ĐẠO ĐỨC NHÂN QUẢ

TẬP I 

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Ấn bản điện tử được đăng tải tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

 

 

 

 

 

V́ sự sống của ta, sao ta nỡ

sống trên đau khổ của muôn loài vạn vật!

 

 

 

 

MỤC LỤC

Mục lục  1

Lời nói đầu. 1

Chương I 1

Ḷng yêu thương. 1

Lộ tŕnh nhân quả. 1

Nói dối mất niềm tin của mọi người 1

Nhân quả quá khứ là nền tảng cho nhân quả hiện tại 1

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Bước qua đầu thiên niên kỷ thứ ba cuối thiên niên kỷ thứ hai, quán xét lại quê hương của chúng ta, đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, nhất là thanh thiếu niên Việt Nam nói riêng, nói chung là thanh thiếu niên toàn thế giới, đạo đức đang trên đà xuống dốc quá mạnh.

Nh́n con cháu của chúng ta đang mất dần những hành động đạo đức làm người, dần dần biến những hành động ấy trở thành những hành động côn đồ, hung ác chẳng khác nào như loài ác thú và c̣n ác độc hơn giống như loài ác quỷ. Nếu ai đọc báo chí Công An th́ sẽ thấy rơ những tin tức thường xảy ra khắp trong nước. Nếu không có mạng lưới Công An và Tổ Tự Quản giữ ǵn trật tự an ninh th́ thanh thiếu niên c̣n tệ hại hơn nhiều.

Là con người phải có t́nh thương, không những thương ḿnh, thương những người thân của ḿnh mà c̣n phải thương mọi người, thậm chí như người ta c̣n phải thương tất cả muôn loài chúng sanh. V́ mỗi loài vật đều được sanh ra như chúng ta, cũng từ trong chiếc nôi nhân quả, mà từ chiếc nôi nhân quả sanh ra th́ tất cả muôn loài đều phải khổ như nhau, nhưng chỉ có loài khổ nhất đó là loài người, v́ loài người có một trí tuệ hiểu biết hơn muôn loài vật khác.

Là ông bà, cha mẹ, cô bác, anh em, chị em, chúng ta phải có t́nh thương và mang t́nh thương ấy đến với con cháu của chúng ta.

Khi khoa học kỹ nghệ hiện đại hóa, đời sống vật chất tăng cường, phục vụ cho con người đủ mọi thứ dục lạc, khiến cho con cháu của chúng ta đắm mê, chạy theo những vật chất dục lạc đó để trở thành những con người đồi trụy, trụy lạc, rượu chè, hút sách, bài bạc, x́-ke, ma túy, đĩ điếm, trộm cướp, móc túi, ăn xin, thậm chí c̣n tệ hơn nữa, giả dạng tu sĩ Phật giáo đi xin tiền bằng cách này, bằng cách khác và c̣n tạo ra nhiều cách đi khuyên góp làm chùa, đúc chuông, tượng Phật, v.v.. đó là những mánh khóe lừa đảo Phật tử chứ trong kinh không có dạy điều này. Xưa trong thời Đức Phật c̣n tại thế, cốc,[1] am, tranh lá của chúng Tỳ-kheo hư dột nát, nhà vua thấy thế hứa sẽ cất lại cho chúng Tăng, nhưng v́ bận việc nước nhà vua quên mất, đến chừng mùa mưa tới, nông dân sắp sửa làm mùa mà không có mưa nên báo cáo cho nhà vua hay. Lúc bấy giờ nhà vua nhớ lại ḿnh chưa cất cốc, am cho chúng Tỳ-kheo.

Sau khi cất cốc, am xong, trời liền mưa xuống. Câu chuyện này chứng tỏ trong thời Đức Phật, cốc, am tuy hư dột nát nhưng không hề mở miệng xin. Người cư sĩ có bổn phận trợ giúp chúng Tăng tu tập, thấy nhà hư dột nát là tự phát tâm cúng dường cất lợp lại, c̣n bây giờ chùa c̣n tốt đập phá xin tiền xây cất lại làm cho đẹp cho sang. Hạnh thiểu dục của người tu sĩ lấy gốc cây làm giường nằm, c̣n bây giờ th́ khác. Đời sống tu sĩ vật chất quá đầy đủ, giường tre lá xấu không chịu nằm đ̣i giường cao rộng lớn. Thấy đời sống của tu sĩ hiện giờ th́ biết đạo đức của người tu sĩ không c̣n, chỉ biết đ̣i hỏi vật chất cho nhiều. V́ thế, làm sao có giải thoát. Cuộc sống đời đạo giống nhau không khác.

Những hành động tệ hại đó đă làm mất đạo đức và những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc chúng ta.

Đối với dân tộc Việt Nam, nó có riêng một nền đạo đức, đạo đức biết tôn trọng, biết cung kính và biết thương yêu Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, v.v.. Đó là đạo đức về ḷng thương yêu. Đạo đức thương yêu này chính là t́nh yêu dân tộc, t́nh yêu Tổ Quốc được gắn liền với t́nh cảm huyết thống tức là đạo đức về Tổ Tiên nên được mọi người gọi dân tộc Việt Nam có Đạo Thờ Ông Bà, là đạo đức lấy t́nh thương làm gốc mà người danh tướng Việt Nam Trần Hưng Đạo đă thể hiện đạo đức đó: “Quên thù nhà, lo việc nước”.

Đến với một ngôi nhà người Việt Nam chắc chắn chúng ta sẽ thấy bàn thờ Ông Bà Tổ Tiên là trên hết, được đặt nơi trang nghiêm nhất trong nhà. Bàn thờ đó nói lên tinh thần đạo đức thương yêu của người Việt “Uống nước nhớ nguồn”.

Cho nên, dân tộc Việt Nam có một nền đạo đức sâu xa từ trong loài động vật. V́ loài động vật nào cũng có ḷng thương yêu nhưng chúng không phát triển đạo đức yêu thương đó, v́ chúng không trí tuệ, riêng loài người th́ đạo đức yêu thương đó được phát triển, nhưng vô t́nh chúng ta đă đặt sai hướng đạo đức yêu thương nên thường làm khổ cho nhau. Sau này chúng tôi sẽ dạy cách thức đặt đạo đức yêu thương này đúng chỗ sẽ giúp cho quư vị không c̣n làm khổ ḿnh khổ người.

Đạo đức về t́nh thương yêu không phải ai ban cho chúng ta mà từ trong môi trường sống đă có đạo đức t́nh thương ấy. Trong Áo Nghĩa Thư thuộc triết học văn minh Ấn Độ, trong tạng kinh Vệ Đà của Bà La Môn Giáo có dạy: “Từ t́nh thương chúng ta sanh ra”.

Đúng vậy! Trong nhân quả có thiện có ác; thiện là ḷng yêu thương hay gọi là đạo đức về ḷng thương yêu; đạo đức về ḷng thương yêu th́ không làm khổ ḿnh, khổ người.

Bởi vậy, luật nhân quả chỉ duy nhất có một đạo đức về t́nh thương mà thôi, nhưng v́ chúng ta đặt sai hướng mà thành ra đau khổ cho ḿnh cho người như chúng tôi đă nói ở trên nên gọi nó là ác pháp. Ác pháp không tự nó có mà do t́nh thương đặt sai hướng, t́nh thương đặt sai hướng là chỗ không đạo đức, đạo đức mà có được làm người là người phải thông suốt đường đi của nhân quả mới đặt t́nh thương đúng chỗ, c̣n không hiểu đường đi của nhân quả th́ chúng ta sẽ đặt sai t́nh thương, từ đó chúng ta đă làm khổ cho nhau, và chính như vậy là không có đạo đức.

Cả ngàn năm cai trị đất nước chúng ta, người Trung Hoa mang văn hóa đến truyền dạy dân bản xứ, do đó Nho giáo được phát triển. Đạo đức của Nho giáo vốn dạy người b́nh gia trị nước, lấy tam cang ngũ thường làm tiêu chuẩn đạo đức làm người, nhất là ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; trong nhân, nghĩa, lễ, trí, tín rất gần với đạo đức thờ Tổ Tiên Ông Bà, nên dân tộc ta tiếp nhận một cách dễ dàng.

Ngược lại Phật Giáo Đại Thừa từ Ấn Độ truyền sang với những thần thông linh hiển: Lĩnh Nam Trích Quái đă cho chúng ta biết là truyền thống Phật giáo mà Chử Đồng Tử  tiếp thu là một truyền thống Phật giáo quyền năng, đề cập đến những vấn đề linh dị và thần thông. Truyền thống Phật giáo này, như ta sẽ thấy, xuất hiện trong Mâu Tử cũng như Khương Tăng Hội mà tồn tại cho đến thời một truyền thống mới, Phật giáo mới ra đời, đó là truyền thống Phật giáo thiền của Pháp Vân. Cần nhấn mạnh Phật giáo quyền năng này cho đến thế kỷ thứ 6 được bổ sung bởi truyền thống Phật giáo thiền”. Trên đây là một đoạn trong cuốn Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát biên soạn. Chúng ta nhận xét Phật giáo quyền năng là một thứ huyễn hóa lừa đảo, lường gạt người như trong kinh Nguyên Thủy Đức Phật đă xác định: Có ba loại thần thông:

1-       Thần thông biến hoá.

2-       Thần thông kư thuyết.

3-       Thần thông giáo hoá.

Hai loại thần thông trên Đức Phật cho đó là thứ huyễn hoá lừa đảo không chấp nhận. Đức Phật chỉ chấp nhận loại thần thông thứ ba, tức là đức hạnh không làm khổ ḿnh, khổ người.

Những loại thần thông trên phù hợp với sự mê tín của dân gian, khiến cho người dân đắm mê, chấp nhận một cách dễ dàng. Bởi vậy, các nhà chùa ở Việt Nam, nhất là các chùa ở miền Bắc, mọi sự mê tín đều từ trong đó mà ra, nhưng càng ngày càng tạo ra nhiều điều mê tín, lạc hậu kỳ quái đủ mọi cách, mọi thứ. Và nơi đâu nghe có linh hiển và thần thông là người ta tập trung đến nơi đó trùng trùng lớp lớp để bái lạy, cầu khẩn, v.v..

Thần thông và sự linh hiển đó có giúp ǵ cho ai được khi nhân quả của họ đă tạo ra th́ họ phải gánh chịu chứ sự linh hiển hay thần thông đó có giúp ǵ được cho chúng ta đâu. Nếu giúp được cho quư vị th́ con người c̣n có công bằng và công lư ở chỗ nào?

Bởi vậy, Đạo Phật Nguyên Thủy không lừa đảo, dối gạt người bằng thần thông, bằng sự linh hiển như Bà La Môn và các ngoại đạo. Phật Giáo Nguyên Thủy chỉ dạy cho chúng ta đạo đức làm người không làm khổ ḿnh, khổ người th́ có cần ǵ phải đi cầu bà chúa này, ông thần kia, ông Phật nọ, v.v.. Với tâm làm người không làm khổ ḿnh, khổ người th́ làm ǵ họ có tai ương hoạn họa, tật bệnh.

Hiện giờ thời đại khoa học tŕnh độ dân trí có tiến bộ rất nhiều, nhưng ḷng ham mê thần thông và sự linh hiển ông thần này, bà chúa kia vẫn c̣n đầy ắp trong tâm tư của họ, do đó làm sao mà dẹp được sự mê tín. Chúng tôi c̣n nhớ trong cuộc cách mạng giải phóng quê hương có cuộc cách mạng mê tín, nhưng làm sao dẹp được khi con người c̣n quá vô minh và tâm c̣n tham đắm quyền năng và c̣n sợ sệt tôn sùng những nơi linh hiển của ảo tưởng, và nhất là những sự mê tín đó do từ trong các chùa sản xuất ra.

V́ thế, mọi người cứ tin rằng Đức Phật đă dạy như vậy. Họ tin rằng Đức Phật là một đấng vạn năng thông suốt cả tam thiên đại thiên thế giới, không việc ǵ mà không biết. Họ tin chắc rằng kinh sách hiện giờ là chính lời Đức Phật đă dạy th́ những điều mê tín trong đó là phải có thật. Do niềm tin Đức Phật như vậy nên trong các chùa lợi dụng ḷng tin ấy bày vẽ những điều mê tín và lạc hậu khác nữa. Thế mà mọi người ai cũng đều tin, thậm chí có những sự việc rất phi đạo đức như lễ Vu Lan, ngày báo hiếu, ngày rằm tháng Bảy, đó là một việc làm phi đạo đức đối với Phật Giáo Nguyên Thủy.

Dân tộc Việt Nam dễ chấp nhận Phật Giáo Đại Thừa là v́ người dân trong thời bấy giờ c̣n trong các bộ lạc, dân trí c̣n thấp kém, sẵn có những tục lệ mê tín và ham mê thần thông, nên Phật giáo truyền vào Việt Nam bằng thần thông là găi đúng chỗ ngứa thế giới siêu h́nh quỷ, thần nên người dân theo rất đông.

Biết sử dụng phong tục và ḷng mê tín của nhân dân, các nhà chánh trị khéo léo tạo ra sấm truyền, đồng dao để sách tấn tinh thần chiến đấu chống giặc như Vạn Hạnh, Nguyễn Trăi.

Trong các chùa lợi dụng thần thông, bày ra nhiều thứ mê tín để người ta cúng bái tế lễ hoặc kêu gọi xây chùa tháp, vơ vét mồ hôi nước mắt của tín đồ, có dịp chúng tôi trở lại vấn đề này bàn kỹ hơn.

Thanh thiếu niên con cháu của chúng ta hiện giờ đang mất dần đạo đức và t́nh thương, chúng đă làm khổ cha mẹ, ông bà quá nhiều, t́nh thương chúng đă mất dần không có nghĩa là chúng không c̣n thương yêu, nhưng t́nh thương ấy đă đặt sai hướng tức là chúng đă xa ĺa nền đạo đức của Tổ Tiên Ông Bà, chúng đă đánh mất đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Hiện giờ chúng đang đắm mê vật chất hiện đại nên chạy theo ḷng ham muốn của ḿnh, để rồi tự làm khổ ḿnh, khổ người. Chính v́ vậy mà chúng đă đánh mất ḷng yêu thương đối với chúng và mọi người, ḷng yêu thương mất tức là đạo đức mất, đạo đức mất th́ con người trở thành giống như con thú vật. Và khi đă trở thành con thú vật th́ chỉ c̣n có biết đánh đập cướp giật của cải và giết người, đó là cách thức đặt t́nh thương không đúng chỗ, biến t́nh thương ấy trở thành phi đạo đức để phục vụ thỏa măn ḷng ham muốn cá nhân của ḿnh.

Đứng trước thanh thiếu niên con cháu của chúng ta nghiện ngập, rượu chè, bài bạc, thuốc phiện, thuốc lá, x́-ke ma túy, v.v.. trộm cướp, giết người, ăn xin, móc túi, bị tù tội, giam cầm, chúng đang trở thành những con thú vật hung dữ mất hết lương tri và đạo đức làm người. T́nh trạng này chúng ta làm sao? Không lẽ làm ngơ cho đành?

Không làm ngơ, th́ bây giờ đây chúng ta phải làm ǵ? Không lẽ để con cháu chúng ta mỗi ngày đạo đức mỗi tiêu hao và trở thành những loài ác thú sao? Đó là những thanh thiếu niên không tôn giáo, c̣n những thanh thiếu niên có tôn giáo th́ sao? Tôn giáo của họ là do truyền thống từ Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, nhưng tôn giáo đó không dạy đạo đức làm người mà dạy những điều ảo tưởng mê tín, dị đoan, lạc hậu th́ chúng ta nghĩ sao bây giờ? Mặc kệ họ!? Nếu chúng ta nói mặc kệ họ th́ chúng ta cảm thấy có một điều ǵ bất an trong ḷng. Sự bất an đó là t́nh thương. Đối với t́nh thương này chúng ta phải làm ǵ? Không lẽ thương mà không làm ǵ th́ có nghĩa ǵ là thương!?

Chúng ta là ông bà, cha mẹ chúng, có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống về tôn giáo cũng như không tôn giáo, chúng ta phải chọn cho chúng một đạo đức làm người để thoát ra bản năng của loài thú vật th́ về tôn giáo chúng ta cũng nên chọn cho chúng một tôn giáo, tôn giáo có đạo đức, đạo đức làm người, chứ không phải thứ đạo đức ảo tưởng, mê tín, anh hùng, phi đạo đức làm khổ ḿnh, khổ người. Ngược lại ông bà, cha mẹ theo tôn giáo nào th́ bắt buộc con cháu phải theo tôn giáo nấy, mặc dù tôn giáo ấy có những mánh khóe, thủ đoạn gian ác phi đạo đức. Một bằng chứng cụ thể hiện giờ có một số chùa Tịnh Độ Đại Thừa để bỏ không, nghĩa là không có thầy, bởi v́ con cháu của ông thầy ấy đă trực tiếp sống trong chùa thấy những việc làm của ông cha, thầy tổ ḿnh phi đạo đức lừa đảo người bằng những sự mê tín. Thời đại khoa học chúng được đi học có kiến thức, hiểu biết, chúng hiểu đó là những việc làm phi đạo đức, những việc làm đó tồi tệ và xấu hổ, nên chúng không theo truyền thống tôn giáo đó. V́ thế mà chùa phải bỏ không.

Chỉ có những người chưa từng sống trong chùa nói riêng, nói chung là các tôn giáo khác, th́ thấy trong đó là Thiên Đàng, chứ thực sự nó không phải vậy.

Thiên Đàng, Cực Lạc hay Niết Bàn không phải ở trong các tôn giáo mà ở nơi tâm hồn con người có đạo đức. Nhưng trên đời này cuộc sống con người có nhiều loại đạo đức như:

1-       Đạo đức quân tử.

2-       Đạo đức anh hùng.

3-       Đạo đức mê tín.

4-       Đạo đức ảo tưởng.

5-       Đạo đức phi đạo đức tức là đạo đức miệng, đạo đức gian xảo, đạo đức lưu manh.

6-       Đạo đức từ thiện.

7-       Đạo đức bố thí.

Tất cả những loại đạo đức trên là những loại đạo đức:

1-       Làm khổ ḿnh.

2-       Làm khổ người.

3-       Làm khổ ḿnh và khổ người.  

Chỉ có một loại đạo đức, đó là đạo đức không làm khổ ḿnh khổ người, không làm khổ ḿnh khổ người tức là Thiên Đàng, Cực Lạc, Niết Bàn.

Vậy đạo đức đó là đạo đức ǵ? Như chúng tôi đă nói đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người tức là đạo đức nhân quả.

Nói đến đạo đức tức là nói đến hành động thân, miệng, ư của chúng ta. Bởi v́ tất cả đạo đức đều xuất phát từ nơi ba chỗ này. Có đạo đức hay không có đạo đức là do ba chỗ này.

Ba chỗ này là đường đi của nhân quả, nói đến nhân quả tức là nói đến thiện và ác. Ác là làm khổ ḿnh khổ người, thiện là không làm khổ ḿnh khổ người. Do đó nó mới có cái tên đạo đức nhân quả tức là đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người.

Nói đến thiện ác th́ chúng ta phải biết thiện ác là ǵ?

Thiện có 10 điều:

I-        Thuộc về thân làm điều thiện có ba:

1.        Thân không giết hại chúng sanh.

2.        Thân không lấy của không cho.

3.        Thân không dâm dục không chân chánh.

II-     Thuộc về miệng nói điều lành có bốn:

1.        Miệng không nói dối.

2.        Miệng không nói lời hung dữ.

3.        Miệng không nói chuyện xấu của người.     

4.        Miệng không nói thêu dệt.

III-  Thuộc về ư suy nghĩ điều lành có ba:

1.        Ư suy tư không tham.

2.        Ư suy tư không sân.

3.        Ư suy tư không si.

Ngược lại 10 điều lành trên đây là 10 điều ác.

Trên đây là 10 điều lành và 10 điều ác gốc, từ những gốc này mà chúng sinh ra cành lá muôn vạn điều thiện và muôn vạn điều ác. Lần lượt quư vị tu học sẽ thấy sự sinh sôi nảy nở trùng trùng ác pháp và thiện pháp, do những điều ác mà chúng ta phải chịu khổ vô vàn.

Tại sao lại có những điều ác này? Tại v́ con người đặt ḷng thương yêu không đúng chỗ nên mới sanh ra ác pháp.

Tại sao đặt ḷng thương yêu không đúng chỗ? Tại v́ chúng ta chưa rơ đường đi nước bước của nhân quả, nhất là chúng ta chưa thông suốt đạo luật nhân quả, nên chúng ta xem thường đạo luật này, v́ thế, mà chúng ta phải bị xử phạt nghiêm trị. Khi bị xử phạt nghiêm trị, chúng ta chịu nhiều sự thống khổ mà không cầu xin với ai cứu được, do đó mới thấy được luật nhân quả là công bằng và công lư.

Ṭa án xử phạt đạo luật này là ṭa án lương tâm của quư vị, v́ thế quư vị không thể chối căi được, không thể biện hộ được tội trạng của quư vị.

Trên thế giới có rất nhiều tôn giáo, mỗi tôn giáo đều có riêng một mục đích của nó, kinh sách của mỗi tôn giáo là một lối tuyên truyền khéo léo cho tôn giáo ḿnh ngơ hầu mua chuộc ḷng người để vào tôn giáo ḿnh.

Tôn giáo có mặt trên hành tinh này rất nhiều, nhưng đạo đức nhân quả không có, phần nhiều chiến tranh thế giới là do tôn giáo, những chiến tranh tôn giáo sự giết hại con người kinh khủng hơn là chiến tranh xâm lược. Gần đây có những sự tự sát tập thể về tôn giáo một cách ghê tởm v́ những tin tuyên truyền hoang tưởng “tận thế”.

Chúng ta là những bậc làm cha mẹ, ông bà hăy chọn cho con cháu của chúng ta “thanh thiếu niên” một tôn giáo có đạo đức nhân bản hẳn ḥi, không làm khổ ḿnh khổ người, để con cháu của chúng ta học tập và xây dựng cho bản thân chúng có một đạo đức đó.

Cách đây 2543 năm, Đức Phật ra đời, Ngài đă chỉ dạy cho chúng ta chọn tôn giáo hay nói cho đúng hơn là chỉ dạy chúng ta cách thức chọn một đạo đức nhân bản làm người không c̣n làm khổ ḿnh, khổ người: “Này các Kàlàmà! Chớ có tin v́ nghe truyền thuyết, chớ có tin v́ nghe truyền thống, chớ có tin v́ nghe người ta nói, chớ có tin v́ được kinh tạng truyền tụng, chớ có tin v́ nhân lư luận siêu h́nh, chớ có tin đúng theo một lập trường, chớ có tin v́ đánh giá hời hợt những dự kiện, chớ có tin v́ phù hợp với định kiến của ḿnh, chớ có tin v́ phát xuất nơi có uy quyền, chớ có tin v́ bậc Sa môn là đạo sư của ḿnh.

Nhưng này Kàlàmà! Khi nào tự ḿnh biết rơ như sau:  “Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh đau khổ”. Thời này Kàlàmà,  hăy bỏ chúng.

Lời dạy trên đây, khi chúng ta nghe có một tôn giáo nào tuyên truyền, thuyết giáo thế này thế kia, có thần thông phép tắc tàng h́nh, xuất hồn, biến hóa, biết chuyện quá khứ vị lai hoặc thấy tánh thành Phật, hoặc tu tập trị bệnh, không đau ốm, trường thọ sống lâu hoặc đến khi chết được sanh lên Cực Lạc, Niết Bàn, Thiên Đàng, ở nơi ấy hưởng ấm no hạnh phúc, muốn ǵ có nấy, những lời thuyết giáo ấy Đức Phật dạy chúng ta đừng nên nghe theo, v́ chẳng có lợi ích. Những lời dạy trên vốn không thực tế, nó không phải là hành động đạo đức nhân bản làm người, nó là những lời lừa đảo, huyễn hóa gạt người.

Trên đây Đức Phật dạy tiếp: khi ông bà, cha mẹ của chúng ta theo một tôn giáo có một truyền thống lâu đời, nhưng tôn giáo đó lại dạy chúng ta làm những điều mê tín lạc hậu như: cúng bái, tế lễ, cầu siêu, cầu an, xin xăm, bói quẻ, xem ngày giờ tốt xấu, bùa chú yểm đối, trị bệnh bằng tàn hương, nước lă, uống bùa, uống ngải, v.v.. Những điều dạy này là những điều lừa đảo, lường gạt người khác, không có dạy đạo đức làm người mà dạy những mánh khoé gian xảo thường tạo ra cảnh tiền mất tật mang, khiến cho muôn người khổ sở, nó chẳng đem lại lợi ích ǵ cho ḿnh cho người, mà c̣n tạo cho con người u mê tối tăm hơn, làm những điều phi đạo đức hơn.

Đức Phật dạy tiếp: Đừng có tin vào kinh tạng truyền tụng như kinh sách hiện giờ của tất cả các tôn giáo, v́ những kinh sách hiện hành, ngay cả kinh sách Nguyên Thuỷ của Đạo Phật người đời sau thêm bớt quá nhiều làm lệch lạc ư nghĩa của lời Đức Phật dạy ban đầu. Do sự sai lạc này chúng ta tu măi mà chẳng thấy lợi ích ǵ cả. Truyền tụng th́ nghe quá hay, thần thông phép tắc tuyệt vời, kiến tánh thành Phật liền, hết vọng tưởng th́ cũng thành Phật. Nhưng kiến tánh rồi mà thành Phật đâu chẳng thấy cũng như hết vọng tưởng rồi th́ thành Phật, Phật đâu th́ không biết mà chỉ thấy tâm tham, sân, si vẫn c̣n, làm chủ sanh tử cũng chẳng được. Cho nên, Đức Phật dạy đừng có tin kinh tạng truyền tụng, không những kinh sách Phật mà c̣n tất cả những kinh sách khác, nếu kinh sách nào có lợi ích thiết thực, có đạo đức không làm khổ ḿnh khổ người th́ chúng ta tin c̣n bằng không th́ không tin.

Hiện giờ kinh tạng không đáng cho chúng ta tin, v́ tu sĩ chẳng có đạo hạnh, sống như người thế tục chỉ có khác là chiếc áo Cà-sa và chiếc đầu trọc.

Về thế giới siêu h́nh, Đức Phật cũng dạy chúng ta đừng nên tin những lư luận của họ, v́ thế giới siêu h́nh không có. Thế giới siêu h́nh đó, nếu tin th́ nó là một tai hại rất lớn cho loài người, bệnh tật hoạn họa đều do thế giới này mang đến, v́ tin nó mang đến cho nên nó mang đến sự thật, đó là loại bệnh hoang tưởng. Hầu như người ta bị bệnh phần đông là bệnh tưởng, bệnh do ăn uống phi thời, do thời tiết, khí độc th́ ít mà do tưởng th́ nhiều. Mà hễ có tưởng là có thế giới siêu h́nh, mà có thế giới siêu h́nh là không có đạo đức công bằng và công lư. Cho nên, thế giới siêu h́nh là thế giới phi đạo đức, người nào theo tôn giáo th́ có sự ủng hộ, c̣n kẻ không theo tôn giáo th́ không có sự gia hộ, đó không phải là sự phi đạo lư sao?

Bởi vậy, Đức Phật dạy thế giới siêu h́nh là thế giới của tưởng tri chứ không phải liễu tri.

Cúng bái, tế lễ, cầu khẩn, đó là hành động không Chánh Kiến, tiền mất tật mang của những người vô minh thiếu Chánh Tư Duy suy xét, muốn ngồi mát ăn bát vàng, ở không mà có tiền của, cũng như những người chơi đề, mua vé số, muốn bỏ một đồng mà lấy hàng triệu đồng, do ḷng tham như vậy mà bị đề, vé số lừa đảo trở thành nghèo cùng khốn khổ.

Luật nhân quả rất công bằng và công lư: ai không gian tham lừa đảo tức là làm thiện sống thiện th́ hưởng phước, ai tham danh đắm lợi làm nhiều điều ác th́ phải chịu quả khổ. Cớ sao khi gặp tai nạn khổ đau th́ lại đi cầu thế giới siêu h́nh để được gia hộ, để tiếp tục làm những điều ác đức khổ ḿnh, khổ người, khổ chúng sanh. Những việc cầu khẩn này là một điều phi lư, phi đạo đức hết sức.

Ở đời ai cũng muốn sống trong công bằng công lư, nhưng những hành động đi cầu thế giới siêu h́nh để gia hộ cho ḿnh th́ có công bằng công lư hay không?

V́ thế, Đức Phật dạy không nên tin vào thế giới siêu h́nh, v́ thế giới siêu h́nh không làm lợi ích cho ḿnh, cho người, một thế giới tưởng, một thế giới tham vọng và sợ hăi của loài người đẻ ra để an ủi tinh thần và niềm hy vọng hăo huyền.

Ở bài kinh trên Đức Phật c̣n dạy thêm chúng ta cách thức sống ở đời đừng có tin theo đúng lập trường của ḿnh, biết đâu lập trường của ḿnh là lập trường phi đạo đức, thường làm khổ ḿnh, khổ người, khổ loài vật th́ những lập trường đó không bao giờ có ích lợi cho ḿnh, cho người và cho chúng sanh.

Ví dụ: Có người tập dưỡng sinh, thể thao cho là sự luyện tập này sẽ ít bệnh tật và kéo dài tuổi thọ. Sự luyện tập này có ích lợi cho người dân ở thành phố, cơ thể họ không có lao động. C̣n ở nông thôn sự luyện tập này cũng bằng thừa, v́ hàng ngày họ lao động chân tay quá vất vả. Con người và con thú đều là một loài động vật, con người th́ bày ra tập cái này cái nọ, con thú th́ chẳng luyện tập ǵ cả. Thế mà con thú sống lâu hơn con người, ít bệnh đau hơn con người.

Tại sao vậy?

Tại v́ con người có trí tuệ hơn con thú, suy tính đủ loại gian ác, luôn luôn ôm ấp những ác pháp trong người như lo toan, sợ hăi, giận hờn, thù oán, phiền năo, bất toại nguyện, v.v.. đó là những ác pháp khiến tuổi thọ họ giảm.

Con người có trí thông minh hơn loài thú, bày ra đủ cách ăn uống giết hại chúng sanh để thỏa măn ḷng dục về ăn uống, do ăn uống những chất độc mà cơ thể sanh ra đủ loại bệnh tật và tuổi thọ bị giảm.

Con vật ăn thực vật ít bệnh đau hơn con vật ăn động vật.

Con vật tuổi thọ hơn con người là v́ tinh thần thanh thản không có tư tưởng gian ác, xảo trá, suy tư nghĩ tưởng nhiều.

Con vật tuổi thọ và ít bệnh đau hơn con người là không có thế giới trong tưởng tức là thế giới siêu h́nh.

Cho nên, tập dưỡng sinh, thể thao hay Yoga là để cho những người già cả, không c̣n lao động và những người làm việc bằng trí óc, sự hoạt động để quân b́nh cơ thể của họ và ít bệnh đau chứ không phải phương pháp đó ngừa bệnh và trị bệnh.

Phương pháp ngừa bệnh và trị bệnh là đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người, khổ chúng sanh.

Cũng như chúng ta thấy con vật có tập thể thao thể dục, dưỡng sinh, yoga đâu mà tuổi thọ có cả ngàn năm, c̣n con người của chúng ta có ai sống ngàn năm chưa? Mặc dù có những nhà luyện tập yoga thượng thặng sống trên núi Hy-Mă-Lạp-Sơn nhưng mà vẫn chưa có ai sống được ngàn năm.

Cơ thể của con người cũng như của loài vật là một khối duyên hợp trong môi trường sống nhân quả lập thành nên sự vô thường thay đổi liên tục trên cơ thể này, do đó không có một phương pháp nào mà giữ ǵn nó bất di bất dịch, không thay đổi, không vô thường, dù cho chúng ta có tập yoga, dưỡng sinh th́ tuổi thọ nó không thể sống trên 1000 năm được.

C̣n như lối tuyên truyền của Tiên Đạo, luyện Tinh - Khí - Thần, tu hành sẽ thành vừa hồn vừa xác, đó là một điều huyễn hoặc lừa đảo người. Đức Phật dạy các pháp là vô thường, là khổ, thế mà có người điên dại cố giữ ǵn cái khối vô thường và đau khổ này để làm ǵ?

Chỉ có những người bị bệnh thần kinh mới ham giữ nó mà thôi. Người muốn giữ nó là người vô minh điên đảo, ai đâu mà ôm cái khối khổ mà chịu khổ, gọi là sống trường thọ hạnh phúc, ôm lao tù mà gọi là tự tại, tự do.

Do lầm chấp cái thân này mà cố giữ ǵn, v́ thế mà tạo ra biết bao nhiêu muôn ngàn ác pháp: Ăn miếng trả miếng không chịu thua ai hết, luôn luôn tích luỹ cho cá nhân của ḿnh, nhưng cuối cùng cũng chỉ c̣n ôm cái nghiệp ác để tái sanh luân hồi măi măi, cũng giống như một con thú vật mà thôi, thật là uổng phí cho một kiếp làm người mà chẳng biết sống một phút giây đạo đức giải thoát. Thật là thương thay! Thương thay!

Lời khuyên của Đức Phật, khi chúng ta chưa biết rơ chắc chắn một dự kiến có ích lợi cho ḿnh, cho người th́ cũng đừng tin theo những dự kiến đó; dự kiến đó là một h́nh thức bên ngoài th́ có vẻ lợi ích nhưng đó là một thủ đoạn lừa gạt người khác. Nhất là những h́nh thức từ thiện nhưng bên trong là làm giàu cho cá nhân.

Bởi v́, con người là một động vật có trí tuệ, nó dễ đưa con người thành ác quỷ, nếu có luật nhân quả tức là đạo đức nhân bản - nhân quả th́ chúng ta hăy tin, c̣n nếu không có đạo đức nhân bản - nhân quả th́ chúng ta không nên tin.

Ví dụ: Chúng ta cho thế giới siêu h́nh là thật, thần thông phép tắc là thật. Vậy thế giới siêu h́nh có thật th́ có ích lợi ǵ cho chúng ta khi mà luật nhân quả chủ thể điều khiển, phán xét, xử tội, thưởng phạt cả thế giới hữu h́nh và vô h́nh, có nghĩa là luật nhân quả phán xét thưởng phạt thế giới loài người và thế giới các cơi trời.

C̣n bảo rằng thần thông phép tắc là có thật, như đi xuyên qua vách đá, đi trên mặt nước, bay trên hư không hoặc tàng h́nh, biến hóa, Làm những điều này có lợi ích ǵ cho ai. Chính những người có những thần thông này tâm tham, sân, si của họ chưa sạch, tức là ác pháp vẫn c̣n, ác pháp c̣n tức là đạo đức nhân bản - nhân quả không có.

V́ thế, Đức Phật dạy đừng có tin thế giới siêu h́nh, thần thông phép tắc, nó là những điều huyễn hóa không lợi ích cho ḿnh cho người, th́ nhất định không nên tin theo.

Đức Phật dạy đừng có tin những ǵ xuất phát nơi có uy quyền.

Ví dụ như thời nhà Lư và nhà Trần, Phật giáo rất hưng thịnh và được xem gần như là quốc giáo. Vua là tu sĩ, quan là Phật tử, nhất là vua Trần Nhân Tôn, cha đẻ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, nhưng đạo lư không có, chôn sống nhà Lư, người trong nhà lấy nhau như trâu ḅ. Đạo Phật có, Nho giáo có mà không có cang thường đạo lư và tâm từ bi ǵ cả.

Tôn giáo xuất phát từ quyền uy, thường thường là bắt ép dân theo tôn giáo ḿnh và nhân dân v́ cuộc sống của ḿnh nên ép phải theo để cuộc sống được yên ổn chứ không phải v́ tín ngưỡng. Đó là nói theo sự mê tín, c̣n nói như Đức Phật dạy: “Không tin theo một tôn giáo nào nếu tôn giáo ấy có quyền uy và thế lực nhưng không dạy đạo đức nhân bản - nhân quả th́ nhất định không tin và không theo”. V́ tôn giáo đó dạy không thiết thực và nếu dạy thiết thực cho con người th́ không làm khổ ḿnh, khổ người.

Đức Phật lại khuyên chúng ta một lần nữa, lần này là nhắm vào vị đạo sư của chúng ta. Chắc trong đời chúng ta theo một tôn giáo nào th́ làm ǵ chúng ta cũng phải có một vị đạo sư. Vị đạo sư là một ân nhân, Người là kẻ d́u dắt chúng ta trên đường tôn giáo. Người cũng là một vị an ủi tinh thần khi chúng ta có nhiều sự khốn đốn và đau khổ bất toại nguyện. Người c̣n là một chỗ nương tựa về đạo đức. Nhưng ở đây Đức Phật dạy: “Đừng có tin bậc Sa-môn đạo sư của ḿnh nếu ông dạy chúng ta những điều phi đạo đức, đời sống chúng ta không có đạo đức làm người nghĩa là c̣n làm khổ ḿnh, khổ người th́ chớ có tin theo”.

Ví dụ: Một vị Sa-môn đạo sư của ḿnh ăn uống phi thời, sống như một ông nhà giàu, xe cộ, chùa to Phật lớn. Nói chung, tất cả những vật chất tiện nghi của thế gian có ǵ th́ ông có nấy, giới luật của Phật th́ bị ông bẻ vụn nát, sống phung phí tiền của đàn na tín thí xem như đất cát, lời nói thuyết giảng th́ rất hay nhưng cuộc sống của ông ta th́ quá dở. Do đạo hạnh của ông không có nên lời dạy đạo của ông không nhất quán, ông c̣n khổ về vật chất thế gian tức là c̣n tham muốn, c̣n tham muốn tức là c̣n ác pháp, mặc dù hiện giờ ông là đạo sư của ḿnh, như Đức Phật đă dạy, th́ không nên tin ông ta, ông là người nói láo có sách vở.

Chỉ khi nào vị Sa-môn đạo sư của ḿnh sống một đời sống Phạm hạnh không làm khổ ḿnh, khổ người, thường ban rải tâm từ bi qua hành động thương xót mọi người, mọi loài chúng sanh, tức là ông không làm khổ ḿnh, khổ người th́ chúng ta hăy tin theo vị đạo sư đó. Đó mới chính là thầy ḿnh, đó là bậc đạo sư xứng đáng dẫn dắt ḿnh trên đường đạo. Người là gương hạnh đạo đức sáng cho ḿnh soi, người là nguồn an ủi tinh thần cho ḿnh, người là chỗ nương tựa vững chắc để chúng ta tiến bước trên đường đạo. Kiếm được một bậc Thiện Hữu như vậy trên đời này đâu phải dễ.

Bổn phận chúng ta là ông bà, cha mẹ nên chọn cho con cháu của ḿnh một nơi nương tựa tinh thần vững chắc. Nương tựa tinh thần vững chắc như thế nào?

Tức là chọn cho con cháu ḿnh một tôn giáo dạy về đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người. Tôn giáo dạy đạo đức như vậy mới chính là nơi nương tựa vững chắc, c̣n những tôn giáo dạy nương tựa bằng thế giới siêu h́nh, bằng ảo tưởng, bằng bùa chú thần linh, bằng thần thông phép tắc, v,v.. th́ đó không phải là nơi nương tựa tinh thần vững chắc cho con cháu của chúng ta.

Mục đích của chúng ta đến với tôn giáo là đến với đạo đức làm người cho xứng đáng là con người, chứ không phải đến với thế giới ảo, v́ thế giới ảo mà nương tựa th́ không vững chắc.

Nếu chúng ta không chọn nơi nương tựa vững chắc cho con cháu của chúng ta, để tự chúng chọn lấy, chắc chắn chúng sẽ bị lầm lạc và rơi vào cạm bẫy quyến rũ của tà giáo ngoại đạo phi đạo đức. Những tà giáo  này phần nhiều là những người lừa đảo bằng những mánh khoé gian xảo để sau này con cháu của chúng ta tiêm nhiễm những điều phi đạo đức trở thành những tên giáo chủ giết người hàng loạt mà báo chí đă loan tin tức trên thế giới.

Không lẽ để con cháu của chúng ta trở thành những tên ác qủy, hung thần giết người không gớm tay như vậy sao?

Biết ḿnh tài hèn, sức bạc, không thể làm ǵ chận đứng được những chiếc xe đang đổ dốc, nhưng chúng ta cũng phải t́m mọi cách không chận đứng được th́ ít ra cũng làm giảm tốc độ xuống dốc đó.

V́ thế, đạo đức nhân bản - nhân quả không làm khổ ḿnh, khổ người ra đời.

Năm 2000 đánh dấu nền đạo đức của Phật giáo được khơi dậy, mặc dù đạo đức này đă có cách đây từ 2543 năm. Từ khi Đức Phật nhập diệt nền đạo đức này đă bị Bà La Môn giáo d́m mất từ thuở ấy.

Lời nói của chúng tôi ít có ai tin rằng đạo đức này là của Đức Phật. Bởi v́ Đạo Phật truyền vào đất nước Việt Nam, theo sử của Lê Mạnh Thát viết th́ Đạo Phật có từ thuở vua Hùng Vương mà truyền vào bằng quyền năng, thần thông chứ không có truyền đạo đức. Măi cho đến thời đại của chúng ta, cuối thiên niên kỷ thứ hai đầu thiên niên kỷ thứ ba, th́ chúng tôi mới viết thành sách để phổ biến nền đạo đức này th́ làm sao người ta tin được rằng nền đạo đức này là của Phật Giáo, nếu không có những bài Kinh Nguyên Thủy để xác chứng đạo đức này là của Phật Giáo th́ chúng tôi khó mà chứng minh được. Nếu thật sự Phật Giáo không có nền đạo đức này và chúng tôi tự soạn ra th́ chẳng khác ǵ các ông Bà La Môn. V́ thế, hiện giờ có người cho rằng chính chúng tôi chế ra giáo pháp và đạo đức này, cho nên họ bảo: “Phải xem lại pháp môn của Thầy, lấy đệ tử thí nghiệm pháp môn của ḿnh”.

Thật sự chúng tôi chẳng có pháp môn nào cả, tất cả những pháp môn chúng tôi dạy đều là của Đức Phật, mà chúng tôi đă theo pháp môn đó tu tập có kết quả cho cuộc sống của chúng tôi, ngày nay chúng tôi sống có đạo đức và đạo hạnh của một vị tu sĩ Phật Giáo không làm khổ ḿnh, khổ người.

Gần đây có người cho chúng tôi dạy tịnh chỉ hơi thở nhập Tứ Thiền là pháp môn do chúng tôi đặt ra, sự thật là Phật đă dạy như vậy c̣n những bài Kinh trong Tạng Kinh Nikaya, thế mà họ không nghiên cứu kỹ giáo pháp của Phật vội lên án chúng tôi bịa đặt pháp.

V́ biết tâm niệm phàm phu của chúng sanh vô minh hay nghi ngờ nên chúng tôi phải mất nhiều th́ giờ và giấy mực để minh chứng bằng những lời dạy của Đức Phật trong Tạng Kinh Nguyên Thủy Nikaya c̣n rơ ràng.

Nói về đạo đức làm người tức là đạo đức nhân bản - nhân quả không làm khổ ḿnh khổ người, th́ chúng tôi phải minh chứng cho quư vị thấy, xin mời quư vị đọc lại bài kinh trong Trung Bộ Kinh tập 2 do Ḥa Thượng Minh Châu dịch từ tiếng Pali sang Việt ngữ trong Tạng Kinh Nikaya, bài Kinh số 51 KANDARAKA trang 13: “Này Passa! Có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này Passa! Có người tự làm khổ ḿnh, chuyên tâm tự làm khổ ḿnh. Ở đây, này Passa! Có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Passa! Có người vừa tự làm khổ ḿnh khổ người, chuyên tâm làm khổ ḿnh vừa làm khổ người. Ở đây, này Passa! Lại có người vừa không làm khổ ḿnh, không chuyên tâm làm khổ ḿnh, vừa không làm khổ người, không chuyên tâm làm khổ người. Người ấy không làm khổ ḿnh, không chuyên tâm làm khổ ḿnh, không làm khổ người, không chuyên tâm làm khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngă trú vào Phạm thể. Này Passa! Bốn hạng người này, trong người nào được tâm ông thích nhất?

˗       Bạch Thế Tôn! Hạng người tự làm khổ ḿnh, chuyên tâm làm khổ ḿnh, hạng người này tâm con không thích.

˗       Bạch Thế Tôn! Hạng người làm khổ người, chuyên tâm làm khổ người, hạng người này tâm con cũng không thích.

˗       Bạch Thế Tôn! Hạng người tự vừa làm khổ ḿnh, chuyên tâm làm khổ ḿnh, vừa làm khổ người, chuyên tâm làm khổ người, hạng người này tâm con cũng không thích.

˗       Bạch Thế Tôn! Hạng người vừa không làm khổ ḿnh, không chuyên tâm làm khổ ḿnh, vừa không làm khổ người, không chuyên tâm làm khổ người, hạng người này không làm khổ ḿnh không làm khổ người, ngay trong hiện tại không có tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngă trú vào Phạm thể, hạng người này tâm con thích”.

Trên đây là một bài dạy về đạo đức của Phật Giáo, mà hầu hết các nhà học giả xưa và nay không quan tâm đến bài Kinh dạy đạo đức nhân bản này của Phật Giáo. Họ chỉ quan tâm đến danh từ “Từ Bi” của Đạo Phật và sự tưởng tượng sự từ bi của Đạo Phật quá cao siêu, dường như từ bi đó dành riêng cho Đức Phật và chư Bồ Tát chứ phàm phu không ai dám mó tới. Đó là cái hiểu của các nhà học giả, chứ từ bi của Đạo Phật rất b́nh thường ai cũng có thể sống được đó là sống không làm khổ ḿnh khổ người, sống không làm khổ ḿnh khổ người là người có nhân bản làm người.

Bởi v́ hiểu sai đạo đức của Đạo Phật biến Phật Giáo thành một tôn giáo ủy mị.

V́ thế, người ngoài đời hiểu đạo đức từ bi của Đạo Phật là một thứ đạo đức dành riêng cho một số người vĩ đại như “các Bồ Tát, Phật, A La Hán” chứ c̣n hạng tầm thường như chúng sanh th́ đạo đức từ bi chẳng ai dám rớ vào, đó là cái nh́n sai của các nhà học giả nghiên cứu Phật Giáo từ xưa đến nay.

Do không hiểu đạo đức nhân bản nhân quả của Đạo Phật các nhà học giả huyền thoại nâng cao Đạo Phật lên tột đỉnh mây xanh để biến Phật Giáo cao hơn các tôn giáo khác mọi mặt. V́ thế, đă khiến cho Đạo Phật xa ĺa đạo đức nhân bản làm người và khiến cho Đạo Phật cách xa con người, để trở thành một tôn giáo trừu tượng “Phản bổn hoàn nguyên, Bản thể vạn hữu, Phật tánh” hay mê tín, lạc hậu có cơi Cực Lạc, linh hồn văng sanh về chỗ rất vui không có buồn khổ, không có tham, sân, si, cơi đó hạnh phúc và an lạc vĩnh hằng, khiến cho mọi người nghe và tâm hồn đắm mê mơ tưởng.

Cũng từ sự mơ tưởng thế giới vĩnh hằng Niết Bàn, thường, lạc, ngă, tịnh, đối với Phật Giáo, từ đó con người (tín đồ) đă cách xa nền đạo đức nhân bản của ḿnh tức là cách xa đạo đức của Phật Giáo, cách xa đạo đức của Phật Giáo là cách xa cuộc sống thiết thực lợi ích cho ḿnh cho người, mà trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật đă dạy:

“Này các Thầy Tỳ-Kheo! Có bốn hạng người có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

1-       Hướng đến lợi ḿnh, không   lợi người.

2-       Hướng đến lợi người, không lợi ḿnh.

3-       Không hướng đến lợi ḿnh, lợi người.

4-       Hướng đến lợi ḿnh, lợi người”.

(Tăng Chi Kinh Tập 1, trang 733)

Qua bài Kinh trên chúng ta thấy rất rơ nền đạo đức của Đạo Phật được gắn liền vào đời sống của mọi con người, để mang lại hạnh phúc, an vui cho ḿnh cho người mà Đạo Phật gọi là giải thoát, chứ không có tụng kinh, niệm chú, ngồi thiền, niệm Phật để cầu về cơi Cực Lạc, Niết Bàn như người ta đă lầm hiểu.

V́ thế, đạo đức của Đạo Phật được lấy tên là “ĐẠO ĐỨC KHÔNG LÀM KHỔ M̀NH KHỔ NGƯỜI” hay là đạo đức làm lợi ḿnh lợi người, có nghĩa là không làm khổ cho nhau, đạo đức không làm khổ cho nhau mới thật là đạo đức nhân bản của con người.

Những bài kinh này Đức Phật đă dạy đạo đức rất thực tế và cụ thể cho cuộc sống của con người. Nhưng tiếc thay! Đức Phật tịch không có người thừa kế, triển khai nền đạo đức này, dần dà nền đạo đức của Phật Giáo đă bị d́m mất và quên lăng, khiến cho tín đồ Phật Giáo từ xưa cho đến  nay phải chịu thiệt tḥi rất lớn. Hiện giờ tín đồ Phật Giáo chỉ c̣n biết ngồi thiền nhập định, niệm Phật, tụng kinh, sám hối, cầu siêu, cầu an, v.v.. chứ không c̣n biết đạo đức là ǵ?

Khi chúng tôi triển khai lại đạo đức của Phật Giáo, th́ cũng có người bảo rằng: đạo đức đó là của chính chúng tôi đặt ra chứ từ xưa đến giờ Đạo Phật không có đạo đức này.

Nếu không có những bài kinh trên đây minh chứng, chắc chắn tín đồ Phật Giáo sẽ xem nền đạo đức này là của tà giáo ngoại đạo. Chúng tôi cũng xin xác định thêm những bài Kinh mà quư Phật Tử đă từng thuộc làu như:

“Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành”

Hoặc:

Ngăn ác, diệt ác pháp.

Sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp”

Đó không phải là những câu kinh dạy đạo đức sao? Những câu kinh này là dạy đạo đức nhân bản làm người.

Các pháp ác chớ nên làm, có phải là không làm khổ ḿnh, khổ người không?

Các pháp thiện nên làm có phải là đem đến sự an vui cho ḿnh, cho người không?

Ngăn ác diệt ác pháp, có phải không làm khổ ḿnh, khổ người chăng?

Sanh thiện tăng trưởng thiện có phải đem đến sự an vui cho ḿnh, cho người không? 

Những câu kinh này quư Phật tử đă nằm ḷng th́ đạo đức nhân bản là ở tại đó. Bây giờ quư vị c̣n nghi ngờ đạo đức này là của chúng tôi bịa đặt ra không? Hay là của Đức Phật?

V́ lợi ích cho con người trên hành tinh này, chúng tôi sẽ cố gắng triển khai nền đạo đức nhân bản của Đạo Phật.

Thứ nhất là làm sáng tỏ lại Đạo Phật.

Thứ hai giúp cho con người có một nền đạo đức nhân bản để thoát ra khỏi bản chất loài cầm thú.

Nhưng dù sao ai có nói ǵ, nói như thế nào, chúng tôi cũng đều chấp nhận. V́ biết rằng mọi người hiện giờ mang đầy ắp những kiến giải và kiến chấp rất nặng, khi vạch ra những cái sai của kiến chấp đó th́ họ đỏ mặt tía tai tức giận sân lên không c̣n trí tuệ tự xét lại những kiến chấp và kiến giải của ḿnh đúng chỗ nào, sai chỗ nào.

Quán xét lại giáo pháp của Đức Phật “Giới, Định, Tuệ”, nhưng kỳ thật không ngoài pháp Sơ Thiện, Trung Thiện và Hậu Thiện, tức là đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người. Đạo đức nhân bản tức là đạo đức nhân quả thiện ác, đạo đức nhân quả thiện ác tức là ngăn ác diệt ác pháp, sanh  thiện tăng trưởng thiện pháp, đó là phương cách để mọi người sống trong thiện pháp và loại trừ các ác pháp. Sống trong thiện pháp và đoạn dứt các ác pháp là sống trong đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người, không làm khổ ḿnh khổ người là tâm bất động, tâm bất động là mục đích của Đạo Phật. Cho nên, Phật dạy: “Mục đích của đạo Ta, không phải giới luật, không phải thiền định, không phải trí tuệ mà là tâm bất động giải thoát”. Lời xác quyết này trong Kinh Nguyên Thủy rất rơ ràng, vậy mà Kinh sách phát triển dám bảo rằng: “Giác ngộ hay Đại giác” là mục đích của Đạo Phật.

Xét ra các pháp mà Đức Phật đă dạy, từ Giới luật, Thiền định và Trí tuệ, đâu đâu Đức Phật cũng dạy chúng ta tu tập ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp.

Xét về giới luật: cấm sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, v.v.. Không phải đây là pháp ngăn ác diệt ác pháp sao?

Xét về thiền định: ly dục ly ác pháp nhập Sơ Thiền, diệt tầm tứ nhập Nhị Thiền, xả hỷ nhập Tam Thiền, xả lạc khổ xả niệm thanh tịnh nhập Tứ Thiền ... Không phải đây là pháp ngăn ác diệt ác pháp sao?

Xét về trí tuệ: tri kiến giải thoát trên Tứ Niệm Xứ để khắc phục tham ưu. Khắc phục tham ưu ... không phải là ngăn ác diệt ác pháp sao?

Xét về trí tuệ khổ, tập, diệt, đạo để thấu suốt chân lư đời sống của con người. Khiến chúng ta nhàm chán thân phận làm người, đó không phải là pháp ngăn ác diệt ác pháp sao?

Xét về Đạo đế: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, không phải là pháp ngăn ác diệt ác pháp sao?

Chánh Niệm và Chánh Định diệt tầm tứ xả tưởng và xả thọ để làm chủ sự sống chết th́ không phải pháp ngăn ác diệt ác pháp sao?

Tất cả các pháp môn của Đạo Phật đều đi về một chiều hướng ngăn ác diệt ác pháp, để đưa con người đến chỗ an vui hạnh phúc chân thật không làm khổ ḿnh, khổ người, sống ngay giữa cuộc đời này.

Giáo pháp của Đức Phật là một giáo pháp dạy về đạo đức làm người, đạo đức nhân bản, để mọi người thoát ra khỏi bản năng của loài thú vật, nhờ thoát khỏi bản năng loài thú vật nên không c̣n làm khổ cho nhau nữa và tất cả chúng sanh.

Xét qua những lời dạy trên đây của Đức Phật để chứng minh đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người không phải chúng tôi mới đặt ra như Thầy Chơn Đức đă nói: “Phải xem lại pháp môn của Thầy, Thầy lấy đệ tử để thí nghiệm pháp môn của ḿnh ...”. Những pháp chúng tôi dạy từ Giới, Định, Tuệ đều của Phật Giáo, chúng tôi chẳng có chế ra một pháp môn nào mới cả, v́ những pháp này là những bài Kinh trong Tạng Kinh Nguyên Thủy Pali bằng giấy trắng mực đen vẫn c̣n rơ ràng.

Hôm nay chúng tôi dạy về đạo đức ḷng thương yêu để cho mọi người thực hiện ḷng yêu thuơng ấy đúng chỗ, đúng lúc để không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ các loài chúng sanh.

Trong cuộc sống con người, muốn được yên vui hạnh phúc không ǵ hơn là con người phải sống có đạo đức. Đạo đức về ḷng thương yêu là một thứ đạo đức rất cần thiết và quan trọng cho cuộc sống con người. Nếu con người không có đạo đức về ḷng thương yêu th́ con người như cây đá.

Như trên chúng tôi đă nói mọi loài động vật đều có ḷng yêu thương, nhưng chỉ v́ đặt sai hướng thành ra không có đạo đức. Thầy Từ Minh, Minh Tông, Chơn Đức, v.v.. không phải là những người không có t́nh thương, nhưng v́ t́nh thương ấy đặt sai hướng nên mất đạo đức làm người, trở thành những người học tṛ bất nghĩa.

Thật đáng thương thay cho họ là những người tu hành theo Phật Giáo mà đạo đức th́ không bằng người thế tục, họ có tŕnh độ học thức đại học, trên đại học thế mà đạo đức làm người họ là con số không.

Sau những năm tháng chúng tôi dẫn dắt những người đệ tử từng bước đi trên sự tu tập, họ đă té xuống đứng lên nhiều lần, nhưng chúng tôi không nản ḷng, cố sức ḿnh d́u dắt cho họ đến nơi đến chốn, phần nhiều họ là những người bệnh thiền, nên chúng tôi càng vất vả hơn. Họ là những người đồng kiến chấp, nên đẽo gọt đập phá dần dần để cho họ xả những loại pháp môn độc tố đă ăn ngấm vào thân tâm của họ. Cho nên, đến những giây phút vượt qua khó khăn nhất là lúc bấy giờ họ phá kỷ luật “Độc Cư”, để rồi bao nhiêu công lao của chúng tôi và công sức của họ đă trở thành mây khói và cuối cùng họ trở thành những người bất nghĩa.

Riêng chúng tôi ngậm ngùi và tự trách ḿnh sao không mạnh dạn dạy cho họ đạo đức vào buổi học đầu tiên mà lại dạy họ tu tập thiền định, để rồi thiền định đâu không thấy mà chỉ thấy một tai hại rất lớn là họ đă sống trong tưởng giải của những kẻ ngông cuồng. Đúng vậy, con đường này, con đường Đại Thừa và Thiền Đông Độ đă dẫn dắt muôn người vào thế giới tưởng. Chúng tôi đă biết những điều này, nhưng chỉ sợ đụng chạm đến Thầy Tổ của ḿnh, nên nhẹ nhàng lôi cho họ ra khỏi lộ tŕnh này để đi về hướng đạo đức.

Cuối cùng chẳng có người đệ tử nào mà không phá giới luật đức hạnh. Do những nguyên nhân trên đây mà đạo đức làm người ra đời.

Xưa Đức Phật chỉ chấp nhận đạo đức không làm khổ ḿnh, khổ người, c̣n những loại pháp môn khác như thiền định và thần thông, Ngài xem những pháp môn này là huyễn hóa, phi đạo đức, không thiết thực. Bằng chứng là những người học tṛ được theo chúng tôi tu học với mục đích là phải đạt được thiền định và thần thông, c̣n về đạo đức họ xem như đồ bỏ, do đó khi chúng tôi khép họ vào giới luật là họ bỏ đi hết.

Việc biên soạn cuốn sách đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người, đây là một cuốn sách khởi sự cho một nền đạo đức nhân bản nhân quả ra đời, rất mới mẻ nên chắc chắn c̣n biết bao nhiêu sự sai sót, mong quư vị đức trọng hạnh cao xin vui ḷng chỉ giáo để kỳ tái bản sau chúng tôi sẽ hoàn chỉnh một tập sách đạo đức nhân bản không làm khổ ḿnh, khổ người đầy đủ hơn, xin chân thành cảm tạ.

Kính ghi,

Tu Viện Chơn Như

Ngày 15-4-2000

CHƯƠNG I

ĐẠO ĐỨC
L̉NG THƯƠNG YÊU

 

 

 

 

 

 

 

 

 

L̉NG YÊU THƯƠNG

Loài động vật nào cũng có ḷng thương yêu, con người cũng vậy và ḷng thương yêu của con người c̣n gấp trăm, ngàn lần loài động vật khác. Tại sao vậy?

Tại v́ con người có trí tuệ. Nói đến ḷng thương yêu chắc ai cũng biết.

Một con chim tha mồi về đút cho con ăn, đó là ḷng thương yêu.

Một con vượn mẹ khi bị tên độc trao con cho chồng rồi nhào xuống chết, đó là ḷng thương yêu.

Một con gà mái dẫn một bầy con đi ăn gặp một con chồn, xông vào liều chết chiến đấu để đàn con trốn chạy, đó là ḷng thương yêu.

Một người mẹ mang nặng đẻ đau suốt chín tháng mười ngày không hề than oán, đó là ḷng thương yêu.

Chịu cực khổ nuôi con vất vả, ẵm bồng chịu dơ, chịu thúi, mẹ nằm chỗ ướt để con nằm chỗ khô, đó là ḷng thương yêu.

Con đau ốm mẹ thức suốt đêm chẳng ngủ lo lắng, sợ hăi, luôn miệng van vái cầu khẩn Trời, Phật, Tổ Tiên, ông bà pḥ hộ cho con mau mạnh, đó là ḷng thương yêu.

Con đi học hoặc đi làm về trễ là mẹ ra cửa ngóng trông, đó là ḷng thương yêu.

Con gặp tai nạn hoặc có điều ǵ xảy ra tù tội th́ nước mắt mẹ chảy không dừng, đó là ḷng thương yêu.

Hằng ngày cha mẹ phải vất vả lao động nuôi con cho ăn học nên người, đó là ḷng thương yêu.

Khi cha mẹ mất hoặc người thân mất th́ không có người nào mà không nghẹn ngào buồn khổ nức nở, đó là ḷng thương yêu.

Một chiếc bánh, một mâm cơm để dành cho con khi con đi học hoặc đi làm về ăn, đó ḷng thương yêu.

Khi cha mẹ rầy mắng con một điều ǵ, đó là ḷng thương yêu.

Khi sống ở nước ngoài nhớ đến quê hương tổ quốc, đó là ḷng thương yêu.

Khi xa nhà đi học hoặc đi làm nhớ đến cha mẹ, anh chị em, đó là ḷng thương yêu.

Đi xa lâu ngày gặp nhau tay bắt mặt mừng, đó là ḷng thương yêu.

Thấy một người ăn xin tàn tật giúp bát cơm, manh áo hay tiền bạc, đó là ḷng thương yêu.

Thấy một con vật sắp sửa bị đạp đầu cắt cổ, nhổ lông ta không nỡ cầm dao giết chúng, đó là ḷng thương yêu.

Thấy một miếng thịt, một con cá nằm trong đĩa thực phẩm ta không nỡ ăn thịt chúng, đó là ḷng thương yêu.

Thấy một người đánh đập một con chó ta không nỡ đứng nh́n và nghe tiếng kêu la của con vật, đó là ḷng thương yêu.

Thấy một người bắt ếch, bẻ chân làm con ếch không c̣n ḅ nhảy được ta xót thương đau khổ, đó là ḷng thương yêu.

Thấy một chiếc xe vận tải chở đầy trâu ḅ đứng sắp lớp giữa trời nắng chang chang chúng ta xót xa, đó là ḷng thương yêu.

Một chiếc vỏ nhỏ hẹp bao nhiêu con chó được dồn vào chồng chất lên nhau, nh́n thấy cảnh này ta xót xa vô cùng, đó là ḷng thương yêu.

Ḷng thương yêu của chúng ta kể sao cho hết. V́ chúng ta là con người, là loài động vật, không phải là cây đá vô tri, cho nên ḷng thương yêu bao giờ cũng ngự trị trong ḷng của chúng ta.

Ḷng thương yêu là thiện pháp, không phải là ác pháp. Có người đọc trong kinh sách thấy trong kinh dạy: “Ghét cũng khổ, thương cũng khổ”, từ đó họ suy ra không thương cũng không ghét, v́ thương ghét là pháp đối đăi, pháp đối đăi là pháp khổ. Do đó, người ta cố gắng để diệt ḷng thương yêu. Hiểu như vậy là hiểu sai, hiểu sai th́ ta tu hành chẳng có kết quả. Ḷng yêu thương là một đạo đức cao quư trong Đạo Phật. Người ta không có ḷng thương yêu th́ chúng ta sẽ trở thành cây đá. Nếu một người tu mà diệt ḷng thương th́ họ là người không có đạo đức, đạo đức đối với con người và đạo đức đối với mọi loài chúng sanh. Nếu con người không có ḷng thương yêu th́ hành tinh này sẽ bị hủy diệt, nhờ thương yêu mà con người không hủy diệt hành tinh này.

Hiện giờ con người có khả năng hủy diệt hành tinh này nhưng v́ t́nh thương mà giữ chiến tranh thế giới sắp bùng nổ, th́ người ta chận đứng lại nguy hiểm.

Những cuộc biểu t́nh trên thế giới chống bom nguyên tử, không phải đó là những thể hiện t́nh thương của con người sao?

Bởi có người nghiên cứu Đạo Phật, đến chỗ dạy về “ái kiết sử” hay “sống không nhà cửa, không gia đ́nh” th́ người ta hiểu ngay là Đạo Phật diệt ḷng thương yêu. Thiền Tông dạy: chẳng niệm thiện, niệm ác, tức là diệt ḷng thương yêu, diệt ḷng thương yêu th́ con người là cây, là đá.

Tu hành để thành cây đá th́ tu hành để làm ǵ?

Tu hành có nghĩa là sửa những điều sai quấy, những điều sai quấy ở đâu mà có?

Ở nơi t́nh thương đặt sai hướng. Tại sao chúng ta lại biết những điều sai quấy là do t́nh thương đặt không đúng chỗ? V́ những điều sai quấy thường làm khổ ḿnh, khổ người; do làm khổ ḿnh, khổ người mà biết nó là những điều sai quấy, những điều sai quấy kinh Phật thường dạy là ác pháp, v́ có ác pháp nên mới làm khổ ḿnh, khổ người.

Bởi người ta hiểu sai Đạo Phật nên đă biến Đạo Phật trở thành Đạo cây đá, cho nên người tu theo Đạo Phật là phải diệt hết ḷng thương yêu đối đăi th́ mới thể hiện tâm đại từ bi, sự thật không phải vậy. Tâm từ bi tức là ḷng thương yêu của mọi người, mọi loài chúng sanh đặt đúng chỗ. Tâm từ bi đặt không đúng chỗ tức là t́nh thương đối đăi.

Kẻ giết người là đặt t́nh thương không đúng chỗ.

Người cha la mắng rầy con là đặt t́nh thương không đúng chỗ, nên đă làm ḿnh khổ, làm đứa con cũng khổ.

Một ông thầy giáo đánh học tṛ là đặt t́nh thương không đúng chỗ, nên ông khổ và đứa học tṛ cũng khổ.

Một đứa con đi học về trễ, là mẹ lo lắng trông ngóng là đặt t́nh thương không đúng chỗ nên bà mẹ phải khổ tâm.

Bởi người ta thường sống trong tưởng tri nên biến tâm đại từ bi thành một Bồ Tát Quán Thế Âm cao siêu tuyệt vời, thường thương xót và cứu khổ chúng sanh nên đă đặt tâm đại từ bi đó sai luật nhân quả, do vậy đă trở thành một Bồ Tát Quán Thế Âm phi đạo đức.

Ḷng thương yêu của con người là một đạo đức cao thượng tuyệt vời, đưa con người dám hy sinh thân mạng để cứu những người thân thương, như cháu Duy Duyệt dám lấy thân ḿnh đón nhận lưỡi dao của kẻ cướp để cứu bà nội.

Ḷng thương yêu đă đưa con người dám hy sinh ḿnh, chịu biết bao gian khổ để vượt qua bốn sự khổ của kiếp làm người như Đức Thích Ca Mâu Ni, sáu năm khổ hạnh, thân tàn ma dại, chết đi sống lại.

Ḷng thương yêu quê hương tổ quốc, để cứu dân cứu nước thoát cảnh nô lệ của giặc ngoại xâm, có biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ, từ khi vua Hùng dựng nước đến nay, đă dám hy sinh thân mạng trước lằn tên, mũi gươm, súng đạn.

Nếu không có ḷng thương yêu ấy con người tu theo Đạo Phật không thể nào giải thoát. Nếu không có ḷng thương yêu ấy th́ Đạo Phật không có mặt trên đời này.

Ḷng thương yêu được triển khai theo chiều hướng của Đạo Phật: “Các pháp ác không nên làm, nên làm các pháp thiện”. V́ thế, người ta mới gọi Đạo Phật là đạo từ bi.

Tóm lại ḷng thương yêu của mọi người cần phải được phát triển như Đức Phật đă dạy: “Sanh thiện, tăng trưởng thiện”. Sanh thiện, tăng trưởng thiện tức là đặt ḷng thương yêu đúng chỗ, đúng chỗ tức là đặt đúng vào lộ tŕnh của nhân quả th́ ḷng thương yêu mới phát triển.

Ḷng thương yêu đặt đúng chỗ th́ con người trên thế gian này không c̣n làm khổ cho nhau nữa tức là Thiên Đàng, Cực Lạc.

 

LỘ TR̀NH NHÂN QUẢ

Nói đến đạo đức về ḷng thương yêu th́ phải nói đến nhân quả, v́ ḷng thương yêu phải được đặt trong đường đi của nhân quả. Nhân quả th́ chắc ai có lẽ cũng hiểu biết. Trong nhân quả luôn luôn lúc nào cũng có thiện và ác: Thiện là không làm khổ ḿnh, khổ người, mọi người đều được an vui hạnh phúc, sống thanh thản, an lạc, giải thoát; c̣n ngược lại thiện là ác th́ làm khổ ḿnh, khổ người, tâm hồn lúc nào cũng bất an, bất toại nguyện và khổ đau, cho nên Đức Phật gọi cuộc sống đó là Địa ngục, Súc sanh, A-tu-la.

Ở đây chúng tôi xin giải thích thêm nhân quả cho quư vị rơ hơn. Vậy nhân quả là ǵ? Theo nghĩa đen của từ Hán Việt là: nhân là hạt, quả là trái; nhân quả có nghĩa hạt và trái. Theo Từ Điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xă Hội th́ nhân quả có nghĩa là: nguyên nhân và kết quả. Nguyên nhân có từ tiền kiếp tạo ra, kết quả ở kiếp sau; và kết quả ở kiếp sau là do nguyên nhân ở từ kiếp trước.

Danh từ kiếp sau kiếp trước nghe có vẻ trừu tượng, mơ hồ, không cụ thể.

Nhân quả là hạt và trái, có loại hạt gieo có quả ăn liền, có loại hạt gieo giống quả phải được nhiều năm mới có ăn.

Ví dụ hạt lúa chúng ta gieo trong ba tháng là chúng ta có gặt ăn, hạt xoài gieo 5 năm, 10 năm mới có ăn; tức là hạt lúa gieo xuống là 3 tháng có quả chín, hạt xoài phải 5 năm, 10 năm mới có quả.

Nhân quả là chúng ta mượn từ những danh từ hạt trái để ám chỉ cho hành động thiện ác của chúng ta vay trả, trả vay.

Ví dụ chúng ta mắng chửi một người nào đó, th́ anh em ḍng họ của người đó lấy gậy gộc, dao mác đánh đập và có thể chém giết chúng ta.

Nhân mắng chửi người th́ quả phải bị đánh đập và c̣n bị giết chết.

Nhân quả là làm một điều ác th́ không bao giờ tránh khỏi tai họa khổ. V́ luật nhân quả rất công bằng và công lư. Nó không thiên vị ai cả, một người nói móc người khác hoặc nói mỉa mai, nạt nộ, hù dọa, chửi mắng, la hét, nguyền rủa, la lối đó là tạo nhân không lành th́ cũng phải trả quả như chúng tôi đă nói ở trên.

Có thứ hạt giống gieo lâu ngày mới có ăn, có thứ vừa gieo là có quả ăn liền. Không có ai gieo hạt giống mà không ăn, nếu họ không ăn th́ con cháu của họ cũng phải ăn.

Nhân quả có nghĩa là làm một hành động ác th́ phải gặt lấy một sự khổ đau, ngược lại làm một điều lành th́ hưởng được phước an lạc, thanh thản, vô sự, v.v..

Do luật nhân quả này mà Đức Phật đă xây dựng giáo lư của ḿnh trên nền tảng đạo đức này. V́ thế giáo lư của Ngài dạy rất cụ thể và thực tế với cuộc sống của con người, không có mơ hồ trừu tượng như các giáo phái khác. Ngài lấy thiện làm tiêu chuẩn giải thoát cho con người. Ai sống trong thiện là người đó có hạnh phúc, có giải thoát; ai sống trong ác pháp th́ người đó phải chịu khổ đau mà cũng không ai giúp đỡ cho họ được.

Ngài hiểu được Luật Nhân Quả có thật sự chứ không phải sự may rủi của con người hay là sự ngẫu nhiên.

V́ biết chắc đạo luật này nên Đạo Phật ra đời để giải quyết sự đau khổ của con người trong nhân quả.

Ngài c̣n biết rơ trong thế gian này, không có số mệnh mà đều do từ hành động nhân quả vô thường thường xuyên thay đổi di động do hành động thiện ác của mỗi con người. Nên cuộc sống ai cứ hay khổ đau, chết yểu hay trường thọ đều do sự thay đổi tăng giảm của mỗi hành động nhân quả của con người mà ra.

Do đó, Đức Phật mới dạy: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” hay “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp”.

Mục đích pháp hành của Đạo Phật là triển khai trí tuệ về đạo đức thương yêu, tức là triển khai Tứ Vô Lượng Tâm, muốn triển khai Tứ Vô Lượng Tâm th́ phải thực hành Tứ Chánh Cần, th́ phải thực hiện Tứ Niệm Xứ. Muốn thực hiện Tứ Niệm Xứ th́ phải thực hiện bốn loại định:

1-       Định Chánh Niệm Tỉnh Giác.

2-       Định Sáng Suốt.

3-       Định Niệm Hơi Thở.

4-       Định Vô Lậu.

Quư vị đă hiểu Nhân Quả rồi, nhưng ở đầu đề gọi là Lộ Tŕnh Nhân Quả.

Vậy lộ tŕnh là ǵ?

Lộ tŕnh là đường đi, tức là đường đi của nhân quả.

Nếu chúng ta muốn học tập và thực hiện một đời sống đạo đức nhân bản - nhân quả mà không biết đường đi của nhân quả th́ chúng ta không làm sao mà thực hiện được đạo đức ấy. V́ không rơ đường đi th́ biết đâu thực hiện áp dụng đạo đức nhân quả vào đời sống của ḿnh.

Vậy Nhân Quả sẽ đi trên con đường nào?

Nhân Quả sẽ đi trên ba nẻo:

1-       Thân hành.

2-       Khẩu hành.

3-       Ư hành.

Đó là ba nẻo trên một lộ tŕnh của Nhân Quả. Từ nơi đó xuất phát hành động thiện hay ác; ác th́ khổ đau, thiện th́ an vui hạnh phúc. Cho nên, Đức Phật dạy: “Ngăn ác, diệt ác pháp” tại ba nơi chỗ này, và “Sanh thiện, tăng trưởng thiện pháp” cũng tại ba nơi chỗ này.

Nếu chúng ta biết ngăn ác diệt ác pháp, tức là chúng ta biết tu tập và rèn luyện đạo đức nhân bản - nhân quả, không làm khổ ḿnh, khổ người; nếu ai cũng tu tập đạo đức như vậy hết th́ cuộc sống thế gian này là cảnh Thiên Đàng, Cực Lạc.

Đường đi của Nhân Quả quư vị đă rơ chưa? Như trên chúng tôi đă dạy có ba nơi: THÂN - MIỆNG - Ư.

dụ: dùng tay, gậy gộc, gươm đao, giáo mác, cung, tên, súng đạn, … đánh đập và giết hại người và loài vật đó là đường đi của nhân quả ác. Thứ nhất nó sẽ đem đến cho chúng ta những quả khổ như chúng ta đă dùng thân hành làm đau khổ và giết hại người và chúng sanh vậy. Luật Nhân Quả vay một trả mười, nghĩa là chúng ta đánh người khác một cây, giết mạng sống của loài vật một con th́ chúng ta phải trả 10 kiếp bị đánh 10 cây và giết chết một con vật th́ phải bị giết chết 10 kiếp làm con vật.

Do lộ tŕnh Nhân Quả này mà Đức Phật đă nh́n thấu suốt nên mới dạy: “Được thân người là khó”. Người đời không biết tưởng khi chết bỏ thân này rồi là được sanh lên làm người liền.

Điều này không bao giờ có được, v́ trải qua một cuộc sống bảy, tám chục năm làm người, chúng ta đă từng sử dụng biết bao nhiêu thân hành của ḿnh và đă giết hại biết bao nhiêu thân mạng chúng sanh để ăn thịt, uống máu, th́ làm sao thoát khỏi nợ máu xương này và c̣n đánh đập biết bao nhiêu người và loài vật th́ nợ đánh đập và làm đau khổ người và chúng sanh th́ làm sao thoát khỏi sự đau khổ đánh đập, vay phải trả.

Đây là nẻo đi thứ nhất của Nhân Quả, chắc chắn ít có ai thoát khỏi hành động này, nhất là mọi người c̣n đang ăn thịt chúng sanh. Bởi v́ mọi động vật sanh ra từ trong chiếc nôi môi trường sống không có nghĩa để ăn thịt nhau, v́ sinh ra loài vật nào cũng có ḷng thương yêu, nhưng v́ ḷng thương yêu ấy đă đặt sai chỗ nên trở thành ăn thịt nhau.

Bởi trong môi trường sống, rong rêu cỏ cây sanh ra trước để tạo thành sự sống cho loài động vật khi sanh ra. Do vậy, mọi loài động vật sanh ra đều nhờ vào cỏ cây, rong rêu mà sống chứ không phải ăn thịt với nhau mà sống. V́ loài cỏ cây, rong rêu không có cảm giác đau khổ như loài động vật.

V́ thế, môi trường sống trong Luật Nhân Quả có sự an bài sắp xếp cho cuộc sống thực vật và động vật trong đạo đức yêu thương với nhau, tức là sống trong môi  trường toàn thiện. Nhưng v́ loài động vật có trí tuệ nhưng lại vô minh, v́ vô minh không rơ đường đi lối về của nhân quả, nên đặt ḷng thương yêu sai hướng thành mất đạo đức. Do không có đạo đức nên loài động vật đă tự làm khổ cho nhau, con thú mạnh ăn hiếp và giết con thú yếu để ăn thịt, con người có trí thông minh lại dùng trí thông minh giết hại loài vật khác hàng loạt để ăn thịt, từ đó loài động vật đă tạo ra một đường tṛn luân hồi. Một người làm ác giết hại chúng sanh th́ nghiệp lực đó sanh ra bao nhiêu chúng sanh để trả quả ác giết hại, nghĩa là một người giết hại ăn thịt chúng sanh th́ phải sanh ra loài vật gấp 10 lần, 100 lần để cho người khác giết hại và ăn thịt lại. Với đôi mắt vô minh loài động vật không thấy điều này, nên chúng đă ăn thịt cha mẹ lẫn nhau.

Một con chó chúng ta nuôi trong nhà, do ăn lén một quả trứng gà hay bắt một con gà con ăn thịt, chúng ta bắt được dùng cây gậy đánh đập con chó, tiếng con chó kêu la thảm thiết, khổ đau nhưng chúng ta cũng không dừng tay, cho đến khi con vật lăn lộn ḅ lết, đứng dậy không nổi và dăy chết, chúng ta đem con vật làm thịt, cả nhà ăn uống vui thích, lại c̣n bảo nhau: “con chó này chết đáng đời, chúng ta kiếm con chó khác nuôi”. Nhưng cả gia đ́nh không ngờ, con chó đó là cha mẹ của ḿnh, đă tái sanh v́ nhân quả khi cha mẹ c̣n sống đă làm những điều ác giết hại và ăn thịt để nuôi con.

Cho nên, người có con mắt nhân quả nh́n thấu suốt qua hết nghiệp của thân loài động vật th́ không ai c̣n dám đánh đập và ăn thịt chúng sanh nữa.

Loài cá tôm ở dưới sông nước, loài chim ở trên cây, loài gia súc như: gà, vịt, heo, dê, trâu, ḅ, chó, ngựa, v.v.. đều là những người thân thương của ḿnh, họ đang trả nghiệp quả đánh đập, giết hại, ăn thịt loài vật nên tái sanh làm thân loài vật như vậy. Bởi người ta ăn thịt chúng sanh là người ta ăn thịt những người thân của ḿnh.

V́ đời sống của một con người trải qua thời gian bảy, tám chục năm th́ sự giết hại và ăn thịt chúng sanh có tới hàng vạn triệu loài động vật bị giết. Như vậy, nghiệp quả đó phải chịu tái sanh vạn triệu triệu con vật để chịu sự giết hại và loài động vật khác ăn thịt lại, thọ lấy sự đau khổ mà trước kia ḿnh gieo một bây giờ phải trả gấp trăm lần đau khổ đó.

Ví dụ: Bây giờ chúng ta đánh một con vật một roi, con vật đau đớn kêu la, th́ sau này chúng ta trả quả bằng 100 con vật đều bị đánh đau khổ một trăm lần.

Như trên đă dạy, hành động của thân đánh đập và giết hại chúng sanh đó là nẻo đi thứ nhất của lộ tŕnh nhân quả thuộc về thân.

Hành thứ hai của thân là lấy của không cho tức là trộm cắp, cướp giựt của cải người khác, khiến cho người mất của cải khổ sở, đau đớn, buồn rầu đó là hành động đặt sai t́nh thương, đặt hành động thương ḿnh mà làm khổ người, muốn ḿnh ở không (không làm việc) mà có tiền của nhiều, giàu sang, tức là thương ḿnh hại người, làm khổ người.

Trên đời này có bao giờ kẻ trộm cướp, móc túi mà giàu sang bao giờ. Càng tham lam, trộm cắp lại càng ngèo khổ hơn nhiều; đôi khi bị tù tội, gia đ́nh tan nát; đôi khi bị bệnh tật, tai họa, của cải cũng tiêu sạch; đôi khi bị nước trôi, lửa cháy của cải cũng chẳng c̣n ǵ. Tâm tham lam lấy của không cho th́ biết bao nhiêu sự nghèo cùng sẽ đến với họ. Đó là hành động thứ hai nẻo đi của lộ tŕnh nhân quả, thuộc về thân hành.

Hành động thứ ba của thân là dâm dục không đúng chỗ có nghĩa là gian dâm ngoại t́nh với người khác. V́ tâm tham sắc dục mà làm gia đ́nh ḿnh tan nát và gia đ́nh người khổ đau, biến thành con người vô đạo đức, bất nghĩa, là loài cầm thú, trâu, chó, ḅ, dê, v.v.. Đó là hành động của thân thứ ba nẻo đi của lộ tŕnh nhân quả thuộc về thân hành.

Trên đây là ba lối vào của thân trong một lộ tŕnh nhân quả. Nếu ta đặt đạo đức ḷng thương yêu sai hướng th́ trở thành ác pháp khiến cho ta khổ, người khác khổ và trở thành kẻ vô đạo đức, bằng ngược lại chúng ta đặt đạo đức ḷng thương yêu đúng chỗ th́ ác pháp chấm dứt, thiện pháp tăng trưởng, không làm khổ ḿnh, khổ người, khổ chúng sanh th́ ta được an vui hạnh phúc, mọi người cũng như vậy và ta trở thành người có đạo đức, đạo đức nhân bản.

Trên đây, đạo đức của ḷng thương yêu được đặt đúng vào ba vị trí thân hành niệm của lộ tŕnh nhân quả. Như quư vị đă biết đặt sai hướng th́ ác pháp sanh trưởng, c̣n đặt đúng hướng là đạo đức làm Người, làm Thánh. Đây là đường đi của nhân quả trong thân hành niệm. Nếu con người muốn thoát ra khỏi loài cầm thú th́ phải học cách thức đặt t́nh thương cho đúng chỗ trên ba nẻo này cùng về một lộ tŕnh và trên lộ tŕnh này không có một người nào thoát ra khỏi, chỉ có người nhập định hoặc thây ma chết, thân, miệng và ư bất động th́ lộ tŕnh này vô hiệu hóa đối với họ.

Nếu có một tí xíu hoạt động th́ cũng bị luật nhân quả chi phối.

Bây giờ chúng ta tiếp tục học về KHẨU HÀNH. Khẩu hành có bốn nẻo cùng về một lộ tŕnh nhân quả.

Nếu ḷng thương yêu đặt về khẩu hành th́ nẻo xuất phát nó có bốn:

1-       Nói dối.

2-       Nói lời hung dữ.

3-       Nói lời phù phiếm.

4-       Nói lời thêu dệt.

LỜI NÓI DỐI

Lời nói dối là lời nói không thật, không đúng sự thật, nghĩa là lời nói không đi đôi với ư nghĩ và việc làm, lời nói không đúng với sự kiện xảy ra, không đúng với những điều mắt thấy tai nghe.

Lời nói dối c̣n là lời nói vu khống người khác, đổ tội cho người khác khi người ta không có làm tội.

Lời nói dối c̣n là lời nói vu oan giáng họa cho kẻ khác để tạo cảnh khổ đau cho người, để hả ḷng thù hận, căm tức. Đó cũng chỉ v́ chúng ta đặt t́nh thương không đúng chỗ, tức là đặt t́nh thương nơi ḿnh quá nhiều để đi đến đổi thành ích kỷ hại người khác bằng nhiều cách nói dối, vu oan giáng họa, v.v..

Những lời nói dối đó là ác pháp khiến cho người khác và ngay cả thân tâm ḿnh cũng chẳng an ổn v́ luôn sợ hăi người ta phát giác ra được lời nói dối.

Bởi vậy, đạo đức nhân bản - nhân quả không cho phép con người làm những điều này, ai đă dám cả gan làm những điều này th́ ṭa án của luật này sẽ xét xử và không tha thứ cho một kẻ nào hết, nếu kẻ đó không biết chừa bỏ mà đặt sai ḷng thương yêu không đúng chỗ th́ phải lănh đủ bản án rất công bằng và công lư.

Đặt t́nh thương không đúng chỗ tức là tạo ra ác pháp khiến cho ḿnh khổ, người khác khổ.

Ở đây chúng tôi nói về lộ tŕnh nhân quả chứ chưa phải đi sâu vào vấn đề đặt t́nh thương yêu đúng chỗ hoặc không đúng chỗ. Xin hẹn lại nơi mục khác để bàn sâu hơn, c̣n bây giờ chúng ta trở về lộ tŕnh khẩu nghiệp của nhân quả.

Tưởng nói dối là người ta tin ḿnh, được thoát nạn an vui, nhưng không phải vậy. Khi nói dối tâm ḿnh rất lo lắng, không lúc nào an ổn, thanh thản, an vui được, đó là nói dối không hại người, hại ḿnh; c̣n nói dối hại người làm người khác khổ, đó là một điều tội lỗi rất lớn, tức là đặt điều nói xấu kẻ khác, người ta không làm xấu điều đó, ḿnh đặt điều nói xấu để hả ḷng căm tức, thù ghét, ích kỷ nhỏ mọn của ḿnh, không ngờ việc làm đó đă giáng họa cho ḿnh.

Tại Tu Viện Chơn Như chúng tôi đă chứng kiến rất nhiều người, họ đă phạm phải lộ tŕnh nhân quả về khẩu nghiệp, tạo điều bất nghĩa do ḷng thù hận, ích kỷ, nhỏ mọn khi phạm phải những lỗi lầm kỷ luật của Tu Viện hoặc bị trận đ̣n trắc nghiệm sanh tâm thù oán chứ không ngờ đó là để thử thách sự xả tâm của ḿnh để đạt được kết quả tu tập giải thoát.

Do sự vô minh không hiểu của những người đệ tử, họ đă tự tạo ra nhân quả ác nên phải thọ lấy những sự khổ đau vô cùng tận.

Để rồi chúng ta sẽ xem những người học tṛ bất nghĩa đó họ trả những quả ǵ? Họ làm được những ǵ? Con đường tu hành của họ sẽ đi về đâu? Khi họ là những con người thiếu t́nh, thiếu nghĩa, thiếu đạo đức làm người.

Ở đây chúng tôi triển khai đạo đức nhân quả của Đạo Phật, tức là dạy đạo đức nhân bản làm người không làm khổ ḿnh, khổ người. Thế mà, những người vô đạo đức th́ làm sao thoát khỏi luật nhân quả, chúng tôi rất đáng thương cho những người này, họ là những người tu để cầu giải thoát thế mà có duyên bất toại nguyện, họ không thấy chỗ bất toại nguyện đó là chỗ để họ tu tập giải thoát, mà Đức Phật gọi là “chướng ngại pháp”, ngược lại gặp chướng ngại pháp th́ họ sanh tâm thù hận oán ghét, như vậy họ t́m sự giải thoát ở đâu? Nếu không phải ở chỗ bất toại nguyện, bất toại nguyện là ác pháp, nếu không ĺa ác pháp th́ dù họ có tu muôn ngh́n kiếp th́ cũng chẳng bao giờ t́m được sự giải thoát. Trước cảnh này chúng tôi cũng không biết cách nào cứu vớt họ, nếu họ không tự lực từ bỏ những điều ác đó, th́ chắc chắn cuộc đời của họ phải thọ lấy tai ương họa khổ trong gia đ́nh của họ và chính bản thân họ.

Luật Nhân Quả tuy vô h́nh, nhưng người nào đă tự gieo ác pháp th́ phải gặt lấy quả khổ, khổ ḿnh, khổ người. Đó là vô h́nh nhưng xử phạt rất công minh.

Đừng nghĩ rằng nói xấu lén người khác là không có tội, trước mắt chúng tôi đă chứng kiến một số huynh đệ đồng tu theo Đạo Phật, lén nói xấu chúng tôi chuyện không có, đặt có mà nói, nhân quả trước mắt cho chúng tôi đă thấy là họ bệnh đau nhiều cơn hiểm nghèo, có người đă mạng vong trong khi tuổi c̣n rất trẻ, có người phải sống bằng thuốc hàng ngày.

Đừng bảo rằng không có Luật Nhân Quả, đó là sai, cứ suy ngẫm rồi sẽ thấy!

Đặt t́nh thương cho ḿnh nơi lộ tŕnh khẩu nghiệp của nhân quả, tưởng ḿnh nói qua rồi là thoát nạn, an vui c̣n kẻ khác đau khổ th́ mặc kệ họ, nhưng không ngờ khi đặt t́nh thương không đúng chỗ nên sanh ra nhiều ác pháp, do nhân ác “nói dối” th́ hậu quả phải gánh chịu lời nói dối của ḿnh mà không có một người nào tránh khỏi sự công bằng công lư của đạo lực nhân quả này.

 

 

 

 

 

 

 

 

NÓI DỐI MẤT NIỀM TIN CỦA MỌI NGƯỜI

Nói dối sớm muộn ǵ người ta cũng sẽ phát giác ra biết chúng ta nói dối th́ sẽ mất niềm tin của mọi người, từ đó ḷng tin của mọi người đối với chúng ta không c̣n nữa, dù chúng ta có nói thật người ta cũng vẫn không tin. Đó là đặt t́nh thương cho ḿnh không đúng chỗ, đó là tự giết chết ḷng tin của mọi người đối với ḿnh.

Vậy chúng ta hăy đề cao cảnh giác lời nói, “không được nói dối phải nói lời chân thật, c̣n nếu dùng lời nói chân thật mà hại người, th́ nhất định ta dùng lại câu hỏi khác để hỏi lại.

Ví dụ: Có một vị tu sĩ đang ngồi dưới cội cây tu hành, có một nhà vua đi săn, chạy ngang qua hỏi:

-         Ông ngồi đây có thấy một con nai bị tên tôi bắn chạy ngang qua đây không?

-         Thưa Đại Vương nếu đức Vua là một người tu có người hỏi như Đại Vương như vậy th́ Đại Vương trả lời như thế nào?

Một ví dụ nữa: Có một cư sĩ hỏi:

-         Trong chùa có xem ti vi không?

-         Thưa cư sĩ, nếu cư sĩ là một tu sĩ có người hỏi như cư sĩ th́ cư sĩ trả lời sao? Nếu một người tu đúng giới luật có xem ti vi không?

Một ví dụ nữa: Có một người đi mua hàng hỏi chủ tiệm bán hàng. Bà chủ lấy hàng ở nhà máy nào? Nếu bà là người chủ bán hàng có khách hàng hỏi như vậy bà trả lời sao? Nếu bà c̣n muốn giữ được khách hàng.

C̣n những câu hỏi mà ta thấy không có hại th́ ta thấy sao nói vậy, chứ không được nói dối bởi nói chân thật rất khó.

Từ xưa đến giờ biết bao nhiêu người tu theo các tôn giáo họ huyền thoại nhiều câu chuyện khiến cho chúng ta ham mê, nhưng rồi bỏ hết cả một cuộc đời người mà tu hành chẳng ra ǵ, chỉ toàn là nói dối chuyền nhau từ người này đến người khác nên thiền sư Thường Chiếu nói: một con chó sủa cả bầy chó sủa theo”. Đó toàn là đại vọng ngữ.

Bởi lời nói chân thật rất khó, nhưng chúng tôi đă nói thẳng, nói thật th́ các hàng tôn túc ra lệnh cô lập chúng tôi, không cho Phật tử đến thăm tu viện, không cho Phật tử đọc kinh sách của chúng tôi.

Nói thật mất ḷng, nhưng nói thật tuy mất ḷng ít người nhưng có lợi cho hàng vạn triệu tín đồ và nhiều thế hệ con người từ đời này sang đời khác. Do đó, kinh sách chúng tôi nói thật.

Nói thật mất ḷng, v́ cá nhân làm sai không đúng nói thẳng họ tự ái sanh ra thù oán tức giận, đó là nói thẳng làm khổ người mà cũng không ích lợi cho những người khác th́ ta nên tránh không nên nói thẳng nhân. C̣n những điều người này làm sai mà c̣n hại biết bao nhiêu người, tức là làm khổ ḿnh, khổ người và khổ muôn loài chúng sanh th́ chúng ta nói thẳng không sợ mất ḷng v́ có một người khổ mà bao nhiêu người khác không khổ. Trường hợp như chúng tôi nói thẳng về pháp môn Đại thừa và Thiền Đông Độ chỉ có làm khổ một số người cố chấp với pháp môn này, c̣n giải khổ biết bao nhiêu người đang bị lừa đảo bởi những kinh sách này dạy những điều phi đạo đức và mê tín.

Lời nói của ḿnh không c̣n giá trị v́ chẳng c̣n ai tin theo.

Ví dụ như kinh sách Đại thừa và Thiền Đông Độ dạy dă dối gạt người bảo: “Kiến tánh thành Phật, độ hết chúng sanh th́ thành Phật”. Những lời dạy này quư vị cứ suy ngẫm thấy tánh rồi có thành Phật được chưa?

Hiện giờ biết bao nhiêu người đă thấy tánh, nhưng tâm tham sân si vẫn c̣n, một lần nữa kinh sách này đă dối gạt chúng ta: “kiến tánh rồi khởi tu”. Ai nói kiến tánh thành Phật? Ai nói kiến tánh rồi khởi tu? Đây là những lời dối gạt, như vậy c̣n chưa đủ, kinh sách Đại thừa đă dạy chúng ta hủy hoại cơ thể bằng cách cầu pháp vô thượng là phải chặt tay hoặc ngón hoặc đốt ngón tay hoặc tự sát.

“Thân thịt cùng tay chân.

Để cầu đạo vô thượng.

Lại thấy có Bồ tát.

Đầu mắt và thân thể

Đều ưa vui thế cho

Để cầu trí huệ Phật”.

   (Kinh pháp hoa phẩm tựa, trang 29)

Trong giới tín đồ Phật giáo có rất nhiều người đă hủy hoại cơ thể để cầu pháp như: Huệ khả chặt cánh tay dâng lên Bồ ĐĐạt Ma để cầu pháp, sư Trừng Quán chặt ngón tay, sự đệ của chúng tôi, Thầy P.T. chặt một lóng tay. Ở Hóc Môn có chùa Vạn Đức cũng dạy người hủy hoại cơ thể để cầu pháp chặt lóng tay trỏ. Công an ở quận Hốc Môn đă phát giác và kịp thời chận đứng những hành động điên rồ man của những kinh sách dối gạt người.

Trên đây là lời nói dối để gạt con người hủy hoại cơ thể, chúng tôi quan sát và để ư th́ những người này tu hành chẳng tu đến đâu cả, hiện giờ họ chẳng giải thoát mà thêm họ bệnh đau nhiều chứng bệnh rất nguy hiểm, “cao máu đái đường”.

Thật sự những người trên đây dám hy sinh một phần thân thể để cúng dường cầu pháp th́ chứng tỏ ḷng tha thiết tu hành rất nhiệt huyết. Những tà pháp của kinh sách Đại thừa đă dối gạt ḷng nhiệt tâm cầu đạo của Phật tử để rồi v́ cầu pháp và huỷ hoại cơ thể, hủy hoại cơ thể cầu pháp, họ cầu được những ǵ? Để rồi chỉ c̣n một thể h́nh tàn tật khổ đau.

Cũng như không có thế giời siêu h́nh theo tưởng tri của loài người các tôn giáo dựa theo đó dựng lên thế giới siêu h́nh. Thế giới siêu h́nh không có mà kinh sách dạy có thế giới siêu h́nh là một điều dối gạt lừa đảo con người, cái ǵ có th́ nói có, cái không là nói không.

Bởi v́, những điều không có nói có, đó là sự lừa đảo. Các tôn giáo và các nhà tưởng tri bảo rằng năm 2000 là tận thế, lấy những sự thay đổi thời tiết trên hành tinh này như động đất, thủy tai núi lửa cho đó là hiện tượng tận thế khiến cho mọi người trên quả địa cầu này xôn xao khi bước qua đầu thiên niên kỷ thứ III, nhưng ngày tháng dần trôi qua, ngày tận thế đâu không thấy chỉ thấy một sự lừa đảo của các tôn giáo và các nhà tiên tri mà thôi.

Người ta đâu biết rằng luật nhân quả luân hồi thường biến dịch, thế mà ai dám tiên tri cho tương lai là kẻ điên rồ tự dối là mất uy tín.

Sự thật là phải sự thật, cái ǵ gian xảo lừa đảo lần lượt người ta cũng phát hiện ra được. Đối với con người là một loài động vật có trí tuệ, lần lượt nó sẽ lật tẩy mọi sự giả dối của các tôn giáo c̣n nằm trong kinh sách của họ.

Con người dối trá là phải, v́ họ chưa có đạo đức, nhưng các bậc Thánh trong các tôn giáo giảng kinh viết sách lại nói vọng ngữ và lừa đảo người hơn nữa, chuyện không dám đặt ra nói có: như thế giới siêu h́nh không có mà hầu hết các tôn giáo đều nói có.

Học về đạo đức nhân bản - nhân quả mà không rơ đường đi khẩu nghiệp của nhân quả “nói dối th́ làm sao sống đúng đạo đức không nói dối.

cho kinh sách của các bậc Thánh Hiền mà đă nói sai, nói không đúng sự thật, mọi người c̣n u mê ngu muội th́ họ tin, chứ một khi họ đă hiểu được th́ kinh sách đó không c̣n giá trị.

Cho nên, kinh sách Đại thừa và Thiền Đông Độ đừng nói úp mở trừu tượng lừa đảo người, nếu không chứng minh cụ thể bằng những hành động đạo đức rơ ràng của các vị Tổ sư và Thiền sư th́ sớm muộn ǵ người ta cũng phát hiện ra sự dối trá lừa đảo. Đừng nghĩ rằng sử dụng ngôn ngữ khéo léo và những thần thông tưởng và lừa đảo người ta được.

V́ thế, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: Cái ǵ không làm khổ ḿnh, khổ người th́ tin, tức là pháp môn rơ dạy đạo đức bằng sự sống lợi ích cho ḿnh, cho người th́ tin, c̣n ngược lại tất cả mọi pháp điều không tin.

Đạo đức nhân quả xác định rất rơ ràng: “Tin là tin cái ǵ có đạo đức, không có đạo đức nhất định là không tin”, nhưng đạo đức như thế nào ràng mới tin. Tuy cuộc sống có nhiều loại đạo đức:

1-       Đạo đức anh hùng quân tử.

2-       Đạo đức miệng.

3-       Đạo đức lừa đảo.

4-       Đạo đức phi đạo đức.

Trên đây là những loại đạo đức và chúng ta phải đề cao cảnh giác.

Đức Phật dạy chớ có tin, chớ có tin, chớ có tin, ... Thế mà chúng ta ngu si quá độ đụng ǵ tin nấy đến đổi chặt tay đốt ngón tay khiến cho thân h́nh tàn tật. Đó là niềm tin không đúng chỗ.

Tóm lại, lộ tŕnh khẩu nghiệp nhân quả nói dối là một ác pháp cực kỳ tội lỗi từ cuộc sống ngoài đời đến cuộc sống trong đạo mà con người chưa có trí vô hạn nên dễ bị lừa đảo, nhất là các tôn giáo và các nhà bói toán chiêm tinh.

Đang soạn thảo giáo tŕnh đạo đức nhân bản - nhân quả th́ chúng tôi nhận được một bức thư từ Phan Rang gởi vào, Minh Pháp hỏi đạo nhân quả.

Phan Rang ngày 24 - 4 -2000.

Kính bạch Thầy!

Kính thưa cô Diệu Quang!

Đời người không ai biết cái chết xảy đến cho ta, ngoại trừ các vị Thánh tu hành chứng đắc.

Gia đ́nh con vừa mất một người chị thân thương, vĩnh viễn xa rời những người thân yêu tái sanh nơi chốn thiện ác do tích lũy thiện ác ở đời, nhưng nào ai biết về đâu? Cha mẹ già yếu tưởng chừng sẽ mất trước con trẻ, nào ngờ nhân quả thiện ác thím mạng trẻ chết trước già.

Nguyên chị con bị chết đâu do tay con rể về cố ư chém người cháu nhầm mẹ vợ (ban đầu vùng này chưa có điện, nên thấy không rơ mặt người).

Gia đ́nh và cha mẹ quá đau đớn cái chết bất ngờ, người không bệnh nan y trước cảnh đau ḷng này. Con không giải thích được đường đi của nhân quả liên quan nhiều sự việc dẫn đến án mạng. Có người cho mẹ vợ có ân oán với chàng rể ở quá khứ nay kết duyên rể con để trả nợ xương máu.

Theo con hiểu khi con người ta nổi giận, lúc bấy giờ mất hết b́nh tĩnh sáng suốt, tâm sân hận sôi sục, ác quỷ vô minh xâm chiếm cả tâm hồn, mất lư trí, cho nên làm theo bản năng thú tính, không chút thương xót và sợ hăi.

Nhân khổ ḿnh.

Sân: Cầm dao chém người, gây gỗ hàng xóm. Thường cầm dao uy hiếp người khác (thói quen) ở tù.

Quả khổ người.

Án mạng: Chắc chắn sẽ có ấu đả: bị thương chết, nằm bệnh viện.

Chị con con trước đây từ bỏ con rể v́ tính hung ác của cậu ta, nên không quan tâm chuyện gây gỗ với hàng xóm nữa.

Ngay sự việc xảy ra có liên hệ giữa con trai nên chạy theo can gián v́:

-         Thương con, độ con bị đánh nhầm (Ái kiết sử)?

-         Nhân ác quá khứ trổ quả nghiệp lực thúc đẩy?

Nếu chị có tu tập tỉnh giác th́ có đủ b́nh tĩnh biến sự việc dữ thành lành th́ có thể qua khỏi nghiệp ác trổ quả không mất mạng? Theo tư duy của chúng con như vậy có đúng không thưa Thầy và cô Diệu Quang? C̣n giải thích nhân quả hiện tại (thực tế dễ tin), nhân quả quá khứ đời trước (Nói thế nào mà họ tin v́ con người đời nay có người cho là rủi ro không nhân quả, đời quá khứ vị lai chấp đoạn, kiếp chết là hết).

Vậy th́ nhân quả thiện ác nghiệp báo luân hồi, chúng ta giải thích như thế nào cho anh em đều hiểu thực hành trong đời sống tránh ác làm thiện mà Thầy thường nhắc nhở chúng con. Đại thừa giáo giải thích nhân quả có ư dọa nạt mơ hồ, không thực tế rơ ràng.

Kính xin Thầy và cô Diệu Quang chỉ dạy cho chúng con được tận tường nhân quả nghiệp báo luân hồi. Mỗi lá thư mà Thầy đă gởi do giải thích thắc mắc của các huynh đệ đến được nhóm phô tô chia nhau mỗi người một bản làm tài liệu học tập và thực hành.

--o0o--

NHÂN QUẢ QUÁ KHỨ
LÀ NỀN TẢNG
CHO NHÂN QUẢ HIỆN TẠI

Chơn như ngày 26 - 4 - 2000.

Kính gởi Minh Pháp!

Nếu học về đạo đức nhân bản - nhân quả mà không hiểu được nhân quả nghiệp báo luân hồi mà cứ giải thích theo tưởng giải của các nhà học giả Đại thừa th́ mơ hồ trừu tượng thiếu thực tế không cụ thể, phần nhiều là những câu chuyện huyền thoại cảnh giới siêu h́nh địa ngục để lừa đảo con người cúng tế, cầu phước, cầu an cầu siêu, v.v..

Trong bức thư này có câu: thương con độ con bị đánh nhầm (Ái kiết sử), câu này đúng. V́ ái kiết sử khiến tâm mê mờ, đặt t́nh thương không đúng không gian và thời gian, không thấy hiện tướng nhân quả đang diễn biến sôi động từng giây phút (sát na), nên tiến vào hiện tướng nhân quả tăng trưởng ác pháp như lửa gặp gió, nên án mạng dễ dàng xảy ra.

Câu 2: Nhân quá khứ trả quả nghiệp lực thúc đẩy”, câu này hiện theo tưởng giải của các nhà Đại thừa, nên mơ hồ trừu tượng, sai không đúng. Nếu cho nhân ác quá khứ trả quả th́ nó là luật nhân quả định mệnh hay mệnh định chứ không phải là luật nhân quả của Đạo Phật. Th́ như vậy nhân quả không thể chuyển được, mà nhân ác quá khứ trổ quả th́ con người ở thế gian này không có giải thoát được mà phải chịu số mệnh và như vậy Đạo Phật không có ra đời v́ có ra đời cũng không giải quyết sự đau khổ của loài người.

Biết rằng nhân quả có quá khứ và vị lai, nhưng trí hữu hạn của chúng ta chưa đủ để hiểu, nếu chúng ta muốn hiểu th́ thành ra tưởng tri, mà tưởng tri hiểu thành ra mơ hồ trừu tượng, thiếu thực tế và không thể hiểu đúng được.

Hiểu nhân quả là phải hiểu với trí hữu hạn mà chúng ta đă có sẵn, đừng hiểu theo trí tưởng tượng mà thành ra không thực tế. Nhưng lư luận nhân quả của con trong thư là thực tế nhưng chưa được cụ thể lắm và những câu sai Thầy sẽ giúp thêm để các con nhận rơ hơn.

Luận về nhân quả là phải luận về nhân quả hiện tại th́ mọi người không có nghi ngờ v́ nhân ở đâu th́ quả phải ở đó liền, ai ai cũng nhận ra rơ ràng v́ rất cụ thể nên ai cũng phải tin. C̣n luận về nhân quả quá khứ nối tiếp với nhân quả hiện tại như các nhà Đại thừa ở trong thấy tàng thức th́ những người có kiến thức họ không tin. Bởi v́, chúng ta c̣n trí hữu hạn chưa phải là trí vô hạn th́ chúng ta đừng nên hiểu do kiếp trước giết người mà kiếp này người giết lại, mà phải hiểu nhân quả quá khứ là những duyên để gặp nhau ở kiếp này, nói rơ hơn nhân quả quá khứ là mảnh đất để cho nhân quả hiện tại sanh sôi nảy nở ra bông kết quả. C̣n cay đắng, ngọt bùi là do trí tuệ con người gieo hạt giống hiện tại, nếu hạt giống hiện tại thiện th́ quả phải lành, nếu hạt giống hiện tại ác th́ quả phải khổ đau. Cho nên, từ xưa đến nay người ta luận về nhân quả mơ hồ trừu tượng theo kiểu Đại thừa, người có đầu óc khoa học thực tế họ không tin.

Nhân quá khứ mà quả hiện tại có nghĩa là nhân đời trước mà quả đời nay, luận như vậy có vẻ mơ hồ không thực tế, người ta khó tin. Và nếu nhân ở đời trước mà quả ở đời hiện tại th́ người tu theo Đạo Phật không thể chuyển hóa nhân quả được, hay nói cách khác là không thể làm chủ sanh, già, bnh, chết và như vậy th́ Đạo Phật không có ra đời như trước chúng tôi đă nói.

Ví dụ: nhân là hạt chanh ở quá khứ đă gieo rồi th́ quả là trái chanh chua ở hiện tại. Như vậy, chúng ta làm sao chuyển được mà phải ăn trái chanh chua.

Luận theo nhân quả như vậy là sai. Bởi v́ luận như vậy là nhân quả có sự cố định, do đó người ta mới đẻ ra luật định mệnh như câu chuyện Bách Trượng Dă Hồ và câu chuyện vua Lưu Ly.

Cho nên, định luật số mệnh không đúng, v́ luật nhân quả luân hồi gắn liền trong kiếp hiện tại c̣n nhân quả ở quá khứ, kiếp khác nối tiếp kiếp với hiện tại th́ nhân quả quá khứ chỉ là mảnh đất mà thôi.

Ví dụ: nhân quả quá khứ kiếp trước là các duyên anh em cha mẹ ḍng họ thân bằng quyến thuộc con cái, cḥm xóm láng giềng, đó là mảnh đất nhân quả quá khứ.

Trên mảnh đất nhân quả quá khứ này, mặc t́nh ai muốn gieo hạt giống hiện tại tùy ư, nếu hạt giống ngọt th́ sanh trái ngọt, hạt giống đắng th́ sanh trái đắng.

Ví dụ: Có một người mở miệng mắng chửi người khác, người đang mắng chửi đă có nhân quả trong hiện tại đầy đủ. Mở miệng mắng chửi tức là có nhân và quả trong ư, suy nghĩ là nhân tức giận là quả, mở miệng mắng người là nhân, la hét tức tối hao hơi tổn tiếng là quả, múa tay múa chân là nhân, cơ thể mệt mỏi là quả.

Con người ở đời không có đạo đức nhân quả nhân bản nên mọi việc xảy ra rất đau ḷng. Trường hợp như gia đ́nh con, chị con bị đâm chết, c̣n biết bao nhiêu trường hợp xảy ra cay đắng phủ phàng như báo chí đă đăng tin, một người anh giết em, mẹ và cha mà là người có học thức đại học chứ không phải là người thiếu học thế mà chỉ v́ đạo đức nhân quả nhân bản không có.

Hằng ngày trên hành tinh này, đă biết bao nhiêu sự kiện xảy ra đau ḷng, chỉ v́ loài người không có đạo đức nhân bản - nhân quả nên đă xâu xé giết nhau hơn loài ác thú.

Sự việc xảy ra trong gia đ́nh con là một sự việc đau ḷng trong muôn ngàn sự việc đau ḷng đang liên tục xảy ra khắp nơi trên hành tinh này, chứ không phải chỉ riêng có gia đ́nh con đâu.

V́ lợi ích cho con người trên hành tinh này, v́ ngăn chặn mọi sự xảy ra đau ḷng cho con người, Thầy đang soạn thảo giáo tŕnh đạo đức nhân bản - nhân quả. Mong rằng đạo đức của Phật giáo ra đời sẽ chuyển hoá được những sự đau khổ này, biến cảnh sống thế gian thành cơi Cực Lạc, Thiên Đàng, đó là một điều ước nguyện của Thầy.

Vậy các con hăy cố gắng tu tập học hỏi đạo đức nhân quả nhân bản, không làm khổ ḿnh, khổ người, tức là ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện và luôn luôn nhớ lời khuyên răn của Đức Phật: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”.

1/       Câu chuyện thứ nhất, Bách Trượng Dă Hồ:

Sau buổi thuyết giảng của thiền sư Bách Trượng, tất cả chúng điều ra về chỉ c̣n lại một ông già, dường như muốn hỏi tổ Bách Trượng một điều ǵ nhưng c̣n ngán ngại. Tổ Bách Trượng biết được ư mới hỏi:

-         Sao giờ này ông chưa về?

Ông lăo đáp:

-         “Kính bạch Ḥa thượng, con có một điều nghi ngờ Ḥa thượng giải đáp dùm”.

-         Cứ hỏi!

-         Kính bạch Ḥa thượng cách đây 500 năm con cũng là một vị tu sĩ trong hàng giáo phẩm Thượng tọa, có người hỏi con: “Bậc đại tu hành có bị lực nhân quả hại không?”. Con đáp: “Bậc Đại tu hành không bị lực nhân quả”, lời đáp này không đúng nên con bị tái sanh làm loài chồn tinh ở sau chùa. Do công phu tu hành con đă biến được thành người, nhưng câu hỏi năm xưa con c̣n nghi ngờ không biết phải trả lời như thế nào đúng. Vậy ngưỡng mong ḥa Thượng từ bi giải đáp nghi ngờ cho con.

Tổ Bách Trượng đáp:

-         Chẳng mê muội nhân quả.

Ông lăo quỳ xuống đănh lễ Tổ và nói: Mang ơn Ḥa Thượng làm lễ trà tỳ cho con, ngày mai con đă hết kiếp làm thân chồn”.

Câu chuyện này tổ sư Thiền tông đă xác định luật nhân quả định mệnh, chớ không phải luật nhân quả của đạo Phật, tức là luật nhân quả của Bà la môn. Câu chuyện này có nghĩa là người tu chứng cũng không làm chủ được nhân quả.

2/       Câu chuyện thứ hai của vua Lưu Ly.

Nơi ḍng họ thích Ca ở có một ao cá rất  lớn, ḍng họ thích Ca xúm nhau tát cạn ao và bắt cá ăn thịt. Lúc bấy giờ Đức Phật c̣n bé, Ngài không ăn cá mà chỉ lấy cái đầu cá lớn nhất ném chơi, do đó quả ác quá khứ trổ nở, vua lưu ly đem quân về sát phạt giết sạch ḍng họ Thích Ca, lúc bấy giờ Đức Phật không ăn thịt nhưng v́ ném đầu cá chơi nên vẫn phải bị nhức đầu ba lần.

Nguyên nhân nào vua Lưu Ly sát phạt ḍng họ Thích Ca?

Vua lưu ly là ḍng họ cháu ngoại của Đức Phật Thích Ca, lúc c̣n bé Ngài về chơi quê ngoại, thấy một bộ đài đẹp đẽ, mới trèo lên ngồi chơi, ḍng họ Thích Ca thấy vậy mới lôi ngài xuống cho một trận đ̣n, v́ bộ đài đó ḍng họ Thích ca xây lên dành riêng cho Đức Phật thuyết pháp.

Trong hai câu chuyện nhân quả chúng ta phán xét.

Câu chuyện thứ nhất: Bách Trượng Dă Hồ, trong kiếp quá khứ do không biết, tạo nhân nói vọng ngữ nên phải chịu quả trong các kiếp hiện tại làm thân chồn hoang, câu chuyện nhân quả do Thiền tông bịa đặt mơ hồ hoang đường không đúng tin cậy.

Câu chuyện nhân quả thứ hai: Vua Lưu Ly nhận diện tiền kiếp tát ao cá ăn thịt và liệng đầu cá chơi, mơ hồ trừu tượng không đáng tin.

Vua Lưu Ly bị đánh, nhân hiện kiếp làm khổ người.

Bị sát phạt quả hiện kiếp làm khổ ḿnh.

Nhân quả trong hiện kiếp thực tế và cụ thể.

Nếu ḍng họ Thích Ca có học đạo đức nhân bản - nhân quả th́ không tạo nhân ác đánh vua Lưu Ly và vua Lưu Ly không bị đánh th́ làm sao có thù oán mà giết cả ḍng họ Thích Ca.

Câu chuyện vua Lưu Ly trong kinh Nguyên Thủy là câu chuyện nhân quả hiện kiếp trong hiện tại là có thật, c̣n nhận diện tiền kiếp như trong kinh sách Đại thừa và Bổn Sanh là sai v́ đó là chịu ảnh hưởng nhân quả của giáo pháp Vê Đà thuộc Bà La Môn. Cho nên, kinh Bổn Sanh là những kinh sách không đáng cho chúng ta tin tưởng mặc dù mọi người đều cho nó là kinh sách Nguyên Thủy, nhưng sự thật kinh này do người sau biên soạn và đưa vào với mục đích là gây mâu thuẫn trong giáo pháp của Đức Phật, cho nên đọc kinh sách Đại thừa và kinh sách Nguyên Thủy chúng ta thấy có nhiều mâu thuẫn.

Câu chuyện tiền thân của Đức Phật là câu chuyện ngụ ngôn dân gian Ấn Độ. thế, năm bộ kinh Nikaya thuộc tạng kinh Pali chỉ có bốn bộ là đáng tin cậy như: Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi, Tương Ưng c̣n Tiểu Bộ th́ không đáng tin tưởng.

Nhân hiện kiếp Vua Lưu Ly bị đánh. Khi vua Lưu Ly đem quân trở về sát phạt ḍng họ Thích là quả hiện kiếp.

C̣n Đức Phật nhức đầu là quả, c̣n nhân ném đầu cá chơi trong kiếp quá khứ là mơ hồ trừu tượng không đáng tin cậy, nhưng quá khứ trong kiếp hiện tại là đúng v́ thực tế cụ thể nhân quả trong hiện kiếp. Đó là luận theo kiểu Đại thừa Bà La môn.

Cho nên, chuyện tiền thân là chuyện không đúng, đừng tin chuyện bịa đặt của người sau.

--o0o--

Nói dối có bốn điều bất lợi:

1-       Nói dối hại ḿnh, tức là làm mất uy tín mất sự tín nhiệm của mọi người.

2-       Nói dối hại người tức là vu khống, nói xấu nói thiêu dệt người khác.

3-       Nói dối hại ḿnh, hại người tức là nói oan cho người khác khiến họ khổ đau, và tâm ḿnh cũng bất an v́ sợ người ta phát hiện và trả thù.

4-       Nói dối không hại ḿnh, không hại người điều này không có.

Nói dối là một ác pháp th́ không thể nào có sự yên tâm an ổn được. Cho nên, nói dối nhất định chúng ta sẽ không nói, dù chết cũng không nói, chỉ có làm thinh hoặc dùng câu hỏi ngược lại để tránh nói thật mà có hại cho ḿnh, cho người.

C̣n nói dối có lợi cho ḿnh mà hại người, làm khổ người nhất định chết ta cũng không nói, v́ đó là thương ḿnh hại ḿnh, lại đặt t́nh thương không đúng chỗ.

C̣n nói dối có lợi cho ḿnh, cho người th́ không bao giờ có, v́ đă nói dối tức là hại ḿnh, đó cũng là đặt t́nh thương không đúng chỗ.

Nói dối không hại ḿnh, không hại người th́ điều này không bao giờ có, v́ đă nói dối tức là hại ḿnh, lương tâm ḿnh đă biết rơ ḿnh đă nói dối th́ nó không cho chép tâm ḿnh an ổn được, khi nói dối mà người khác biết th́ tâm hồn bất an, nó vẫn thấy áy náy trong ḷng, mặc dù lời nói dối đó không hại ai hết, nhưng tâm người nói dối phải tự thấy xấu hổ, khó chịu. Chỉ có những người nói láo như ăn cơm bữa đă thành thói quen, mặt chai mày đá th́ mới không thấy xấu hổ và khó chịu.

V́ thế, nói dối là một pháp ác trong Thập ác của Đạo Phật. Đă là pháp ác th́ phải có tội, tội nó là ǵ?

Tội nhẹ nhất của nó là lương tâm cắn rứt xấu hổ, tâm hồn bất an, sống trong sự áy náy. Và tội nặng nhất là bị pháp luật thế gian kết tội lừa đảo lường gạt kẻ khác, những tội này có khi bị tù tội giam cầm và cũng có khi bị tử h́nh như Tân Trường Sanh và Minh Phụng, v.v..

....

(chưa xong ...)

 

 

 

GIỚI THIỆU SÁCH

1.    Đường về xứ Phật (Mười tập, bộ mới).

2.    Những lời gốc Phật dạy (4 tập, bộ mới - 2011).

3.    Văn hóa Phật giáo truyền thống (2 tập, bộ mới - 2011).

4.    Đạo đức làm người (Tập I, II...).

5.    Cẩm nang tu Phật (Hai tập).

6.    Thiền căn bản.

7.    Hành thập thiện & Tứ vô lượng tâm.

8.    Những chặng đường tu học của người cư sĩ.

9.    Thời khóa tu tập trong thời đức Phật.

10. Giáo án rèn nhân cách lớp Ngũ Giới: Đức Hiếu Sinh (Tập I, II, III).

11. Giáo án rèn nhân cách lớp Ngũ Giới: Đức Ly Tham (Tập I...).

12. Giáo án rèn nhân cách lớp Ngũ Giới: Đạo Đức Gia Đ́nh (Tập I...).

13. Mười Đức Thánh Sa Di (Tập I, II).

14. Giới đức Thánh Tăng, Thánh Ni.

15. Định niệm hơi thở.

16. Phật giáo có đường lối riêng biệt.

17. Pháp môn niệm Phật tứ bất hoại tịnh

18. Nghi thức thọ trai.

19. Những lời tâm huyết...

20. Mười hai cửa vào đạo (2009).

21. Tạo duyên giáo hóa chúng sinh (mới 2009).

22. Ḷng yêu thương (2009).

23. Linh hồn không có (2010 quư I).

24. Muốn chứng đạo phải tu pháp môn  nào? (2010)

25. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (2010).

26. Giới đức làm người - 2 tập (bộ mới - 2010).

27. Lịch sử chùa Am (bộ mới - 2010).

28. Linh hồn không có - tái bản lần I (2010 quư IV).

29. Sống một ḿnh như con Tê Ngưu (2010)

30. Thanh qui Tu viện Chơn Như (2010)

31. Ḷng yêu thương - tập 2 (2011 quư I)

 

 

Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Ấn bản điện tử được đăng tải tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

PHẬT TỬ XIN ẤN TỐNG SÁCH
“ĐẠO ĐỨC NHÂN QUẢ - TẬP I”

 

-      Phật tử Hà Nội

-      Phật tử Thái Nguyên, Bắc Giang

-      Phật tử Hải Pḥng, Hải Dương

-      Phật tử Bắc Ninh

-      Phật tử Quảng Ninh

-      Phật tử Hà Nam, Nam Định, Ninh B́nh

-      Phật tử Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

-      Phật tử Đồng Hới, Quảng B́nh

-      Phật tử Phú Yên

-      Phật tử Đà Nẵng

-      Phật tử Huế Thừa Thiên

-      Phật tử Ninh Thuận

-      Phật tử Nha Trang, Khánh Ḥa

-      Phật tử B́nh Phước

-      Phật tử Lâm Đồng, Đà Lạt

-      Phật tử TP Hồ Chí Minh

-      Phật tử Đồng Nai

-      Phật tử Cần Thơ

-      Phật tử Đồng Tháp

-      Phật tử Châu Đốc, An Giang

-      Phật tử Cái Bè, Cai Lậy

-      Phật tử Long An

-      Phật tử Tây Ninh

-      Phật tử Tiền Giang, Mỹ Tho, Bến Tre

-      Phật tử Sóc Trăng, Bạc Liêu

-      Phật tử Kiên Giang

-      Phật tử Cà Mau, Nam Căn

-      Phật tử Bà Rịa - Vũng Tàu

-      Phật tử Phước Hải, Long Đất

-      Phật tử Hóc Môn, Bà Điểm

-      Phật tử Củ Chi, Gia Định

-      Phật tử B́nh Dương

-      Phật tử G̣ Dầu, Bến Cầu

-      Phật tử Tra Vỏ, Giang Tân

-      Phật tử Cẩm Giang

-      Phật tử Phước Hiệp

-      Phật tử Gia B́nh, Bàu Tre

-      Phật tử B́nh Lái, Lái Thiêu

 



[1] - Cốc là một cḥi tranh lá nhỏ vừa một người ở.