thân định gồm có những loại định như sau:

1-       Định Nhị Thiền

2-       Định Tam Thiền

3-       Định Tứ Thiền

4-       Định Không Vô Biên Xứ Tưởng

5-       Định Thức Vô Biên Xứ Tưởng

6-       Định Vô Sở Hữu Xứ Tưởng

7-       Định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ

8-       Định Diệt Thọ Tưởng

Còn riêng các loại thiền định khác của pháp Yoga, của Mật tông, của Minh Sát Tuệ, của Thiền Đông Độ, của kinh sách phát triển Đại thừa, của Pháp Vô Vi xuất hồn ông Tám, ông Tư, của Tiên Đạo Lão Tử, Trang Tử, v.v.. đều thuộc thiền định tưởng, không được ghép vào thiền của Phật giáo, vì những loại thiền định này không ly dục ly ác pháp, không thực hiện được Tứ Thần Túc và Tam Minh, nó thuộc về thiền định của ngoại đạo.

Thầy THÔNG QUÁN lại hỏi tiếp:

-       Bạch Thầy, thiền sư khi không tiếp duyên, không khởi trí dụng, có thấy các pháp là huyễn hóa không?

-       Khi không khởi trí dụng thì có pháp nào nói huyễn nói chơn?

Thầy THÔNG QUÁN lại thưa:

-       Bạch Thầy, từ lâu chúng con có những thắc mắc về Thầy, nay xin Thầy hoan hỷ giải bày cho chúng con hết mọi nghi ngờ. Bạch Thầy, lần trước con có nghe Thầy nói vấn đề tu do chim thú cúng dường, lại nghe Thầy xin Thầy viện chủ nhập NIẾT BÀN. Thầy còn thấy NIẾT BÀN nào để nhập chăng?

Thầy THÔNG LẠC thong thả bảo:

-       Trong kinh Bát Thành có dạy tám pháp độc nhất, người tu hành chỉ cần ôm một pháp tu tập cũng đi đến cứu cánh giải thoát hoàn toàn. Tám pháp ấy gồm có:

1-       Từ tâm

2-       Bi tâm

3-       Hỷ tâm

4-       Xả Tâm

5-       Sơ thiền

6-       Nhị thiền

7-       Tam thiền

8-       Tứ thiền

Người tu tập Từ tâm, tâm luôn luôn lúc nào cũng biết yêu thương, chứ không biết ghét giận hờn ai cả. Họ thực hiện đức hiếu sinh, không phải họ chỉ thương mọi người, mọi loài động vật mà còn thương tất cả cỏ cây sông núi, không khí nước uống, v.v.. Như ông Phú Lâu Na, người đã thực hiện Từ tâm đến rốt ráo hiện tiền nên chứng quả A La Hán cũng do từ pháp Từ Tâm Vô Lượng.

Một hôm ông Phú Lâu Na xin Phật đi giáo hóa ở một nước xa xôi. Đức Phật bảo:

-       Dân ở đó hung dữ lắm, họ sẽ chửi mắng con đó.

Ông trả lời:

-       Dân ở đó họ còn thương con, họ chưa lấy cây đánh con.

-       Họ sẽ lấy cây đánh con.

-       Dân ở đó họ còn thương con, họ lấy cây đánh con, chứ chưa lấy dao giết con.

-       Họ sẽ lấy dao giết con.

-       Dân ở đó họ còn thương con, họ lấy dao giết con, vì con còn mang thân này là còn khổ đau, mất thân này con vào Niết Bàn, không còn đau khổ nữa.

-       Thôi! Con cứ đi, đi!

Người tu Từ tâm như vậy từ trường thiện phóng xuất nơi họ ở, do đó tất cả chúng sanh đều sống bên họ không sợ hãi. Người tu hành có từ tâm như vậy, nên mới có những loài vượn hái trái cây cúng dường. Phật và những đạo sĩ tu khổ hạnh trong rừng thường xảy ra những trường hợp này.

Còn ở đây, khi huynh đệ muốn cho chim thú cúng dường thì chim thú không cúng dường. Chim thú cúng dường là do từ tâm. Có đúng như vậy không các huynh đệ?

 Thầy xin lập lại câu hỏi thứ hai của Thầy THÔNG QUÁN:

-       Thầy còn thấy NIẾT BÀN nào để nhập chăng?

-       Có lẽ lo tu thiền tri vọng nên sư đệ không học bài pháp Tứ Diệu Đế sao? Vậy Diệt đế là gì? Diệt đế không phải là Niết Bàn sao. Phật dạy: Người tu hành trước tiên phải giác ngộ chân lí rồi sau mới hộ trì và bảo vệ chân lí, nếu không ngộ được chân lí thì biết cái gì mà hộ trì, bảo vệ, Thiền Đông Độ không dạy sư đệ KIẾN TÁNH rồi khởi tu sao?

Năm anh em Kiều Trần Như nghe xong bài pháp này liền chứng quả A La Hán. Sư đệ không nhớ: Thiền tông dạy: “KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT”. Vậy Phật là gì? Không phải Niết Bàn sao?

Nói nhập Niết Bàn là danh từ nói chứ từ khi kiến tánh thành Phật là đã nhập Niết Bàn chứ còn chỗ nào nữa. Cho nên, người tu hành chứng đạo thì thân tâm đều luôn ở trong Niết Bàn. Thân tâm đều luôn ở trong Niết Bàn nên gọi là HỮU DƯ Niết Bàn, còn người tu chứng thân đã chết thì gọi là Vô Dư Niết Bàn.

Vậy sư đệ nói: Thầy còn thấy NIẾT BÀN nào để nhập chăng?

Tội nghiệp sư đệ quá, sư đệ đừng lấy những câu phá chấp của kinh sách Đại thừa mà hiểu lầm rằng còn thấy Niết Bàn là chưa biết Niết Bàn.

Sư đệ đưa câu hỏi này ra chứng tỏ sư đệ không có nghiên cứu kinh sách, chỉ đọc một vài cuốn kinh Đại thừa, giống như người trì độn công phu, tu tập trong ngu si.

Nói chân lí tức là nói một sự thật, một sự thật thì người chưa tu cũng phải nhận ra, nếu người chưa tu không nhận ra được thì đó đâu phải là chân lí. Như Phật Tánh đâu phải là chân lí, người tu gần chết mà còn chưa kiến tánh được huống là người chưa tu thì biết gì là Phật Tánh. Cho nên, Phật Tánh không phải là chân lí. Còn Diệt Đế là chân lí. Tại sao dám khẳng định Diệt Đế là chân lí?

-       Thứ nhất kinh thường nhắc đến bốn chân lí của Phật giáo.

-       Thứ hai là bài kinh xác định là diệt hết lòng ham muốn.

-       Thứ ba là chỉ định trạng thái hết lòng ham muốn, đó là tâm thanh thản, an lạc và vô sự.

-       Thứ tư là trạng thái tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

Bốn điều nêu trên đây nếu người nào chưa tu cũng nhận ra được, đó là một trạng thái thật sự của con người, chứ không phải là cảnh giới bên ngoài, là con người không ai là không nhận ra được Chỉ có sư đệ THÔNG QUÁN hiểu lầm tưởng Niết Bàn mà Thầy THÔNG LẠC nói nhập là cảnh giới bên ngoài như cõi Cực Lạc hay cõi Thiên Đàng.

Nghe đến chỗ này các huynh đệ đều cởi mở, vui vẻ.

Sáng hôm sau Thầy THÔNG LẠC đã chào Sư phụ và từ giã huynh đệ ra về. Chúng tôi trân trọng xá Thầy, một đại sư huynh đã cho chúng tôi tấm gương tu hành lớn lao. Chúng tôi cũng nguyện theo tấm gương tinh tấn của Thầy vững bước đi theo đường mà Sư phụ đã vạch lối, con đường thiền giáo đồng hành mà trong đó việc tìm lại căn bản giáo lý đức Phật là điều quan trọng.

image034

 

HẾT PHẦN I

 

 

 

 

 

 

PHẦN II

TRỞ VỀ ĐẠO PHẬT

 

tre-0

 

 LỜI NÓI ĐẦU

caytre3

Trở Về Đạo Phật” là một tập sách mỏng do Bác sĩ Trí và Đức Tâm ghi lại trong một cuộn băng cassette đã được ghi âm buổi tọa đàm của Trưởng Lão Thích Thông Lạc với quý tu sĩ Tăng, Ni Đại thừa, Thiền tông và Phật tử Thành phố Hồ Chí Minh tại Tu Viện Chơn Như.

“Trở Về Đạo Phật” là một lời khuyên chân thành với tâm tha thiết đầy lòng yêu thương của Trưởng Lão Thích Thông Lạc với những tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử đang tu hành theo Phật giáo.

Thấy những lời khuyên quá thành  thật này đối với mọi người có lợi ích rất  lớn, nhất là cho những hàng tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử có quyết tâm hành trì để tìm cầu sự giải thoát ngay liền.

“Trở Về Đạo Phật” lời nói nhẹ nhàng, so sánh cụ thể, làm sáng tỏ thiền định của Phật giáo nguyên thủy và thiền định của kinh sách phát triển Đại thừa, khiến cho những ai có kinh nghiệm tu hành thì biết ngay mình đang tu tập những pháp môn của ngoại đạo mà từ lâu cứ ngỡ rằng mình tu hành theo chánh Phật giáo. Sự đau lòng nhất của chúng ta là bị kinh sách phát triển lừa đảo mà không biết. Cho nên, khi nghe được những lời khuyên dạy này chúng ta như người mù được sáng mắt, như người đang nằm mộng choàng tỉnh dậy.

Nhờ đọc tập sách “Trở Về Đạo Phật” chúng tôi thấy con đường Phật giáo mở bày một lộ trình thẳng tấp dẫn đến cứu cánh rõ ràng, cụ thể, chứ không còn mơ hồ, trừu tượng, ảo giác như các pháp môn của kinh sách phát triển.

Thấy sự ích lợi của những lời khuyên nhủ như vậy, nên chúng tôi xin phép Trưởng lão cho in tập sách này để mọi người cùng đọc; cùng được lợi ích như nhau mà không còn sợ bị giáo pháp ngoại đạo lừa đảo nữa. Trước kia tập sách này được in chung trong Giáo Án Tu Tập  Cho Người Cư Sĩ  tập 3.

Với tập sách mỏng này chúng tôi ước nguyện cho mọi người khi được đọc, nó sẽ mang lại cho tu sĩ Tăng, Ni và quý Phật tử một niềm vui an lạc với tâm hồn thanh thản và vô sự.

Từ đây, đạo Phật chỉ còn có một con đường duy nhất, đó là con đường Giới, Định, Tuệ mà Trưởng lão Thích Thông Lạc đã khai quang con đường ấy cho chúng ta và cho bao thế hệ ở ngày mai khi đến với đạo Phật không còn ngỡ ngàng, lo lắng sai pháp như Thầy Tổ của chúng ta trước kia nữa.

Thay mặt mọi người, chúng tôi xin thành thật biết ơn Bác sĩ Trí và Đức Tâm, những người đã ghi chép lại lời dạy này của Trưởng lão Thích Thông Lạc. Nếu trong tập sách này có điều chi sơ sót, xin quý vị vui lòng góp ý và bỏ qua cho. Chân thành cảm ơn quý vị. Chúc quý vị may mắn trên bước đường tu học sớm thành đạt viên mãn.

Kính ghi,

Trưởng lão Thích Thông Lạc

 

 

TRỞ VỀ ĐẠO PHẬT

j88Pvn0I

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử! Quý vị đã không ngại đường xá xa xôi, dành những thì giờ quý báu, cùng bỏ những công ăn việc làm để huân tập về Tu Viện Chơn Như với lòng chân thành ngưỡng mộ sự tu hành của chúng tôi và cũng để tìm hiểu pháp môn tu hành của chúng tôi có kết quả như thế nào? Và kết quả ấy có lợi ích gì trong đời sống thiết thực của con người hay không? Sự giải thoát kết quả mà chúng tôi đã tu tập có phải là sự giải thoát của đạo Phật hay không?

Để trả lời những câu hỏi thắc mắc trên đây của quý vị, tức là chúng tôi kể lại sự tu hành của chúng tôi và chính cũng là giải được mối nghi ngờ trong tâm của quý vị.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử! Từ lâu quý vị đã hướng thân tâm của mình về Phật pháp, từng đi chùa lễ Phật, tụng kinh, bái sám; từng đi nghe thuyết giảng kinh sách; từng để tâm nghiên cứu học hỏi giáo pháp của đức Phật, với một lòng chân thành. Nhưng quý vị rất đau lòng và nghi ngờ Phật pháp, vì tận mắt quý vị đã chứng kiến mắt thấy, tai nghe, quý vị đã nghe các bậc chân tu mà quý vị đã từng gặp trong cuộc đời của mình. Các vị ấy là những bậc Thầy Tổ của quý vị, đã từng hướng dẫn cho quý vị biết Phật pháp, biết tu học Phật pháp, đã từng chỉ dạy cho quý vị biết cách thức tu tập như: niệm Phật, niệm chú, tụng kinh, ăn chay, ngồi thiền, làm các điều lành và còn dạy cho quý vị biết thiền quán xả tâm, tham thiền nhập định theo thiền Đông Độ, thiền Yoga, v.v.. Mỗi vị đều đem hết khả năng tu học của mình chỉ dạy cho quý vị để mong quý vị đạt được sự giải thoát. Nhưng khi ra đi vào cõi Niết bàn, các vị ấy không giải thoát, phải chịu đau khổ trêngiường bệnh, nhức nhối khổ sở trong các cơn đau, mệt mỏi thở chẳng ra hơi, hay lẫn lộn quên trước, quên sau khi tuổi già sức yếu.

Suốt cuộc đời quý vị Phật tử đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh trạng đau lòng của những Thầy Tổ mình, giải thoát đâu không thấy, chỉ thấy toàn một sự đau khổ, thì làm sao quý vị không nghi ngờ Phật pháp được?

Ngược lại, những gì quý vị đã được học trong kinh điển nói về các Tổ và các Thiền sư tu như thế nào mà khi chết được tự tại làm chủ sanh tử luân hồi mà hiện giờ thì không thấy có ai tu tập được, hay đây chỉ là huyền thoại để lừa bịp người sau chăng?

image021

 

GIỚI, ĐỊNH, TUỆ

2095928095_da3cea6365

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử! Bây giờ chúng ta dừng lại chỗ này và trở lại vấn đề chính của buổi nói chuyện hôm nay.

Để trả lời câu hỏi thứ nhất: Pháp môn tu hành của chúng tôi là Pháp môn nào? 

Xin trả lời, chúng tôi tu hành theo pháp môn GIỚI, ĐỊNH, TUỆ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trước khi chưa tu, là một tăng sinh đang học Phật pháp, chúng tôi đã từng học qua những lời di chúc của đức Phật. Lời di chúc là lời dạy sau cùng của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết bàn. Lời di chúc thứ nhất đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, các con hãy lấy Giới Luật và Giáo Pháp của ta làm Thầy và làm chỗ nương tựa để tu hành vững chắc khi ta nhập Niết bàn”. Lời dạy này chúng tôi ghi khắc mãi trong tim, không bao giờ quên và cũng không bao giờ quên ông Thầy của chúng tôi là Giới Luật và giáo pháp, là chỗ nương tựa vững chắc cho sự tu hành của chúng tôi ngày mai.

Lời di chúc thứ hai Đức Phật dạy: “Giới Luật còn là Phật còn tại thế, Giới Luật mất là Phật mất”. Lời dạy này hình ảnh Giới Luật là hình ảnh của đức Phật, nên chúng tôi nghiêm khắc mình trong Giới Luật không để vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào. Chúng tôi lấy đó làm giai đoạn tu hành thứ nhất của mình.

Lời di chúc thứ ba: “Ta thành Chánh giác là nhờ tâm không phóng dật, các pháp lành đều nhờ đó mà sanh, các Tỳ kheo hãy nhớ lấy mà tu tập”.

Lời di chúc thứ tư, đó là lời di chúc không lời, khi nhập Niết Bàn, đức Phật nhập từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền, nhập đi nhập lại tới ba lần rồi mới chịu nhập Niết Bàn.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, ở đây đức Phật muốn nhắc nhở người sau phải ráng dụng công tu tập thiền định này, đừng bao giờ tu tập những loại thiền định nào khác. Vì trong cuộc sống hiện giờ của chúng ta, trong thời đức Phật đã qua và cũng như trong tương lai nhiều thế hệ ở ngày mai vậy, sẽ có biết bao nhiêu thứ thiền mà chẳng có thứ thiền nào đưa chúng ta đến sự làm chủ và giải thoát được thân tâm, nhất là chấm dứt sự tái sanh luân hồi. Cho nên, đức Phật đã xác định chỉ rõ có thứ thiền này mới làm chủ được sanh tử, tự tại bỏ báo thân và chấm dứt được tái sanh luân hồi mà thôi. Vậy xin quý vị Phật tử hãy lưu ý chỗ này. Cho nên, khi nhập xuôi nhập ngược ba lần xong, đó là Ngài di chúc cho chúng ta phải nhập Thiền Thứ Tư mới xả bỏ báo thân, và mới nhập vào Niết Bàn.

Thể theo những lời di chúc này chúng tôi tu tập ngày đêm không biết mệt mỏi, ốm đau quyết không bỏ giờ tu suốt sáu tháng rưỡi trời trong thất chịu từng đắng cay gian khổ để chiến đấu với tạp khí thói quen, tật xấu; với nghiệp lực quá nặng nề; với tâm tham ái, dục vọng dẫy đầy. Nhiều khi chúng tôi tưởng chừng không thắng nổi. Nhưng với sức bền lòng như sắt đá; với tinh thần kiên cường, gan dạ dũng cảm giữ thân tâm sừng sững như núi đá; với nghị lực dũng cảm quyết liệt xông tới như thác đổ, chúng tôi đã chiến thắng giặc sinh tử, làm chủ thân tâm của chính mình và chứng nghiệm được sự giải thoát của đạo Phật một cách hùng hồn anh dũng.

image021

 

MỤC ĐÍCH GIẢI THOÁT

ThienDuong-8

Để trả lời câu hỏi thứ hai: Sự tu hành của chúng tôi có kết quả như thế nào?

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử! Giới luật là pháp môn tu tập để ly dục ly ác pháp, nên giải thoát được đời sống của con người ra khỏi mọi ham muốn và mọi sân hận, phiền não khổ đau. Chúng tôi đã chứng nghiệm được điều này rất thực tế và cụ thể. Ví dụ, trước kia chúng tôi ăn ngày ba bữa, bây giờ ăn ngày một bữa, không ăn uống lặt vặt phi thời gì hết, cơ thể thì rất khỏe mạnh, ít hay bệnh tật, suốt ngày không lo ăn uống gì cả, tâm ít vọng tưởng, ít ngủ. Ăn ngày một bữa, chúng tôi tìm thấy giải thoát được hai bữa ăn và đầu óc ít nghĩ bậy bạ, tâm không ham muốn và không ham ngủ. Sự giải thoát chân thật cụ thể này thì quý vị không thể nào phủ nhận được. Cũng từ trong sự tu giới luật này chúng tôi đã tìm được giải thoát nhiều điều trong đời sống hàng ngày. Nhưng thì giờ có hạn không cho phép chúng tôi kể dông dài làm mất thì giờ của quý vị vô ích.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, thiền định của đạo Phật từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền là những pháp môn giải thoát tự tại sanh tử làm chủ sự sống chết của thân tâm chúng tôi nhận biết rõ ràng bằng cách chứng nghiệm rất cụ thể.

Ví dụ, chúng tôi nhập Tứ Thiền suốt một tuần lễ, nửa tháng hoặc một tháng, không ăn uống gì hết, không đi đại tiểu tiện, không mệt nhọc, không có đau khổ và cũng không chết. Xuất định, chúng tôi cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng, an lạc. Đó là một bằng chứng rất cụ thể.

Như vậy, sự tu hành của chúng tôi về đời sống đã có giới luật làm khuôn mẫu mực cho cuộc sống, nên tâm lúc nào cũng ly dục ly ác pháp, vì thế thân tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ. Còn về phần chết chúng tôi đã có Tứ Thần Túc nên làm chủ được hơi thở một cách dễ dàng. Vì thế, làm chủ sự chết không còn khó khăn nên chúng tôi muốn chết hồi nào cũng dễ dàng chết và muốn sống hồi nào cũng dễ dàng sống như trở bàn tay; như lấy đồ trong túi áo. Do tu tập đúng pháp của đức Phật, chúng tôi đã làm chủ sự sống chết theo ý muốn của mình. Quý vị có tin không? Nếu không tin thì quý vị cứ xét qua đời sống giới luật đức hạnh của chúng tôi thì rõ. Nhưng riêng chúng tôi tu hành được giải thoát làm chủ sự sống chết là mãn nguyện, còn tin hay không tin đó là quyền của quý vị.

Sau khi có đủ năng lực làm chủ thân tâm, chúng tôi dùng năng lực ấy quan sát không gian và thời gian, thọ hưởng an lạc suốt trong tuần lễ chứng đạo. Vì thế, trong thời gian ấy chúng tôi thực hiện Tam Minh: từ Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh đến Lậu Tận Minh. Lậu Tận Minh là trí tuệ cuối cùng trong sự tu tập của chúng tôi. Đến đây chúng tôi đã có đủ: GIỚI, ĐỊNH, TUỆ theo con đường tu tập mà đức Phật đã vạch ra chỉ dạy từ ngàn xưa.

image021

 

SỰ LỢI ÍCH CỦA PHẬT GIÁO

Thanh than-6

Để trả lời câu hỏi thứ ba là kết quả ấy có ích lợi thiết thực giải thoát cho đời người hay không?

Đạo Phật là đạo đức nhân bản - nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai, nó là đạo đức của loài người trên hành tinh này, nhờ nó mà con người mới thoát ra khỏi bản tính của loài động vật. Vì thế, có lý đâu mà không lợi ích thiết thực giải thoát cho mọi người. Tu tập ít có lợi ích ít; tu nhiều có lợi ích nhiều. Vì nó là đạo đức nhân bản của loài người; nó là khuôn vàng, thước ngọc đo sự sống của con người mới xác định con người thật là con người hay là con người còn mang bản chất của loài cầm thú. Cho nên, làm người cần phải tu học không thể phủ nhận và từ chối đạo đức này được.

image021

 

 PHẠM HẠNH

hoa-sen

Để trả lời câu hỏi thứ tư: Sự giải thoát đó có phải của đạo Phật hay không?

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử! quý vị hãy vui lòng đọc lại các kinh điển nguyên thủy của đạo Phật, rồi nghiệm lại đời sống của đức Phật và đời sống của chúng tôi. Đời sống của đức Phật:

1-    Ăn ngày một bữa, không ăn uống lặt vặt phi thời.

2-    Ngủ ít, thường đi kinh hành suốt đêm (đi trong chánh niệm tỉnh giác; đi trong sự quán thân trên thân của Tứ Niệm Xứ để nhiếp phục tham ưu).

3-    Không có của cải, châu báu, ngọc ngà, tiền bạc và cũng không có chùa to, Phật lớn sang đẹp.

4-    Sống lấy gốc cây làm giường nằm, chết dưới gốc cây (Sa la song thọ).

Hiện giờ, chúng tôi cũng sống như vậy: không ăn uống lặt vặt phi thời. Nhà ở bằng cây tầm vông, vách bằng liếp đan và nếu đủ duyên chúng tôi sẽ sống trong hang núi và cũng chết dưới gốc cây như đức Phật, ngủ ít đi kinh hành nhiều. Đó là lối sống của đức Phật và lối sống của chúng tôi đều giống nhau. Cho nên, quý vị không thể nào phủ nhận rằng chúng tôi sống và tu sai pháp Phật được.

Phần làm chủ thân tâm thứ hai cũng rất cụ thể. Đức Phật tuyên bố trước mọi người còn ba tháng nữa Ta sẽ nhập Niết Bàn. Điều này đức Phật đã giữ đúng lời hứa. Chúng tôi đã nhập được TứThiền phá được thọ tịnh chỉ được hơi thở, cho nên chúng tôi cũng làm được điều này khi chúng tôi muốn dứt bỏ báo thân. Nhờ tu tập đạt được kết quả như vậy, nên chúng tôi rất mãn nguyện với sự tu tập của mình.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử! Chúng tôi có sống và làm khác đức Phật hay không? Ở đây quý vị không thể nào viện một lý do gì bảo rằng chúng tôi tu sai pháp Phật được. Xưa đức Phật đã làm được điều gì thì bây giờ chúng tôi cũng làm được như vậy. Tuy rằng chúng tôi không giảng kinh thuyết pháp như các thầy khác nhưng chúng tôi thân giáo bằng hành động thân, khẩu, ý; bằng sự sống của chúng tôi để hướng dẫn người qua kinh nghiệm tu hành bản thân của mình hơn là ngôn ngữ. Vì sự hướng dẫn này, theo chúng tôi nghĩ là thực tế và cụ thể hơn là thuyết pháp bằng lời nói suông.

Trên đường tu theo đạo Phật chúng tôi tu hành như vậy, không còn sợ sai trái với đạo Phật và không còn sợ mọi ảnh hưởng của các tôn giáo khác đang đồng hóa đạo Phật.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, khi nghe chúng tôi nói đến đây, quý vị nên nghỉ xả hơi một chút để ngồi suy ngẫm lại những gì chúng tôi đã nói ra những kết quả đời sống phạm hạnh của chúng tôi với đời sống của đức Phật có đúng hay sai. Sai thì xin quý vị cho biết thêm những ý kiến để chúng tôi chứng minh những lời Phật dạy, khiến cho quý vị không còn nghi ngờ nữa.

image021

 

GIỚI LUẬT LÀ MỘT
VỊ THẦY
ĐƯỢC ĐỨC PHẬT DI CHÚC

image

Sau thời gian nghỉ xả hơi, bấy giờ chúng ta lại tiếp tục câu chuyện còn đang dở dang lúc nãy...

Sau khi đã được trả lời những câu hỏi mà bấy lâu nay quý vị đã từng ôm ấp trong lòng, hằng chờ đợi đến ngày ra thất của chúng tôi. Nay quý vị đã được giải bày thông suốt. Nhưng chúng tôi biết chắc quý vị còn một điều muốn thưa hỏi, đó là con đường thiền Đông Độ mà Thầy chúng tôi (H.T.T.T) đã dày công triển khai và chấn hưng suốt 24 năm nay, kể từ năm 1970 cho đến nay, quá trình thời gian rất dài. Nhưng nhìn lại trong đó không thấy có kết quả gì thì mọi người cũng phải nghi ngờ, thời gian là một xác chứng cụ thể của con đường thiền đó, mà không chứng minh được, do đó quý vị phải có một mối nghi trong tâm là đúng, nhưng còn e ngại chưa muốn hỏi chúng tôi, chúng tôi hứa sẽ giải nghi cho quý vị nếu có đủ thì giờ bằng không chúng ta phải chờ một dịp khác. Bây giờ chúng ta trở lại vấn đề.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, nãy giờ quý vị đã suy ngẫm những gì chúng tôi đã nói, chúng tôi xin nhắc lại quý vị đã biết ai là Thầy của quý vị, người đó sẽ dẫn dắt quý vị trên đường tu theo đạo Phật mà không hề sợ lạc lối. Chúng tôi xin hỏi quý vị một lần nữa: Thầy của quý vị là ai? Quý vị cứ trả lời xem, đừng dựa vào huyền sử 33 vị Tổ sư thiền Đông Độ và Trung Hoa, vì đó là sự dựng lên những trang sử không có thật của người sau.

Kính thưa quý vị, nãy giờ quý vị không trả lời là vì quý vị còn dè dặt, để chúng tôi trả lời thay cho quý vị.

Kính thưa quý vị, căn cứ theo kinh sách Nguyên thủy thì Thầy của quý vị không phải là chúng tôi. Chúng tôi là những con người bằng xương, bằng thịt như quý vị, chúng tôi và 33 vị tổ sư thiền Ấn Độ và Trung Hoa cũng không được đức Phật chỉ định làm người thừa kế dẫn dắt quý vị trên đường tu học theo đạo Phật. Cho nên, quý vị đừng nương tựa theo chúng tôi tu hành cũng như các vị Tổ sư thiền. Nhất là nương tựa theo chúng tôi tu hành sẽ có nhiều điều bất lợi và khó khăn cho quý vị:

1-       Chúng tôi không phải là người thừa kế của đạo Phật, vì thế chúng tôi không đủ niềm tin đối với quý vị. Khi quý vị nghe người ta nói xấu chúng tôi, cho chúng tôi tu hành không đúng đạo Phật, tu theo ngoại đạo thì chừng đó quý vị còn có đủ niềm tin đối với chúng tôi nữa chăng?

2-       Thời điểm hiện giờ Phật giáo suy thoái. Người tu sĩ Phật giáo đắm danh, tham lợi, lòng ganh tị nhỏ nhen ích kỷ hẹp hòi và tinh thần tỵ hiềm cao độ.  

3-       Pháp môn tu hành của đạo Phật hiện giờ đã bị lẫn lộn nhiều pháp môn của ngoại đạo khó phân biệt tà chánh.

4-       Các bậc Tôn túc đi trước tu hành sai, người sau không dám sửa đổi sợ Thầy Tổ buồn phiền.

5-       Lòng người còn tham danh, đắm lợi, tham mê sắc dục không muốn rời xa 5 thứ dục lạc của thế gian (danh, lợi, sắc, thực, thùy).

6-       Đời người còn lạc hậu nặng lòng mê tín thường cầu khẩn bái lạy tụng kinh niệm chú lấy đức Phật làm chỗ tha lực nương tựa cứu khổ cứu nạn, chứ không tự lực cứu mình, khiến đạo Phật thành đạo Thần.

7-       Ham mê thần thông, bùa chú linh hiển, tin chuyện quá khứ vị lai.

8-       Lòng người bây giờ thiếu thành thật thường dối Thầy, dối Tổ, dối mình và dối người khác.

9-       Tham danh học thức cao chạy theo cấp bằng này, cấp bằng nọ.

10-  Những bậc chân tu không xu hướng chính trị bên này, bên kia thì bị cô lập mọi cách.

Do 10 điều trên đây quý vị không nên theo chúng tôi tu hành, vì theo tu hành rất khó khăn cho quý vị và chúng tôi. Vả lại theo chúng tôi tu hành đông đảo chắc chắn sẽ để lại một trang sử chia rẽ Phật giáo không tốt đẹp. Xưa Huệ Khả bị giết, Lục Tổ Huệ Năng bị hành thích, gần đây Tổ Sư Minh Đăng Quang bị bắt cóc mất tích, ông Đạo nằm Nguyễn văn Thế bị ám sát bắn chết tại chùa.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, người Thầy của quý vị không phải là chúng tôi mà chính Giới Luật. Giới Luật là người thừa kế của đức Phật và đã được đức Phật chỉ định trước giờ nhập Niết Bàn. Chính chúng tôi tu học cũng từ ông thầy Giới Luật mà có được như ngày hôm nay. Vậy quý vị hãy trở về nương tựa nơi ông Thầy Giới Luật của quý vị đi. Đừng nương tựa vào ai hết, dù bất cứ ông Thầy nào, họ là những con mọt kinh sách, chẳng có một chút kinh nghiệm gì trên đường tu tập. Họ chỉ nói bằng miệng mà cuộc sống tu hành của họ chẳng có ra gì, chỉ có miệng lưỡi. Họ đâu biết rằng kinh sách hôm nay là do tam sao thất bổn, có nghĩa là ba lần sao chép làm kinh mất gốc.

image021

 

TĂNG NI XEM NHẸ GIỚI LUẬT

27.jpg

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử, vả lại kinh sách còn do tưởng giải của người sau thêm bớt quá nhiều theo kiến thức hiểu biết của họ rồi cho rằng đúng, do đó họ đã làm lệch lạccon đường tu hành của đạo Phật ở đời sau. Họ không dám tu giới luật, lúc nào cũng tìm cách tránh né viện cớ này, cớ kia hoặc chạy theo con đường phá giới, phá oai nghi tế hạnh của đạo Phật.

Tóm lại, chẳng nghe ông Thầy Giới Luật nên tình trạng Phật giáo mới ra nông nỗi này. Họ dám bẻ vụn Giới Luật, biến Phật giáo thành Thần Giáo, ông Phật thành ông Thần. Hiện giờ chùa là nơi cúng bái cầu siêu, cầu an, cầu tài, cầu lợi, xin xăm bói quẻ cúng sao giải hạn, coi ngày giờ tốt xấu, dựng vợ gả chồng... Vì thế, chùa là nơi sinh hoạt mê tín dị đoan. Họ dám bẻ hỏng Giới Luật, biến chùa thành nghĩa địa nhà mồ vì tư lợi nhỏ mọn cá nhân để Phật tử tới lui cúng bái và giỗ chạp làm tuần, làm tự, cúng vong, tiễn linh lúc nào cũng ồn náo biến thành nơi phục vụ mê tín cho những người Phật tử còn lạc hậu; họ dám bẻ hỏng Giới Luật và giáo pháp của Phật, biến chùa thành khu du lịch để làm nơi ăn chơi của Phật tử, của khách hành hương tham quan du ngoạn. Bắt Tăng, Ni phục vụ cơm nước để được lòng Phật tử, được cúng dường; họ dám bẻ hỏng Giới Luật, biến chùa thành chỗ tổ hợp buôn bán làm tương, làm chao, làm đủ mọi thứ nghề nghiệp, biến tu sĩ thành công nhân sản xuất gia dụng, v.v.. còn đâu có những thì giờ để tu hành thật là phí uổng một đời người; họ dám bẻ hỏng Giới Luật, biến chùa thành cửa hàng ăn uống, bắt Tăng, Ni phục vụ còn gì thể thống đạo đức của người tu. Họ chỉ biết có tiền, có lợi mà không thấy việc làm của họ đúng hay sai; họ dám bẻ hỏng Giới Luật, biến chùa thành nông trại, tu sĩ thành nông dân để có miếng cơm manh áo hằng ngày không đúng tư cách của người tu sĩ. Họ lấy gương Bách Trượng một ngày không làm một ngày không ăn, sách động tu sĩ lao động để xây dựng chùa to Phật lớn như cung đình, lao tác quần quật như con ong và như vậy còn gì là đời tu của tu sĩ; họ dám bẻ hỏng Giới Luật, biến chùa thành cơ quan từ thiện xã hội, nay kêu đoàn Phật tử này quyên góp tiền bạc và đồ vật gia dụng đi cứu tế chỗ này, mai kêu đoàn Phật tử khác quyên góp tiền bạc và đồ vật gia dụng đi cứu tế chỗ kia. Họ đâu biết rằng bổn phận của họ là lo giải quyết sanh tử trước mắt thì Phật giáo mới còn, chứ đâu phải làm việc từ thiện này. Làm việc từ thiện này là của những người cư sĩ. Thời đức Phật còn tại thế, ông Cấp Cô Độc là người cư sĩ làm những việc từ thiện này nên mới có tên là Cấp Cô Độc, còn bây giờ Tăng, Ni là Cấp Cô Độc, là nhà từ thiện, họ không còn là những bậc Thánh Tăng và Thánh Ni nữa; họ dám bẻ hỏng Giới Luật, biến chùa thành Tuệ tĩnh đường, trạm y tế, bệnh viện, trạm xá, trường học, biến tu sĩ thành thầy thuốc ta, thuốc bắc, bác sĩ, y sĩ, dược tá, y tá, giáo viên,... khiến nơi tu hành mất hết vẻ tôn nghiêm thanh tịnh; họ dám bẻ hỏng Giới Luật, chuyên lo đào đất làm hồ, xây dựng chùa to tháp lớn, biến Tăng Ni thành lao công quanh năm suốt tháng lao động quần quật, còn sức đâu mà tu hành; họ dám bẻ hỏng Giới Luật đi quyên góp tiền Phật tử xây chùa to tháp lớn như đền đài cung điện các vua chúa và tạo cây cảnh vườn tược đẹp đẽ để quyến rũ Phật tử và khách tham quan, biến tu sĩ trở thành những lao công quét dọn công viên và chăm sóc cây cảnh.

Những việc làm này ngược lại đạo giải thoát của Phật; họ dám bẻ hỏng Giới Luật, đi khất thực không đúng oai nghi tế hạnh, xin tiền, xin đô la làm những việc đồi bại như những người ăn mày khất cái. Những hình ảnh này thật là đau lòng cho Phật giáo ngày nay.

Những điều quý vị đã làm ở trên đều phạm vào Giới Luật của đức Phật. Vì danh, vì lợi sang đẹp mà quý vị đã bắt chước các tôn giáo khác và người thế tục, những việc làm này không phải là tu sĩ Phật giáo làm. Nếu trong kinh sách của Phật có dạy làm những điều này là do những người sau họ bị ảnh hưởng của các tôn giáo khác mà thêm vào.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, những gì quý Thầy đã làm và chúng tôi đã nói ở trên không phải là những gì làm sai đối với thế gian, những người thế tục, nhưng chỉ là sai đối với đạo Phật, lại đúng đối với các tôn giáo khác, cho nên chúng tôi nói Phật giáo chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khác là vậy. Phật giáo chủ trương đường lối buông xả, mục đích của đạo Phật là để tìm giải thoát cho mọi cá nhân ra khỏi sự đau khổ, sanh, lão, bệnh, tử của đời người. Cá nhân được thoát khổ thì xã hội mới an vui. Cá nhân còn đau khổ thì quý vị có giải quyết từ thiện bằng cách nào thì xã hội vẫn còn đau khổ và còn hơn thế nữa. Tuy rằng trước mắt tạm thời quý vị an ủi họ một chút mà thôi vì bản chất dục vọng tham lam ham muốn ganh tị hơn thua gian dối xảo trá giết sinh linh ăn thịt chúng sinh của loài người ngàn đời không bao giờ từ bỏ được. Do nguyên nhân này mà con người bóc lột lẫn nhau bằng mọi thủ đoạn mánh khóe gian xảo. Ngoài mặt làm ra vẻ thương yêu bác ái, nhưng còn bên trong toàn là gươm đao, súng đạn. Giai cấp bị bóc lột đứng lên đấu tranh để bảo tồn quyền lợi sống còn của mình, do đó thế giới mới có chiến tranh liên miên không nước này thì cũng nước khác. Vì thế, đạo Phật nhắm vào giải quyết cá nhân, giải quyết cá nhân là giải quyết xã hội. Cá nhân tốt thì xã hội mới tốt, cá nhân xấu thì xã hội xấu. Cá nhân hay tập thể làm từ thiện mà trong đó còn có danh cầu từ thiện thì không phải là từ thiện. Làm từ thiện để được tiếng thiện thì còn nghĩa lý gì là từ thiện. Làm từ thiện là do lòng yêu thương trước cảnh bất hạnh của những người khác.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử, vì việc làm từ thiện mà cá nhân và gia đình quý vị toàn là gặp đau khổ không thiện chút nào.

Kính thưa quý vị, những điều chúng tôi nói ở trên, Tăng, Ni hay là những người từng học Giới Luật của Phật, họ đều biết rất rõ những điều ngăn cấm này. Nhưng có điều hiện giờ sự tu hành của họ không có chất liệu giải thoát. Họ chỉ học lý thuyết suông nên họ phải chuyển qua làm những việc từ thiện này để tiêu thụ cái nợ đàn na thí chủ. Nếu không thì làm sao nuốt trôi được.

Giới Luật của Phật còn đó, nó là bậc Thầy của quý vị, nó thường ngăn cấm quý vị làm những điều sai, cớ sao quý vị không nương tựa vào ông Thầy của mình, để sửa những điều sai, để mình trở thành những người tốt có đạo đức, biết thương yêu sự sống của muôn loài. Ngược lại không nương vào Giới Luật mà lại nương tựa vào những Thần, Thánh, Quỉ, Ma hoặc những đấng sáng tạo ảo giác, để cho Phật giáo bây giờ mới ra nông nỗi này! Nếu quý vị tu hành đúng Giới Luật nghiêm khắc mình trong Giới Luật thì đó chính là con đường của đạo Phật, con đường giải thoát thật sự. Hình ảnh và đức hạnh giải thoát của quý vị là quý vị đã chấn hưng Phật giáo, chứ đâu phải cất chùa to tháp lớn mới gọi là chấn hưng, đạo Phật không cần những thứ này. Chỉ cần những hình ảnh và đức hạnh giải thoát của quý vị là quý vị làm sáng tỏ Phật Pháp, chứ đâu cần có Tăng Ni cho nhiều mà Giới Luật chẳng ra gì. Hình ảnh và đức hạnh giải thoát của quý vị là quý vị đã xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn một ngàn lần quý vị làm công tác từ thiện xã hội.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, đến đây chúng tôi xin quý vị nghỉ xả hơi một chút để suy ngẫm lại những điều chúng tôi đã nói.

image021

 

XẢ BỎ DANH LỢI

lotus-2

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, bây giờ chúng ta nên trở lại vấn đề. Sau khi được nghe chúng tôi kể lại sự tu hành và chỉ định ông Thầy của quý vị, quý vị phải cẩn thận nghiên cứu kỹ pháp môn nào tu được, pháp môn nào không tu được, pháp môn nào của chính đức Phật và pháp môn nào không phải của đức Phật và ai là ông Thầy của quý vị. Do sự cẩn thận suy xét chúng tôi tin chắc rằng quý vị sẽ hướng về chúng tôi. Nhưng kính thưa quý vị, chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo, chúng tôi đâu có chùa, đâu có chỗ ăn, chỗ ở cho quý vị, chúng tôi là những người ăn xin, ở trọ của người khác. Khi nghe chúng tôi nói đến đây quý vị rất lấy làm ngạc nhiên có phải vậy không? Tuy quý vị chưa dám nói ra, nhưng tự nghi vấn trong lòng rằng: Tu Viện Chơn Như trước mắt đây mà Thầy nói rằng Thầy không có chùa thì bảo sao chúng tôi tin được? Xin thưa với quý vị Phật tử, từ những khu đất rộng rãi này đến những ngôi nhà chư Tăng, Ni ở, cùng trai đường, nhà bếp, điện thờ Phật, Thiền đường, Tổ đường, phòng vệ sinh, phòng tắm, hồ nước và tất cả tài sản trong chùa đều của các cư sĩ như: Cô Út Diệu Quang ở đây, vợ chồng Chơn Tâm, Tâm Như, Tâm Giác, Như Trì, Như Lý, vợ chồng Minh Tâm, cô Diệu Tâm, Diệu Mỹ, ông Muời, Diệu Hương, vợ chồng Thiện Hiển, Ngộ Ngọc và Cháu Tùng, v.v.. Còn những cái ăn cái mặc hàng ngày cũng đều do các cư sĩ này và nhiều cư sĩ khác nữa. Từng thùng gạo, từng ổ bánh mì, từng chai nước tương, từng hạt muối, đường, sữa, trái cây, xà bông, bột ngọt, vải xồ, y áo và thuốc thang trị bệnh. Cho nên, chúng tôi đâu có gì để nuôi quý vị. Xưa, đức Thế Tôn không có nuôi một vị Tỳ kheo nào hết. Các vị muốn tu theo đạo Phật phải tự đi xin mà ăn. Chúng tôi bây giờ cũng vậy, là người xin ăn ở trọ. Chúng tôi đâu dám làm phiền những vị cư sĩ này, vì kinh tế gia đình của họ có mức độ.

Kính thưa quý vị, chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo không bao giờ dám mở miệng xin tiền, cất chùa hoặc xin tiền để làm những việc gì khác cho cá nhân mình. Vì đức Phật và Giới Luật không có dạy chúng tôi làm điều đó. Nếu quý vị Phật tử có nghĩ đến chúng tôi là những kẻ tu hành chơn chánh thì cúng dường cho chúng tôi được no lòng và y áo được lành lặn. Còn không cúng dường thì chúng tôi chịu đói lòng và rách nát. Dù sống trong cảnh trạng như vậy chúng tôi cũng chẳng hề mở miệng than thở xin xỏ cùng ai. Còn ngược lại, quý vị cúng dường mà không có tâm thành thì chúng tôi thà chịu đói chứ không thọ dụng. Cúng dường những vật dụng không đúng chánh pháp thì chúng tôi cũng chẳng dùng. Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo nghiêm khắc mình trong Giới Luật không thể dùng những lời hoa mỹ đẹp đẽ giả dối đạo đức để lừa gạt người, làm danh, làm lợi cho mình. Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo không dám dùng những điều mê tín, dị đoan bùa linh, chú thuật giỏi, nói chuyện quá khứ vị lai như coi bói, xem tướng, coi sao, giải hạn để gạt người bằng cách vô lương tâm, gây tạo sự mê tín cho muôn người là điều bất chánh phi đạo đức. Chúng tôi là những tu sĩ Phật giáo không thể tổ chức hành hương đi chỗ này, chỗ kia hoặc đi mười chùa, hai mươi chùa để khéo léo móc túi tiền của Phật tử ham vui thích đi.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử, vì thế chúng tôi không có chùa, không có cơm để ban cho quý vị ăn, không có áo để cho quý vị mặc. Chúng tôi là những người giải thoát hoàn toàn không có gì cả ngoài cái bát để ăn cơm hàng ngày và vài bộ y áo để mặc kín thân. Nếu quý vị muốn tu theo chúng tôi thì chỉ khi nào có những vị cư sĩ tự phát tâm cúng dường, chứ quý vị không được kêu gọi họ. Khi nào quý vị có chỗ ăn chỗ ở thì quý vị thỉnh mời chúng tôi về đó. Chúng tôi sẽ cho người hướng dẫn quý vị tu hành. Khi quý vị tu xong thì cũng là lúc chúng tôi sẽ liền rời khỏi nơi đó và ẩn mình trong hang đá gốc cây. Chúng tôi là những người đã sống buông xả hết, vì thế chúng tôi được tự tại giải thoát không còn vướng bận chuyện trần ai. Khi đủ duyên chúng tôi hướng dẫn quý vị, thiếu duyên chúng tôi ẩn mình trong núi hoặc nơi thanh vắng ít người, quý vị khó lòng mà tìm. Sau ngày ra thất quý vị có về Chơn Như nhưng quý vị cũng khó mà gặp lại chúng tôi.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và Phật tử, nếu quý vị muốn học kinh nguyên thủy thì quý vị đến Hoà thượng Thích Minh Châu ở Thiền Viện Vạn Hạnh thành phố H.C.M, nếu quý vị muốn tu Thiền Đông Độ thì quý vị hãy đến Hoà Thượng Thích Thanh Từ ở Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt, nếu quý vị muốn tu theo Tịnh Độ thì quý vị hãy đến Hoà Thượng Thích Trí Tịnh ở chùa Vạn Đức Thủ Đức, nếu quý vị muốn tu theo Mật tông thì quý vị hãy đến Hòa Thượng Thích Tịch Chiếu ở Bình Dương, nếu quý vị muốn tu theo Thiền đốn ngộ thì quý vị hãy đến Hòa Thượng Bửu Thắng ở Gò Công, nếu quý vị muốn tu theo Thiền Công Án thì quý vị hãy đến Hòa Thượng Duy Luật ở chùa Từ Ân Chợ Lớn thành phố H.C.M. Tất cả những vị này sẽ chỉ dạy cho quý vị đúng với sở nguyện của mình.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử, tại sao Tu Viện Chơn Như  không đề Thiền Viện Chơn Như? Chúng tôi ở đây tu theo ba Pháp môn Giới, Định, Tuệ nên không thể nào đề Thiền viện được, vì thế chúng tôi dùng chữ Tu Viện mới đúng nghĩa của ba Pháp môn này. Ngày xưa Đức Phật không tự xưng mình là Thiền sư mà chỉ xưng mình là bậc Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử, một sự vô ý hay hữu ý mà người ta chạy theo xu hướng Thiền tông rầm rộ rồi tự đặt tên chùa là Thiền viện này, Thiền viện nọ để thu hút lòng hiếu tu thiền của người Phật tử. Chúng tôi tu theo đạo Phật, không bị mọi xu hướng của thời đại và chạy theo mọi phong trào của quần chúng ảnh hưởng. Chúng tôi luôn luôn tự xét mình làm cái gì đúng và làm cái gì sai để không lầm lỗi, để không bị ảnh hưởng mọi phong tục tập quán của con người. Vì vậy, tên Tu Viện Chơn Như vẫn đứng vững vàng không bị ảnh hưởng của Thầy Tổ. Chùa xây cất bằng tầm vông liếp đan, nhưng mãi mãi muôn đời người ta sẽ ghi nhớ không quên.

image021

 

CHÚNG TÔI KHÔNG PHẢI
LÀ PHẬT, BỒ TÁT, A LA HÁN

home (7)

Kính thưa quý vị tu sĩ Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử, hôm nay đã được nghe chúng tôi kể lại sự tu hành xin quý vị đừng nghĩ rằng chúng tôi là Phật, là Bồ Tát, là A La Hán. Chúng tôi tu hành chẳng có chứng đắc gì cả. Chỉ hằng ngày tu tập làm chủ thân tâm của mình. Lâu ngày chúng tôi làm chủ được nó nên không thể nào gọi là Phật, là Bồ Tát, là A La Hán, vì chúng tôi thấy mình cũng bằng xương, bằng thịt như chính quý vị vậy, cũng cười, cũng nói, vui vẻ như quý vị. Vì thế, chúng tôi chẳng phải Phật, Bồ Tát, A La Hán, chúng tôi chỉ là con người như bao nhiêu người khác, nhưng nhờ tu tập làm chủ thân tâm, chúng tôi trở thành con người biết cách làm chủ mình nên tâm không buông lung, phóng dật, thân không hành động thô ác, miệng không nói lời hung dữ gian dối, xảo trá, ý không khởi niệm xằng bậy.

Chúng tôi cũng chẳng phải là Thánh Đức, Hiền Nhân, Siêu nhân, chúng tôi là con người bình thường như bao con người khác, nhưng có điều chúng tôi biết chắc rằng chúng tôi không bao giờ làm khổ mình, khổ người và cũng biết chắc rằng chúng tôi chẳng có thần thông phép tắc gì cả. Chúng tôi không thể kêu mâ